đề cương ôn thi môn LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM đại học thương mại VCU - Pdf 27

Luật kinh doanh bảo hiểm
LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
MỤC LỤC
Kinh doanh bảo hiểm 4
1
Luật kinh doanh bảo hiểm
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH
BẢO HIỂM
1.1 Khái niệm chung về bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm
1.1.1 Những vấn đề chung về bảo hiểm.
1.1.1.1 Bảo hiểm là gì ? Vì sao phải có bảo hiểm? Tại sao trong xã hội hiện đại, bảo
hiểm càng được mọi người quan tâm và loại hình bảo hiểm càng phát triển ?
- Theo cách hiểu thông thường bảo hiểm là sự bảo vệ hay bảo đảm an toàn cho con người
và cho xã hội trước hiểm hoạ, biến cố bất ngờ gây ra;
- “Rủi ro là cơ sở của hoạt động bảo hiểm, là nguồn gốc phát sinh các hoạt động bảo
hiểm”.
- Trong cuộc sống mỗi con người, gia đình và xã hội từ xưa đến nay cũng luôn phải đối
mặt với yếu tố không thuận lợi, ngoài ý muốn đó là hiểm hoạ, rủi ro. Nguyên nhân gây ra
những rủi ro là yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và yếu tố xã hội khác. Suốt trong lịch sử của mình,
loài người đã phải chịu đựng và chứng kiến biết bao hiểm hoạ, nào là động đất, núi lửa, bão
lụt, hạn hán, sóng thần, dịch bệnh, chiến tranh, tai nạn giao thông, hoả hoạn, phóng xạ, ô
nhiễm Rủi ro, hiểm hoạ xảy ra thường bất ngờ không biết trước về thời gian, địa điểm, quy
mô, mức độ thiệt hại. Trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển nhưng không thể
loại trừ yếu tố bất lợi có tính khách quan đó. Dù muốn hay không, nhiều hiểm hoạ rủi ro đã,
đang và sẽ còn xuất hiện chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, DN và toàn xã
hội. Chính sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc phát sinh tồn tại của bảo hiểm).
1.1.1.2 Các biện pháp phổ biến được con người sử dụng
Đứng trước thực trạng đó, con người luôn có những hành động tích cực, chủ động bằng tất
cả khả năng của mình để ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục nhằm giảm tới mức thấp nhất những
thiệt hại về người và của để sớm phục hồi lại quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống.
-Biện pháp phòng ngừa: là biện pháp do con người sử dụng do nhận thức được quy luật

nhiên, do quy mô quỹ không lớn, không thể bù đắp cho những tổn thất lớn, không phát huy
được tính cộng đồng tương trợ, nó chỉ đóng khung trong từng đơn vị, không cơ động, có thể
dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí vốn, hiệu quả kinh tế không cao.
-Quỹ bảo hiểm tập trung mang tính cộng đồng : Quỹ này được lập bằng tiền do đông đảo
những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những biến cố nào đó đóng góp, tạo lập quỹ
theo một chế độ thống nhất và bình đẳng. Nó được sử dụng để phòng ngừa và bù đắp những
tổn thất cho người tham gia lập quỹ khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện.
Chủ thể đứng ra tổ chức lập, quản quỹ bảo hiểm có thể là cơ quan nhà nước hay một tổ
chức, doanh nghiệp họ thực hiện công việc này có thể không vì mục tiêu lợi nhuận hoặc hoạt
động vì mục tiêu lợi nhuận. Nhưng chúng giống nhau ở chỗ:
• Phương thức tạo lập và sử dụng quỹ này trên nguyên tắc “lấy số đông bù cho số ít hay
cộng đồng hoá trách nhiệm, hay phân tán chia nhỏ rủi ro cho nhiều người cùng gánh chịu”
nên nó mang tính kinh tế, tính xã hội cao.
• Đối với mỗi cá nhân hàng năm chỉ phải chi ra một lượng tiền nhỏ để đóng phí bảo
hiểm, không ảnh hưởng đến đời sống của mình. Đối với các DN thì phí bảo hiểm là một chi
phí xã hội cần thiết nó được hạch toán vào giá thành sản phẩm.
• Hình thức dự trữ bảo hiểm này sẽ đáp ứng một cách đầy đủ, linh hoạt nhất đối với mọi
nhu cầu đa dạng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Nó có khả năng thanh toán nhanh,
bù đắp lớn giúp cho người tham gia bảo hiểm khắc phục nhanh chóng những thiệt hại, đảm
bảo cho quá trình sản xuất và đời sống phát triển bình thường
Dưới góc độ kinh tế tài chính thì bảo hiểm đó là sự bảo đảm về mặt tài chính khi gặp phải
những thiệt hại, mất mát do biến cố rủi ro gây ra cho các chủ thể tham gia lập quỹ baỏ hiểm.
1.1.1.4 Các loại hình bảo hiểm
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người thì nhu cầu bảo đảm ổn định sản xuất và đời
sống ngày càng cao - các loại bảo hiểm khác nhau đã ra đời để đáp ứng nhu cầu đó.
Người ta ví “không có bảo hiểm như đi trên cầu thang không có tay vịn”. Bảo hiểm là
một yếu tố, một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức và không chỉ
đơn thuần làm lá chắn bảo vệ cho đối tượng tham gia mà rộng hơn nó đảm bảo cho sự ổn định
và phát triển cả nền kinh tế cho cả xã hội.
Khi nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu bảo hiểm ngày càng đòi hỏi đa dạng (do rủi ro

