Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp là một cột mốc quan trọng đánh dầu sự kết thúc của một
chặng đường và mở ra một chặng đường mới hướng tới tương lai tươi sáng. Trong
suốt chặng đường gian khó vừa qua, tôi may mắn nhận được rất nhiều sự yêu thương,
sẻ chia và sự giúp đỡ của gia đình, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp tại đơn vị thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn những người đã đồng hành cùng tôi trong quãng thời gian
qua.Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn của mình đến quý thầy cô khoa Marketing,
những thầy cô đã trao cho tôi hành trang kiến thức và kỹ năng vô cùng quý giá, không
những giúp cho việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp này mà còn cho con đường nghề
nghiệp của tôi trong tương lai.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Giáo viên hướng dẫn – ThS. Nguyễn Thị
Đông, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành báo cáo thực
tập và luận văn. Cảm ơn cô đã chỉ bảo tận tình và luôn động viên em để hoàn thành
luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc công ty cổ phần chứng khoán đầu
tư Việt Nam , đặc biệt là các anh chị tại bộ phận môi giới, đã tạo điều kiện tốt nhất cho
tôi cũng như hướng dẫn tôi các kiến thức chuyên ngành phục vụ cho luận văn này.
Tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp
đỡ tôi vượt qua những thử thách, khó khăn trong thời gian này.
Cuối cùng, tôi xin hứa sẽ sử dụng thật tốt kiến thức của mình và luôn cố gắng hết
mình trong công việc, đó cũng là lời cảm ơn thiết thực và ý nghĩa nhất gửi đến tất cả
những người đã yêu thương và tin tưởng tôi.
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
MỤC LỤC
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 2
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
1. Lý do hình thành đề tài
Thương hiệu là một nhân tố quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết để một công
ty đứng vững trên thị trường và phát triển manh mẽ. Ngày nay, với việc nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng của thương hiệu, các công ty đã tự xây dựng cho mình
một thương hiệu để khẳng định vị thế trên thị trường và mong muốn tìm sự tín nhiệm
của khách hàng thông qua thương hiệu của mình. Tuy nhiên, quá nhiều nhà lãnh đạo
cho rằng chỉ cần có một thương hiệu tốt, sản phẩm dù chất lượng không tốt cũng có
thể bán chạy. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm, bởi một thương hiệu tốt mà chất
lượng sản phẩm không tốt không những không mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà
còn làm tổn hại đến thương hiệu của mình. Ngược lại, một sản phẩm có chất lượng tốt
mà không có thương hiệu tốt thì sản phẩm đó cũng khó có thể bán chạy. Như vậy, mối
liên hệ giữa thương hiệu và chất lượng là một mối qua hệ hỗ trợ lẫn nhau, cần thiết và
vô cùng quan trọng.
Có nhiều cách để xây dựng một thương hiệu mạnh, tuy nhiên, điều cốt lõi vẫn là
hoàn hiện được chất lượng sản phẩm / dịch vụ của mình để thỏa mãn được nhu cầu sử
dụng của người tiêu dùng. Đối với một công ty chuyên về dịch vụ mà điển hình như
công ty cổ phần chứng khoán đầu tư Việt Nam mà nói thì sự cần thiết của việc nâng
cao chất lượng dịch vụ, đặc biết là chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán là yếu tố
vô cùng quan trọng để phát triển thương hiệu của công ty lên tầm cao mới, tạo sức hút
đối với các nhà đầu tư và tạo ra lời thế cạnh tranh với các đối thủ.
Từ nhận thức từ tầm quan trọng của dịch vụ môi giới chứng khoán trong việc
phát triển thương hiệu cùng với thời gian thực tập nghiên cứu tại Công ty Cổ phần
chứng khoán đầu tư Việt Nam, em xin được nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao
chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán nhằm phát triển thương hiệu của công ty Cổ
phần chứng khoán đầu tư Việt Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán
nhằm phát triển thương hiệu tại Công ty Cổ phần chứng khoán đầu tư Việt Nam”,
nhằm hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán
trong phát triển thương hiệu doanh nghiệp, từ đó nghiên cứu thực trạng cung ứng dịch
cấp.
