Sáng kiến kinh nghiệm: Giúp HS học tốt môn Toán lớp 2 - Pdf 27

A-Đặt vấn đề
I. Bối cảnh của đề tài:
Chương trình toán của tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Toán học
góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân
cách học sinh. Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về số học, các số
tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản, giải toán có lời văn ứng dụng thiết
thực trong đời sống và một số yếu tố hình học đơn giản.
Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng
hoá, khái quán hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển
hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, suy luận đơn giản, góp phần
rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo.
Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn toán.
Môn này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên
cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và
lao động của con người. Môn toán là ''chìa khoá'' mở của cho tất cả các ngành khoa
học khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới. Vì vậy, môn
toán là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, đây là những tri thức, kỹ năng
vừa đáp ứng cho phát triển trí tuệ, óc thông minh, sáng tạo, vừa đáp ứng cho việc ứng
dụng thiết thực trong cuộc sống hàng ngày, để các em trở thành những người có ích
cho xã hội.
Trong dạy - học toán ở lớp 2, việc cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 chiếm
một vị trí quan trọng. Có thể coi việc dạy - học và cộng trừ là '' hòn đá thử vàng''.
II- Lí do chọn đề tài:
Xuất phát từ thực tiễn triển khai thực hiện chương trình và các bộ môn học lớp 2
theo chương trình do bộ trưởng bộ Giáo dục và đào tạo ban hành mà ngành giáo dục
và đào tạo hiện nay đang được toàn xã hội quan tâm ở mức cao nhất về nội dung
chương trình, chất lượng dạy học.
Chất lượng giáo dục đào tạo trong các nhà trường đã được nâng cao lên song vẫn
còn hạn chế : học sinh chưa khai thác hết khả năng tiềm ẩn trong nội dung bài học để
từ đó tìm ra chìa khoá giải quyết vấn đề .
Đối với giáo viên thời gian gần đây đã được tham gia các lớp học bồi dưỡng thay

Các khái niệm và các quy tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được
giảng dạy thông qua việc hai phép tính cộng, trừ. Giúp học sinh củng cố, vận dụng
các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc thực hiện phép tính
cộng, trừ của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc
thiếu sót của các em về kiến thức, kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy những
ưu điểm khắc phục thiếu sót.
Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông
qua việc cho học sinh tính toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp
giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời
sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống.
Việc tính toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những cơ
sở ban đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan duy vật biện
chứng.
Việc tính toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư
duy và những đức tính tốt của con người lao động mới. Khi giải một bài toán, tư duy
của học sinh phải hoạt động một cách tích cực. Hoạt động trí tuệ có trong việc giải
toán góp phần giáo dục cho các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo làm
việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công
việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo v.v
II. Thực trạng của vấn đề:
Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của tiết dạy, tăng cường luyện tập thực hành ,
hình thành kĩ năng toán học cho học sinh , song việc khuyến khích học sinh tính bằng
nhiều cách, lựa chọn cách tính còn hạn chế. Học sinh thuộc bảng cộng trừ , nắm được
thuật tính, chưa thấy được sự đa dạng phong phú của các bài tập , khả năng vận dụng
cộng trừ nhẩm trong đòi sống chậm .
III. Những biện pháp pháp thực hiện :
Đơn vị cơ bản của quá trình dạy học là các tiết dạy vì vậy trong uqá trình dạy học
giáo viên phải nghĩ đến từng tiết học .Bất cứ tiết học nào cũng có một số bài tập để
củng cố , thực hành trực tiếp các kiến thức mới, giáo viên vừa giúp học sinh nắm
chắc kiến thức kĩ năng cơ bản nhất vừa hình thành được phương pháp học tập cho các

9+2=
9+3=
9+4=

9+9=
+ Cách 1”
Học sinh tự tìm ra kết quả bằng các thao tác trên que tính .
+ Cách 2:
Cho học sinh nhận xét về các phép tính ? ( số hạng thứ nhất của các phép tính đều là
9) khi cộng 9 với một số tách 1 ở số sau để có 9 +1 = 10 cộng với số còn lại của số
sau rồi tính nhẩm . Với cách này học sinh khắc sâu kiến thức, tránh lạm dụng đồ
dùng trực quan.
Học thuộc công thức cũng chỉ là bước đầu chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên giúp học
sinh nhận ra: học không phải chỉ để biết mà học còn để làm, để vận dụng. Thông qua
hệ thống bài tập học sinh biết cách vận dụng những kiến thức cơ bản đã học để làm
bài, giáo viên khuyến khích học sinh tìm kết quả bằng nhiều cách , nhận xét đưa ra
cách giải nhanh nhất.
+ Chẳng hạn:
Bài tập 1: Tính nhẩm trang 15
9+3= 9+6= 9+8 = 9+7= 9+4= 3+9= 6+9= 8+9= 7+9= 4+9=
+ Cách 1: Trên cơ sở học thuộc bảng cộng học sinh tự tìm ra kết quả ở mỗi phép
tính.
+ Cách 2: Dựa vào cách tính nhẩm học sinh tự nêu kết quả rồi đọc (chẳng hạn : 9+1
=10, 10 +2 =12)
- Diền ngay 9+3=12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không
thay đổi)
- Bài tập 3 Tính (trang 15)
9+6+3= 9+9+1= 9+4+2= 9+5+3=
- Giáo viên yêu cầu học sinh chọn phương pháp giải, chẳng hạn : 9+9 +1 =18 +1
=19