chúng có điểm khác nhau cơ bản sau:
Nội dung
ph
ân
biệ
t
Bảo hiểm xã hội (một loại hình
bảo hiểm không mang tính kinh
doanh)
Kinh doanh bảo hiểm
Bản chất Là một chính sách thuộc lĩnh vực
đảm bảo xã hội của một nhà nước
Là một dịch vụ tài chính xuất phát từ
nhu cầu được bảo vệ, ngoài sự đảm
bảo chung của xã hội
Đối tượng
bảo hiểm
Là người lao động, người làm
công, ăn lương
Con người, tài sản, trách nhiệm dân sự
Phạm vi
bảo hiểm
Trong giới hạn một quốc gia Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia(Tái
bảo hiểm ).
Nguồn hình
thành quỹ
bảo hiểm
Chủ yếu huy động sự đóng góp
của người lao động,người sử dụng
lao động và có thể một phần trợ

Luật kinh doanh bảo hiểm
1.1.2. Khái niệm chung về kinh doanh bảo hiểm
Tại Điều 3, Luật kinh doanh BH năm 2000: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận
rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngươì được bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Một số khái niệm được sử dụng trong định nghĩa trên được pháp luật giải thích như sau:
- Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo
hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể là đồng thời là người được bảo hiểm
hoặc người thụ hưởng.
- Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được
bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ
hưởng.
- Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận
tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.
-Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định
mà khi có sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên bảo hiểm phải đóng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo
hiểm theo thời hạn bảo hiểm và phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Theo nghĩa rộng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm tất cả những hoạt động của các chủ
thể kinh doanh trên thị trường bảo hiểm có mục đích sinh lời gồm: Hoạt động kinh doanh bảo
hiểm, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm và hoạt động đại lý
bảo hiểm.
1.1.3 Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm:
- Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh
nghiệp bảo hiểm đứng ra lập quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo
hiểm, quản lý sử dụng quỹ bảo hiểm để chi trả hoặc bồi thường bảo hiểm cho người được bảo
hiểm hoặc người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm. Mặc dù kinh doanh bảo hiểm là một