Về dữ liệu thứ cấp: trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần Cổ phần chứng
khoán đầu tư Việt Nam, tác giả đã thu thập những dữ liệu có sẵn qua các báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2011 – 2013; các tài liệu nội bộ, các báo
cáo về phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong mỗi năm.
Về dữ liệu sơ cấp: Từ những dữ liệu thứ cấp đã thu thập được trong quá trình
thực tập tại công ty (số liệu từ năm2011 - 2013 đã có báo cáo tài chính). Kết hợp với
việc điều tra, phân tích thông qua công tác phỏng vấn và sử dụng bảng hỏi.
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
Để thu thập được dữ liệu sơ cấp, tác giả đã thiết kế bảng câu hỏi để phỏng vấn
nhóm khách hàng có thời gian giao dịch tại sàn giao dịch chứng khoán IVS tối thiểu là
6 tháng trở lên.
Số phiếu phát ra: 60
Số phiếu hợp lệ: 50
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 3 chương:
Chương I – Một số lý luận cơ bản về đề tài nghiên cứu
Chương II – Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ môi giới chứng
khoán tại công ty Cổ phần chứng khoán đầu tư Việt Nam
Chương III – Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng
khoán nhằm phát triển thương hiệu tại công ty Cổ phần chứng khoán đầu tư Việt Nam
6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Giúp công ty biết được tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ môi giới chứng
khoán đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
- Giúp công ty biết được chất lượng dịch vụ môi giới mà IVS đang cung cấp và
các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.
- Giúp công ty nhận biết tầm quan trọng của chất lượng dịch vụ môi giới chứng
khoán và tầm ảnh hưởng của nó tới việc phát triển thương hiệu công ty
Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm,
dịch vụ với dấu hiệu của doanh nghiệp gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ nhằm khẳng
định chất lượng và xuất xứ. Thương hiệu là một tài sản vô hình quan trọng và đối với
các doanh nghiệp lớn, giá trị thương hiệu của doanh nghiệpchiếm một phần đáng kể
trong tổng giá trị của doanh nghiệp”
Theo sách Thương Hiệu Với Nhà Quản Lý của PGS.TS. Nguyễn Quốc Thịnh:
“Thương hiệu là tập hợp các dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của cơ sở sản
xuất, kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) này với hàng hoám dịch vụ cùng loại
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
của doanh nghiệp khác; là hình tượng về một loại, một nhóm hàng hóa, dịch vụ hoặc
về doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng”.
Như vậy, có thể hiểu thương hiệu một cách tương đối như sau:Thương hiệu là
tập hợp các dấu hiệu vô hình và hữu hình đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng
hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay
một tổ chức. Thương hiệu là mối quan hệ giữa sản phẩm với công chúng của nó, là
tổng hòa của tình cảm, nhận thức, lòng tin và trải nghiệm của người tiêu dùng.Và
thương hiệu cũng là một lời hứa của sản phẩm với người tiêu dùng
Các yếu tố của Thương hiệu
Tên Thương hiệu: là tên gọi của tổ chức, sản phẩm hay dịch vụ trong hoạt động
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh
Biểu tượng (logo): là biểu tượng sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp qua hình vẽ,
hoa văn, kiểu chữ hoặc một dấu hiệu đặc biệt nào đó để xây dựng sự nhận biết.
Khẩu hiệu (slogan): là cụm từ, một câu phản ánh đặc trưng của Thương hiệu có
khả năng in sâu vào trí nhớ của người tiêu dùng.