- Hướng dãn thực hiện các thao tác
11-5 =(11+5)-(5+5)
= 16 - 10 = 6
- Phát hiện cách trừ nhẩm : muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ: khi thêm vào số
trừ bao nhiêu đơn vị để số đó tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị.
+ Bài tập 1: Tính nhẩm trang 48
9+2= 8+3= 7+4= 6+5= 2+9= 3+8= 4+7= 5+6=
11-9= 11-2= 11-8= 11-3= 11-7= 11-4= 11-5= 11-6=
- Cách 1 : trên cơ sở thuộc bảng cộng trừ học sinh tự tìm ra kết quả mỗi phép tính
- Cách 2: Dựa vào kiến thức đã học học sinh có thể điền ngay 9 +2 = 11 ; 2 +9 =11
Còn 11-9 ; 11-2, cần được đặt trong mối quan hệ với phép cộng 9 +2=11; 2+9 =11
và cách tìm một số hạng khi biết số hạng kia và tổng. Các cột còn lại thực hiện tương
tự.
Dựa vào cách tính nhẩm bài 11-5, học sinh vận dụng tính nhẩm trong các bài tiếp
theo.
+ Bài 31-5
- Cách 1 Đặt tính 31-5 =?
31 *1 không trừ được 5 lấy 11 trừ 5 bằng 6 viết 6 nhớ 1
- 5
26 *3 trừ 1 bằng 2 viết 2
- Cách 2 tính nhẩm
31-5 =(31+5) -(5+5)=
36 - 10 = 26
+ Bài 51-15
- Cách 1 (SGK) 51 -15=?
52 *1 không trừ được 5 lấy 11-5 bằng 6 viết 6 nhớ 1.
-15 *1 thêm 1 bằng 2, 5 trừ 2 bằng 3, viết 3
36
- Cách 2 tính nhẩm:
51-15 =(51+5) -(15+5)=

II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
Những kết quả mà chúng tôi đã thu được trong quá trình nghiên cứu không
phải là cái mới so với kiến thức chung về môn toán ở bậc tiểu học, song lại là cái mới
đối với tổ khối 2. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã phát hiện và rút ra nhiều
điều lý thú về nội dung và phương pháp dạy học môn toán có lời văn ở bậc tiểu học
nói chung và ở lớp 2 nói riêng. Chúng tôi cảm thấy mình được bồi dưỡng thêm lòng
kiên trì, nhẫn nại, sự ham muốn, say xưa với việc giảng dạy. Tuy nhiên đề tài này của
chúng tôi là giai đoạn đầu nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học nên không thể tránh
khỏi những khiếm khuyết. Chúng tôi mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của các
thầy cô giáo, của các bạn đồng nghiệp.
III. Khả năng ứng dụng triển khai:
Qua thời gian nghiên cứu, đồng thời áp dụng trong thực tế giảng dạy trên lớp,
chúng tôi nhận thấy đề tài có thể áp bước đầu trong khối lớp 2 và có thể nhân rộng ra
ở các khối lớp khác đặc biệt là khối 3.
Qua cách dạy đã nêu trên đây, so với các lớp học theo chỉ dẫn của sách giáo
khoa và sách giáo viên, tôi nhận thấy học sinh dễ hiểu bài hơn, dễ áp dụng hơn. Qua
kết quả học tập của học sinh lớp 2, các đồng nghiệp trong khối cũng nhận thấy cách
hướng dẫn trên là hay và có hiệu quả.
Nếu tính khả thi cao có thể áp dụng trong cụm chuyên môn bằng hình thức báo
cáo chuyên đề, thao giảng … để chúng tôi cùng với các anh chị đồng nghiệp ở các
trường bạn rút kinh nghiệm, giúp đề tài ngày càng hoàn thiện hơn, tính khả thi ngày
càng được nâng cao hơn.
II. Một số kiến nghị, đề xuất:
Qua thực tế giảng dạy môn toán ở Trường tiểu học nói chung và lớp 2 nói
riêng, chúng tôi thấy người giáo viên phải luôn luôn tìm tòi học hỏi, trau dồi kinh
nghiệm để nâng cao trình độ nghiệp vụ.
Giáo viên phải luôn đổi mới phương pháp dạy bằng nhiều hình thức như: trò
chơi, đố vui phù hợp với đối tượng học sinh của mình: " Lấy học sinh để hướng
vào hoạt động học, thầy là người hướng dẫn, tổ chức, trò nhận thức chủ động trong
việc tính toán ''.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status