xây dựng các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm; Quỹ
này được sử dụng để tham gia đầu tư tuy nhiên bảo đảm tính thanh khoản cao;
Số tiền bồi thường bảo hiểm trong một hợp đồng nếu có thường rất lớn, lớn hơn nhiều lần
số phí mà người tham gia bảo hiểm đã đóng. (Do lợi ích các bên có xung đột trực diện thường
xảy ra tranh chấp trong thực hiện hợp đồng). Vì thế có thể dẫn đến các trường hợp trục lợi bảo
hiểm. DN bảo hiểm muốn bảo đảm và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất trong
hoạt động bảo hiểm thì phải thực hiện tốt nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít; Trong trường
hợp có hợp đồng có giá trị lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ dẫn đến rủi ro cao thì DN
bảo hiểm phải thực các biện pháp phân tán rủi ro như đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm; mặt khác
để giảm bớt chi phí bồi thường các DNBH phải tăng cường các biện pháp đề phòng, ngăn
ngừa và hạn chế tổn thất bảo hiểm.
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bằng luật kinh doanh bảo hiểm và các
văn bản pháp luật khác có liên quan;
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có điều kiện đặt dưới sự quản
lý nhà nước của Bộ Tài chính.
1.2 Khái niệm chung về pháp luật kinh doanh bảo hiểm.
1.2.1. Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống
xã hội.
Thứ nhất, Bảo hiểm đóng vai trò là công cụ góp phần ổn định các hoạt động kinh tế xã
hội đời sống của dân cư, thúc đẩy quá trình tích tụ vốn trong xã hội.
Để tránh thất thoát cho tài sản các pháp nhân, thể nhân có thể tham gia bảo hiểm cho tài
sản của mình và nếu gặp rủi ro thì thiệt hạn sẽ được bù đắp bằng tiền bảo hiểm mà doanh
nghiệp bảo hiểm chi trả. Đồng thời, cũng chính nhờ tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm
6
Luật kinh doanh bảo hiểm
trả cho các pháp nhân, thể nhân có thể duy trì được hoạt động bình thường, ổn định đời sống
khi gặp rủi ro. Mặt khác an toàn về tính mạng, sức khoẻ là vấn đề được cá nhân, cộng đồng và
Nhà nước quan tâm. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đóng vai trò tích cực trong việc bù đắp
vật chất trong các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, nó trở thành một trong những phương

pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Các
qui phạm pháp luật này có thể phân chia làm hai nhóm sau:
Nhóm thứ nhất: Các qui phạm pháp luật qui định về tổ chức và hoạt động của các chủ thể
thực hiện hoạt động kinh doanh trong thị trường bảo hiểm như: doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm… Loại qui phạm pháp luật này chứa ở các
loại nguồn như: Luật kinh doanh bảo hiểm, các Luật về doanh nghiệp, thương mại, đầu tư
Nhóm thứ hai: Các qui phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thu, nộp phí bảo hiểm và trả
tiền bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Các qui phạm pháp
luật loại này chứa chủ yếu ở Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành.
7
Luật kinh doanh bảo hiểm
Nếu phân chia theo các quy định trong luật thực định thì pháp luật kinh doanh bảo hiểm
được chia thành các bộ phận sau:
* Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh bảo hiểm
- Doanh nghiệp bảo hiểm - Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm - Đại lý bảo hiểm
* Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm; Bao gồm tất cả quy định chung về hợp đồng bảo hiểm
* Pháp luật về chế độ bảo hiểm cụ thể
- PL về bảo hiểm con người - Pl về bảo hiểm tài sản - PL về bảo hiểm trách nhiệm dân sự
1.2.3. Các nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm.
Tại điều 6 Luật kinh doanh bảo hiểm và tại Điều 3 Nghị định 45/2007/NĐ- CP ngày 27
tháng 03 năm 2007 có quy định các nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm gồm:
Thứ nhất, Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo
hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính cấp giấy phép thành
lập và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.
Kinh doanh bảo hiểm là ngành lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nên phải được cơ quan có
thẩm quyền cấp phép
Thứ hai, tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm
và chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam.
Không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.