Còn có các yếu tố khác như: âm nhạc, bao bì, nhân vật…
1.1.2 Phát triển thương hiệu là gì?
Phát triển thương hiệu là tập hợp các hoạt động đưa thương hiệu và sản phẩm
đến tay người tiêu dùng nhằm duy trì và gia tăng hình ảnh thương hiệu trong tâm trí
khách hàng và xã hội, tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu. Từ
Như vậy có thể nói là Phát triển thương hiệu làm gia tăng giá trị thương mại
thông qua mạng lưới khách hàng trung thành ngày càng mở rộng. Và đó là lời giải
thích cho tầm quan trọng của việc phát triển thương hiệu
Vậy: Cần làm gì để phát triển thương hiệu?
Thứ nhất: Quảng bá thương hiệu: Quảng bá thương hiệu không đơn thuần chỉ là
quảng cáo, dù quảng cáo là một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình phát
triển thương hiệu. Cái gốc của thương hiệu là uy tín của sản phẩm và dịch vụ, sự bền
vững của chất lượng.
Thứ 2: Tiếp cận vấn đề thương hiệu với một chiến lược tổng thể. Đó là việc phải
nhận thức đúng và đầy đủ về thương hiệu; xây dựng thương hiệu trên cơ sở nghiên cứu
thị trường kỹ lưỡng; đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường trong và ngoài
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
nước; phát triển hệ thống kênh phân phối; quản lý thương hiệu để đảm bảo uy tín và
hình ảnh của thương hiệu không ngừng được nâng cao.
Thứ 3: Định vị nhãn hiệu một cách rõ nét trong nhận thức của người tiêu dùng để
phát huy tối đa nội lực, tập trung vào các mục tiêu chính, triển khai các kế hoạch hỗ
trợ và tạo dựng hình ảnh trong tâm trí khách hàng.
Thứ 4: Tạo ra mối liên kết thương hiệu bền vững trong tâm thức người tiêu dùng
chứ không để rơi vào tình trạng “chết yểu” thông qua các chiến dịch quảng cáo dài hạn
cũng như các hoạt động tiếp thị sáng tạo và mới lạ.
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển thương hiệu
Một là, nhận thức của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Đây là nhân tố đầu tiên
ảnh hưởng đến việc phát triển thương hiệu. Sự hiểu biết sâu sắc của ban giám đốc về
tầm quan trọng của việc phát triển thương hiệu và tác dụng của nó là điều kiện tiên
quyết để tạo ra một quyết tâm thực hiện cũng như hướng tới việc đạt được mục tiêu.
Hai là, đội ngũ cán bộ chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược phát triển thương
hiệu. Xây dựng được một chiến lược sâu sát phù hợp, đạt hiệu quả và có tính khả thi
cho việc thực hiện đòi hỏi các cán bộ thực thi phải có tinh thần trách nhiệm, có trình
độ kiến thức, hiểu biết sâu sắc về thương hiệu, nhiệt tình với công việc đồng thời nắm
Môi giới là việc mà:
- Khách hàng:
Yêu cầu công ty chứng khoán mua/ bán chứng khoán cho mình
Quyết định mua/ bán chứng khoán của mình
Hưởng và chịu trách nhiệm về kết quả mua bán
Phải trả phí cho công ty chứng khoán
- Công ty chứng khoán
Giúp nhu cầu mua, bán của các khách hàng gặp nhau
Cung cấp thông tin chứng khoán cho khách hàng
Tư vấn, giúp khách hàng đưa ra được quyết định đầu tư hợp lý
Thu phí môi giới
Phân loại môi giới chứng khoán
Có thể phân chia môi giới chứng khoán thành các loại sau:
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
Trên sở giao dịch chứng khoán, môi giới chứng khoán bao gồm:
- Các nhà môi giới của các công ty thành viên (Hay nhà môi giới của hãng dịch
vụ hưởng hoa hồng) thực hiện các giao dịch cho khách hàng và hưởng các khoản hoa
hồng mà khách hàng trả cho họ.
- Môi giới hai đô la: Là môi giới tự do hay còn gọi là môi giới tập sự, không
thuộc về một công ty chứng khoán nào. Họ nhận làm môi giới trung gian để thương
lượng đấu giá mua bán chứng khoán cho các công ty môi giới thuê họ, hưởng hoa
hồng từ các dịch vụ đó và khoản phí mà họ được hưởng là 2 đô la trên 100 cổ phiếu.