- Phải thường xuyên trích lập và duy trì đủ khoản dự phòng nghiệp vụ để thực hiện các
trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm. Dự phòng nghiệp vụ là khoản dự trữ liên quan
đến từng nghiệp vụ bảo hiểm được trích lập và hoạch toán vào chi phí kinh doanh nhằm mục
đích thanh toán các trách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từ hợp đồng đã được ký
kết. Dự phòng nghiệp vụ phải được lập riêng cho từng nghiệp vụ gồm:
Dự phòng chi cho các trách nhiệm chưa hoàn thành;
Dự phòng bồi thường cho các kiếu nại chưa giải quyết;
Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất.
- Phải duy trì khả năng thanh toán tối thiểu tương ứng với qui mô hoạt động kinh doanh và
không thấp hơn giới hạn khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động. Một doanh
nghiệp bảo hiểm được coi là đủ khả năng thanh toán khi tổng các nguồn vốn sau hoặc = mức
khả năng thanh toán: Vốn điều lệ đã đóng; quỹ dự trữ bắt buộc; lãi các năm trước chưa sử
dụng.
Trong trường hợp tái bảo hiểm ở nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm phải tái bảo hiểm
một phần rủi ro của hợp đồng bảo hiểm đã ký cho doanh nghiệp tái bảo hiểm do chính phủ chỉ
định. Xuất phát từ sự cần thiết hạn chế tình trạng chảy máu ngoại tệ thông qua việc tái bảo
hiểm cho các công ty nước ngoài, tạo điều kiện duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh
nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm. Thông qua công cụ tái bảo hiểm bắt
buộc, Nhà nước có thể kiểm soát tình hình hoạt động và tình trạng tài chính cũng như khả
năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm việt nam, bảo vệ quyền của người tham gia
bảo hiểm.
9
Luật kinh doanh bảo hiểm
CHƯƠNG II : PL TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH
BẢO HIỂM
2.1 Doanh nghiệp bảo hiểm
2.1.1 Khái niệm.
Theo pháp luật hiện hành thì khái niệm “Doanh nghiệp bảo hiểm” được hiểu như sau:
Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy
định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh

mại của hoạt động bảo hiểm. Nghĩa là, khi không xảy ra rủi ro bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo
hiểm không phải bồi hoàn và phí bảo hiểm sẽ tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Khác với khả năng bồi hoàn của các khâu tài chính khác, bồi hoàn trong kinh doanh bảo hiểm
có tính bất ngờ cả về thời gian, không gian cũng như quy mô. Chính vì vậy, trong quá trình
hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để bảo đảm các cam kết
1
khoản 5 điều 3 luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
10
Luật kinh doanh bảo hiểm
của mình trước những người tham gia bảo hiểm khi có các sự cố bảo hiểm xảy ra. Các quỹ
này là nguồn quan trọng để tham gia đầu tư nhằm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp
bảo hiểm nhưng phải đảm bảo nguyên tắc tính an toàn, tính sinh lời, và tính thanh khoản của
các khoản vốn đầu tư. Thông thường thì tính bồi thường tổn thất thực tế cho người được bảo
hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm thường rất lớn, lớn gấp nhiều lần so với số phí bảo hiểm
đã đóng. Vì thế, để đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, trong hoạt
động bảo hiểm phải áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít, tức là phải cung cấp nhiều sản
phẩm bảo hiểm cho nhiều loại khách hàng, trên nhiều vùng thị trường khác nhau… để lấy phí
bảo hiểm đóng góp từ nhiều người nhằm bù đắp cho một số ít người gặp rủi ro. Trên thực tế,
đối với những hợp đồng có giá trị lớn hoặc trường hợp có khả năng doanh nghiệp bảo hiểm
phải bồi thường cho nhiều người được bảo hiểm trong cùng một sự cố, để giảm bớt trách
nhiệm tài chính đối với rủi ro bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm thường phải thực hiện nghiệp
vụ tái bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm. Mặt khác, để giảm bớt chi phí bồi thường, doanh nghiệp
bảo hiểm phải tăng cường giám sát các biện pháp phòng ngừa hạn chế tổn thất bảo hiểm.
Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức thành lập và hoạt động theo các qui định
của Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật. Xuất phát từ tính chất đặc
thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được coi là một tổ chức kinh
doanh ngành nghề đặc biệt, nên pháp luật phải có những qui định riêng áp dụng cho doanh
nghiệp bảo hiểm, đó là Luật kinh doanh bảo hiểm. Trong việc tổ chức thành lập và hoạt động
của mình doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân theo Luật kinh doanh bảo hiểm.
Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh

khác chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước khác như các tổ chức tín dụng chịu sự
quản lý nhà nước trực tiếp của Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh chứng
khoán chịu sự quản lý nhà nước của Uỷ ban chứng khoán nhà nước …
2.1.2 Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm.
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung lĩnh vực bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực độc
quyền của nhà nước (gọi tên là bảo hiểm nhà nước). ở nước ta chỉ duy nhất có Tổng công ty
bảo hiểm Việt Nam (bảo Việt). Cơ quan “Bảo Việt” thực hiện đồng thời cả hai chức năng
quản lý nhà nước và kinh doanh bảo hiểm rủi ro. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới – cơ chế
kinh tế thị trường, Nhà nước không còn giữ độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro mà cho
phép các thành phần kinh kế được tham gia kinh doanh bảo hiểm Nhà nước có phân định
rạch ròi giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh trong bảo hiểm rủi ro - Thị trường
bảo hiểm đã hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhiều loại hình
doanh nghiệp bảo hiểm ra đời, sản phẩm bảo hiểm phát triển rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu
của xã hội. Vì vậy, việc phân loại các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là rất cần thiết. Có
nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp bảo hiểm, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục
đích riêng.
2.1.2.1 Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm thì có
các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước: là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu
tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những
nhiệm vụ nhà nước giao. Bên cạnh việc áp dụng các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm,
doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn phải tuân thủ các qui định trong các văn bản pháp luật
dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta những doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước
nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan
tâm, tạo điều kiện khuyến khích phát triển để nó trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong
những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
- Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng
góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần
vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của

ngoài để kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
-Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ sở
góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngoài. (Tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn 30% vốn
điều lệ.)
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ
chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn
toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt
Nam.
Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài không bị hạn
chế về nội dung, phạm vi hoạt động khi bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài, tổ chức và cá nhân nước ngoài; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; các
sản phẩm phục vụ cho những chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và
bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc mở rộng nội
dung, phạm vi hoạt động sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, phù hợp với
nhu cầu phát triển thị trường và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cụ
thể: Trong năm hoạt động đầu tiên, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài chỉ
13
Luật kinh doanh bảo hiểm
được phép mở một chi nhánh ngoài trụ sở chính để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Sau 3 năm kể từ khi hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có
vốn đầu tư nước ngoài được phép mở thêm 2 chi nhánh để tiến hành hoạt động kinh doanh
bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Sau 5 năm kể từ khi hoạt động, việc mở thêm chi nhánh của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được thực
hiện theo nhu cầu phát triển thị trường và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham
gia.
2.1.2.2 Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện
thì các doanh nghiệp bảo hiểm được chia thành hai loại là doanh nghiệp bảo hiểm nhân
thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

và hoạt động đối với các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong đó có một số điều kiện quan trọng
như điều kiện về vốn điều kiện về nhân sự như:
14
Luật kinh doanh bảo hiểm
- Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh
nghiệp;
- Phải có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của
Chính phủ (kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng Việt Nam; Kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ: 600 tỷ đồng Việt Nam);
- Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo
hiểm…cụ thể: Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín,
đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tổng giám đốc
(Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp, có thực
tiễn quản lý kinh doanh hay quản lý nhà nước về bảo hiểm ít nhất 3 năm và phải thường trú
tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm…
- Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật
này;
- Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật;
* Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 100%
vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh giữa doanh nghiệp bảo hiểm
nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho
phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam;
- Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm theo quy
định của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính tính tới thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy
phép;
- Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tổng tài sản tối thiểu tương đương 2 tỷ đô la Mỹ
vào năm trước năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép;
- Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt

* Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm liên
doanh, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh theo quy định tại khoản 1 Điều 109
của Luật Kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
- Các tài liệu theo quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và h khoản 1 Điều này;
- Điều lệ, Giấy phép thành lập và hoạt động của các bên tham gia liên doanh;
- Hợp đồng liên doanh;
- Bảng tổng kết tài sản, báo cáo tài chính hàng năm có xác nhận của tổ chức kiểm toán
độc lập về tình hình hoạt động của các bên tham gia liên doanh trong 3 năm gần nhất;
- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính:
+ Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh tại Việt Nam. Trường hợp quy
định của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính không yêu cầu phải có văn bản chấp thuận
thì phải có bằng chứng xác nhận việc này;
+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành hoạt động ở Việt Nam;
+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang trong tình
trạng tài chính lành mạnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý tại nước nơi doanh nghiệp
đóng trụ sở chính;
* Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 2
Điều 109 của Luật Kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
- Các tài liệu theo quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và h khoản 1 Điều này;
- Điều lệ, Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm nước ngoài nơi đóng trụ sở chính;
- Giấy uỷ quyền cho Tổng giám đốc (Giám đốc) tại Việt Nam;
- Bảng tổng kết tài sản, báo cáo tài chính hàng năm có xác nhận của tổ chức kiểm toán
độc lập về tình hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
nước ngoài nơi đóng trụ sở chính trong 3 năm gần nhất;
- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính:
+ Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh

phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Mức
vốn điều lệ và số vốn điều lệ đã góp; Họ, tên của người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp; Số Giấy phép và ngày cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; Các nghiệp vụ bảo
hiểm, nghiệp vụ môi giới bảo hiểm được phép kinh doanh.
Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy
định của pháp luật để chính thức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Nếu quá
thời hạn này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không bắt đầu hoạt
động thì bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động.
Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay
đổi một trong những nội dung sau đây: Tên doanh nghiệp; Vốn điều lệ; Mở hoặc chấm dứt
hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện; Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng
đại diện; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp
chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc);
Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp…
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy
17
Luật kinh doanh bảo hiểm
ra một trong những trường hợp như: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có
thông tin cố ý làm sai sự thật; Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt
động mà không bắt đầu hoạt động; Giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển
đổi hình thức doanh nghiệp; Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định
trong giấy phép thành lập và hoạt động; Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện
các cam kết với bên mua bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài có thể
bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài nơi đóng
trụ sở chính bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.
Trong trường hợp Bộ Tài chính cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, chấp thuận
cho doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi một trong những nội dung quy định, Bộ Tài chính thông
báo ngay bằng văn bản kèm theo bản sao giấy phép thành lập và hoạt động, quyết định thu hồi
giấy phép thành lập và hoạt động hoặc quyết định chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung giấy phép

18
Luật kinh doanh bảo hiểm
một số nghiệp vụ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác;
- Tạm đình chỉ quyền quản trị, điều hành và yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thay thế
thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc)
nếu xét thấy cần thiết;
- Yêu cầu Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) miễn nhiệm, đình chỉ công tác
đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật, không chấp hành phương án khôi phục
khả năng thanh toán đã được chấp thuận;
- Kiến nghị với Bộ Tài chính tiếp tục hoặc chấm dứt các biện pháp khôi phục khả năng
thanh toán;
- Báo cáo Bộ Tài chính về việc áp dụng và kết quả của việc áp dụng các biện pháp khôi
phục khả năng thanh toán.
Ban kiểm soát khả năng thanh toán phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo
quy định của pháp luật trong quá trình áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán
của doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu,
quyết định của Ban kiểm soát khả năng thanh toán.
Việc áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán chấm dứt trong các
trường hợp : Hết hạn áp dụng biện pháp khôi phục khả năng thanh toán; Hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm trở lại bình thường; Doanh nghiệp bảo hiểm đã được hợp nhất, sáp
nhập trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp khôi phục khả năng thanh toán,; Doanh nghiệp
bảo hiểm lâm vào tình trạng phá sản.
Việc chấm dứt áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán được thực hiện theo
quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Quyết định này được thông báo cho các cơ quan có
liên quan.
2.1.3.3 Giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm giải thể trong các trường hợp sau đây: Tự nguyện xin giải
thể nếu có khả năng thanh toán các khoản nợ; Khi hết thời hạn hoạt động quy định trong giấy
phép thành lập và hoạt động mà không có quyết định gia hạn; Bị thu hồi giấy phép thành lập
và hoạt động theo quy định; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Việc giải thể