- Các nhà tạo lập thị trường cạnh tranh: Khi một chứng khoán giao dịch trên sàn
trở nên khan hiếm hay rơi vào tình trạng khó giao dịch, Sở giao dịch yêu cầu các nhà
tạo lập thị trường tiến hành giao dịch các chứng khoán này từ tài khoản cá nhân hoặc
tài khoản công ty của họ với cách chào bán hay chào mua trên thị trường.
Trên thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC), môi giới chứng khoán là:
- Các nhà tạo lập thị trường: các nhà tạo lập thị trường có nhiệm vụ tạo tính thanh
khoản cho thị trường thông qua việc nắm giữ một lượng chứng khoán để sẵn sàng giao
một tỷ lệ % tiền trên giá trị chứng khoán muốn mua, số còn lại khách hàng có thể vay
công ty chứng khoán thông qua tài khoản bảo chứng. Trong dịch vụ này, khách hàng
phải chịu một lãi suất khá cao, thường là cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng,
ngược lại khách hàng có thể mua số lượng chứng khoán có giá trị lớn hơn nhiều so với
số tiền đã ký quỹ. Sau khi mở tài khoản, công ty chứng khoán sẽ cung cấp cho khách
hàng một mã số tài khoản và một mã số truy cập vào tài khoản để kiểm tra khi cần
thiết.
B2: Nhận lệnh của khách hàng
Mỗi lần giao dịch, khách hàng phát lệnh theo mẫu in sẵn. Lệnh giao dịch khách
hàng phải điền đầy đủ các thông tin quy định trong mẫu có sẵn. Đó là những điều kiện
cho khách hàng yên tâm khi phát lệnh. Việc phát lệnh có thể theo hình thức trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua điện thoại, telex,fax hay hệ thống máy tính điện tử…tùy
thuộc vào mức độ phát triển của thị trường.
Các loại lệnh giao dịch bao gồm
1. Lệnh giới hạn
a) Lệnh giới hạn (LO) là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá
xác định hoặc tốt hơn. Mức giá tốt hơn là mức giá cao hơn mức giá xác định đối với
lệnh bán và mức giá thấp hơn mức giá xác định đối với lệnh mua.
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
2. Lệnh thị trường
a) Lệnh thị trường là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh
bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường;
b) Lệnh thị trường chỉ được nhập vào hệ thống giao dịch trong phiên khớp lệnh
liên tục
c) Lệnh thị trường sẽ bị hủy trên hệ thống giao dịch ngay sau khi nhập nếu không
có lệnh đối ứng. Các loại lệnh thị trường:
(i) Lệnh thị trường giới hạn (MTL) là lệnh thị trường nếu không được thực hiện
toàn bộ thì phần còn lại của lệnh được chuyển thành lệnh LO mua với mức giá cao
hơn mức giá khớp lệnh cuối cùng một đơn vị yết giá hoặc mức giá trần nếu mức giá
Đến ngày thanh toán, công ty chứng khoán sẽ thanh toán tiền cho khách hàng
thông qua hệ thống ngân hàng chỉ định thanh toán và giao chứng khoán thông qua
hình thức chuyển khoản tại trung tâm lưu ký chứng khoán. Sau khi hoàn tất các thủ tục
giao dịch tại Sở giao dịch, công ty chứng khoán sẽ thanh toán tiền cho khách hàng
thông qua hệ thống tài khoản giao dịch của khách hàng mở tại một công ty chứng
khoán.
1.2.2.2 Hoạt động môi giới trên thị trường phi tập trung (OTC)
B1: Tìm kiếm khách hàng và thu thập thông tin
B2: Kí kết hợp đồng mua bán với khách hàng
B3: Thương lượng để so khớp các lệnh mua bán
B4: Chuyển nhượng chứng khoán
B5: Thanh toán các khoản phí môi giới và dịch vụ, hoàn trả tiền đặt cọc nếu vi
phạm hợp đồng
B6: Lưu giữ hồ sơ và các giấy tờ kiên quan đến giải quyết tranh chấp phát sinh
nếu có.