của pháp luật;
- Có hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện theo quy định
Hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện bao gồm:
- Đơn xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền
của doanh nghiệp, trong đó trình bày tóm tắt sự cần thiết, tên gọi, địa điểm, nội dung, phạm vi
hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;
- Phương án hoạt động 3 năm đầu của Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong đó nêu rõ nhu
cầu khách hàng; dự báo thị trường; nội dung, phạm vi hoạt động, các sản phẩm bảo hiểm dự
kiến kinh doanh; dự kiến kết quả kinh doanh; tổ chức bộ máy, nhân sự; địa điểm đặt Chi
nhánh, Văn phòng đại diện và cơ sở vật chất kỹ thuật;
- Giấy tờ hợp lệ chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đáp
ứng các điều kiện quy định.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính phải trả
lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trong trường hợp từ chối chấp
thuận, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.
2.1.4.2 Điều hành
Người quản trị, điều hành doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm:
Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm phải là người có trình độ chuyên môn, năng lực quản trị, điều hành
doanh nghiệp theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tổng giám đốc (Giám đốc) doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm.
Việc bổ nhiệm, thay đổi Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) của doanh
nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải có sự chấp thuận của Bộ Tài chính.
Chuyên gia tính toán (Appointed Actuary):
Chuyên gia tính toán có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác đảm bảo an toàn tài chính
cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Chuyên gia tính toán có quyền độc lập về chuyên môn
nghiệp vụ và không được đồng thời kiêm nhiệm các chức vụ sau: Tổng giám đốc; Kế toán
trưởng; Thành viên Hội đồng quản trị.
Bộ Tài chính quy định tiêu chuẩn và việc sử dụng chuyên gia tính toán của doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ.

khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người) hoặc đã đăng ký với Bộ Tài chính (đối với các sản phẩm
bảo hiểm khác) thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua
bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm.
Quy tắc, điều khoản, biểu phí do doanh nghiệp bảo hiểm xây dựng phải đảm bảo:
- Tuân thủ pháp luật; phù hợp với thông lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hoá và phong tục, tập
quán của Việt Nam;
- Ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm phải chính xác, cách diễn đạt
đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải định
nghĩa rõ trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm;
- Thể hiện rõ ràng, minh bạch quyền lợi có thể được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, phạm
vi và các rủi ro được bảo hiểm, quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người được
bảo hiểm, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm,
phương thức trả tiền bảo hiểm, các quy định giải quyết tranh chấp;
- Phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo khả năng thanh
toán của doanh nghiệp bảo hiểm và phải tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm.
21
Luật kinh doanh bảo hiểm
- Các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được chi trả hoa hồng bảo hiểm từ phần phí bảo hiểm
thực tế thu được theo tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm do Bộ Tài chính quy định cho từng nghiệp vụ
bảo hiểm. Đối tượng được hưởng hoa hồng bảo hiểm bao gồm: Doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm; Đại lý bảo hiểm. Không được chi trả hoa hồng bảo hiểm cho các đối tượng sau: Tổ
chức, cá nhân không được phép hoạt động đại lý bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm tại
Việt Nam;Tổ chức, cá nhân trực tiếp mua bảo hiểm, trừ trường hợp đại lý bảo hiểm mua bảo
hiểm nhân thọ cho chính mình; Cán bộ, nhân viên của chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền chuyển nhượng một
phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng
không được nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho
doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm
khác đã nhận bảo hiểm. Khi nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đánh giá rủi ro để

Luật kinh doanh bảo hiểm
và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm.
Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm: Vốn điều lệ; Quỹ dự trữ bắt buộc;
Quỹ dự trữ tự nguyện; Các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng và các quỹ được sử
dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại doanh nghiệp; Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm.
- Việc đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và tính thanh
khoản theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo
hiểm được phép đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật đối với phần vốn chủ sở
hữu vượt quá mức vốn pháp định hoặc biên khả năng thanh toán tối thiểu, tùy theo số nào lớn
hơn.
- Đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm được
thực hiện trực tiếp bởi doanh nghiệp bảo hiểm hoặc thông qua uỷ thác đầu tư và chỉ được đầu
tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực sau: Mua trái phiếu Chính phủ; Mua cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp; Kinh doanh bất động sản; Góp vốn vào các doanh nghiệp khác; Cho vay theo
quy định của Luật các tổ chức tín dụng; Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.
Đối với nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm thì việc đầu tư vốn được
pháp luật quy định cụ thể danh mục đầu tư và tỷ lệ vốn nhàn rỗi được phép đầu tư vào mỗi
danh mục đầu tư nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp bảo hiểm luôn duy trì được khả năng thanh
toán cụ thể:
* Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi từ
dự phòng nghiệp vụ được đầu tư để:
- Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức
tín dụng không hạn chế;
- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh
nghiệp khác tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm;
- Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính - tín dụng tối
đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
* Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi từ dự
phòng nghiệp vụ được sử dụng để đầu tư:

bảo hiểm;
- Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo
yêu cầu của bên mua bảo hiểm.
Tổ chức, cá nhân muốn thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm phải thành lập doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm theo một trong các loại hình sau: Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
nhà nước; Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm; Công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo
hiểm; Công ty hợp danh môi giới bảo hiểm; Doanh nghiệp tư nhân môi giới bảo hiểm; Doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh; Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tư
nước ngoài.
2.2.2 Quy chế hoạt động
Quy chế tổ chức hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được thực hiện tương tự
như doanh nghiệp bảo hiểm. Tuy nhiên, có một số quy định khác biệt chẳng hạn vốn pháp
định chỉ cần 4 tỷ VND và một số quy định của doanh nghiệp bảo hiểm không áp dụng cho
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm như quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ, tái bảo hiểm,
đầu tư vốn, khả năng thanh toán…
Pháp luật quy định doanh nghiệp môi giới bảo hiểm trong hoạt động có các quyền và
nghĩa vụ sau:
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hưởng hoa hồng môi giới bảo hiểm. Hoa hồng môi
giới bảo hiểm được tính trong phí bảo hiểm.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có nghĩa vụ: Thực hiện việc môi giới trung thực; Không
được tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo
hiểm; Bồi thường thiệt hại cho bên mua bảo hiểm do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm chỉ được tư vấn, giới thiệu cho bên mua bảo hiểm các
quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đã được Bộ Tài chính ban hành, phê chuẩn hoặc doanh
nghiệp bảo hiểm đã đăng ký với Bộ Tài chính.
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt
động môi giới bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam.
2.3 Đại lý bảo hiểm
2.3.1 Khái niệm
Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp

2.3.4 Quyền và nghĩa vụ của đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm có các quyền sau:
- Lựa chọn và ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm đối với doanh nghiệp bảo hiểm theo đúng
quy định của pháp luật;
- Tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đại lý bảo hiểm do doanh
nghiệp bảo hiểm tổ chức;
- Được cung cấp thông tin cần thiết cho các hoạt động của mình và các điều kiện khác để
thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm;
- Hưởng hoa hồng và các quyền, lợi ích hợp pháp khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm;
- Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm hoàn trả tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp theo thoả
thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm.
Đại lý bảo hiểm có các nghĩa vụ sau:
- Thực hiện cam kết trong hợp đồng đại lý bảo hiểm đã ký với doanh nghiệp bảo hiểm;
- Ký quỹ hoặc thế chấp tài sản cho doanh nghiệp bảo hiểm nếu có thoả thuận trong hợp
đồng đại lý bảo hiểm;
- Giới thiệu, mời chào, bán bảo hiểm; cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác cho bên
mua bảo hiểm; thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo phạm vi được ủy quyền trong hợp đồng đại
25

Trích đoạn CHƯƠNG III: HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM 3.1 Hợp đồng bảo hiểm Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm, các điều khoản loại trừ, rủi ro Phương thức thanh toán tiền bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm Giá trị tài sản bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status