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
1.2.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán
Nếu hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động mũi nhọn của công ty chứng
khoán, thì bộ phận môi giới chứng khoán là bộ mặt của công ty. Chất lượng của hoạt
động dịch vụ môi giới càng cao thì bộ mặt của công ty càng đẹp và thu hút khách
hàng. Như vậy có thể nói, thỏa mãn được nhu cầu chất lượng mà khách hàng đòi hỏi
không những chỉ là đem lại sự hài lòng cho khách hàng nhằm níu chân khách hàng, mà
đó còn là chiêu thức thu hút khách hàng mới thông qua khách hàng cũ. Từ đó mà
thương hiệu của công ty không những lớn mà còn được phát triển rộng rãi.Không thể
phủ nhận được rằng, nếu danh tiếng phục vụ của một công ty chứng khoán tốt, thì
lượng khách hàng kéo đến càng đông. Đó là bởi vì tại đó khách hàng được thỏa mãn
về chất lượng và thái độ phục vụ tốt.
Như vậy, việc nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới chứng khoán đối với một
công ty chứng khoán mà nói thì là rất quan trọng. Chất lượng phục vụ càng cao, càng
giới chứng khoán hoạt động với chất lượng tốt sẽ kéo theo các hoạt động khách như
phân tích chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu kí chứng khoán….phát triển và
ngược lại.
Chỉ tiêu định lượng: Được thể hiện cụ thể ở:
- Doanh số từ hoạt động môi giới: Là tổng giá trị giao dịch khớp lệnh tại CTCK
Doanh số từ hoạt động môi giới nếu tăng lên qua các năm thể hiện quy mô hoạt
động môi giới tăng lên, điều đó cho thấy hoạt động này đang trong giai đoạn phát triển
và mở rộng, cũng có nghĩa là góp phần nâng cao chất lượng hoạt động môi giới.
- Doanh thu từ hoạt động môi giới: là tổng giá trị mà công ty thu được từ phí môi
giới mà khách hàng trả khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của hoạt động môi giới của
công ty.
- Chi tiêu chi phí từ hoạt động môi giới: Đây là chỉ tiêu phản ánh các khoản tiền
mà CTCK đã bỏ ra để thực hiện việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ môi giới nhằm
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chi phí cho hoạt động môi giới không những phản
ánh số tiền mà công ty đã trả trong hoạt động môi giới mà còn cho thấy mức độ hiệu
quả của hoạt động môi giới. Nếu chi phí cho hoạt động này mà lớn thì hoạt động môi
giới là không hiệu quả.
- Lãi thu được từ hoạt động môi giới: Đây cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng
cho biết khả năng sinh lời của hoạt động MGCK. Lãi từ hoạt động MGCK là phần
chênh lệch giữa doanh thu và chi phí đã bỏ ra trong hoạt động môi giới để đạt được
doanh thu đó.Công thức như sau:
Lãi từ HĐMG = DT từ HĐMG – CP từ HĐMG
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
- Biểu phí môi giới cạnh tranh
Để bắt đầu tìm đến CTCK nào để giao dịch, phí môi giới là một trong những yếu
tố đầu tiên mà khách hàng xem xét. Một biểu phí cao hơn tương đối so với các CTCK
khác sẽ làm giảm đáng kể tính cạnh tranh của nghiệp vụ môi giới CK và điều đó lảm
giảm đi lãi thu được từ hoạt động MGCK của CTCK.
1.2.5 Các nhân tố ảnh huởng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới
thông tin và phân tích một cách đầy đủ và kịp thời để từ đó giúp cho việc nâng cao
chất lượng hoạt động của công ty.
Uy tín của công ty
Uy tín được coi là điều kiện quyết định sự thành công trong kinh doanh của bất
kể mọi CTCK nào. Nếu hoạt động mà không có uy tín thì không thể tồn tại trên thị
trường.
Chiến lược kinh doanh của công ty
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
Chiến lược kinh doanh của công ty là những kế hoạch dài hạn mà công ty đề ra
nhằm thực hiện những mục tiêu mà công ty đang hướng tới. Những mục tiêu đó có sát
với khả năng thực tế của công ty hay không? Kế hoạch đề ra có đúng hướng hay
không, có phù hợp với hoàn cảnh hay không,… Hoạt động môi giới là một trong số
các hoạt động của công ty nên nó cũng hướng tới mục đích chung của công ty. Nếu
trong chiến lược chung đó, công ty không chú trọng đến hoạt động môi giới hoặc chưa
đặt hoạt động môi giới trong mối quan hệ với các hoạt động khác thì chất lượng hoạt
động môi giới của công ty sẽ không cao.Đồng thời cách thức thực hiện chiến lược
khác nhau hay con đường để đạt được mục tiêu là khách nhau thì kết quả cũng khác
nhau.
1.2.5.2 Nhân tố khách quan
Đây là những nhân tố bên ngoài tác động đến tất cả CTCK và mọi hoạt động của
nó. Nhân tố này bao gồm:
Sự phát triển của nền kinh tế và sự ổn định về chính trị
Một nền kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của cả thị trường chứng
khoán và kéo theo đó là hoạt động môi giới. Và một môi trường kinh doanh tốt chính
là tiền đề tốt nhất cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Sự ổn định về chính trị
cũng là điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư tham gia đầu tư vào thị trường.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Là một thành viên của thị trường chứng khoán, nên thị trường chứng khoán có
phát triển thì CTCK mới phát triển được. Sự phát triển của thị trường chứng khoán sẽ
những loại hình dịch vụ riêng nhằm thu hút khách hàng đến với công ty. Điều đó tác
động trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, doanh thu, chi phí và lợi nhuận của công ty.
Điều này chứng tỏ tại sao cùng một địa bàn hoạt động, nhưng sự chênh lệch về số
lượng người tham gia giao dịch tại các sàn là rất lớn.
Tóm lại có rất nhiều yếu tố tác động tới chất lượng hoạt động môi giới. Do vậy
các công ty chứng khoán vần phải xem xét một cách tổng thể các nhân tố đó để chủ
động trong công tác quản lý, tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động môi giới một
cách thuận lợi.
SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh Page 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD:ThS. Nguyễn Thị Đông
CHƯƠNG II – PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG
DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG
KHOÁN ĐẦU TƯ VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần chứng khoán đầu tư Việt Nam (IVS)
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần chứng khoán
đầu tư Việt Nam
Tên công ty: Công ty cổ phần chứng khoán đầu tư Việt Nam
Tên tiếng Anh: VIETNAM INVESTMENT SECURITIES COMPANY
Công ty Cổ phần Chứng khoán Việt Nam IVS tiền thân là Công ty Cổ phần
Chứng khoán VNS được thành lập và hoạt động theo giấy phép số 69/UBCK-
GPHĐKD do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp ngày 28/08/2007, gồm các hoạt
động: Môi giới chứng khoán; Tự doanh chứng khoán; Tư vấn đầu tư chứng khoán;
Lưu ký chứng khoán.
Vốn điều lệ là 161.000.000.000VNĐ
Công ty có trụ sở chính tại địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà VCCI, 9 Đào Duy Anh, Hà Nội .
Điện thoại: (04) 35730073.Fax: (04) 3573008
Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh tại địa chỉ: Lầu 4, Số 2 BIS,Công Trường
Quốc Tế,Phường 6,Quận 3, HCM. Điện thoại: (08) 38239966.Fax: (08) 38239696
Quyết định số 311/QĐ-SGDHN NGÀY 30/06/2011 của sở giao dịch chứng
khoán Hà Nội về việc chấp thuận niêm yết cổ phiếu CTCP Chứng khoán VNS (Nay là