.luận văn quản trị nhân lực Thực tiễn tác động của những biến đổi xã hội ở đô thị và những vấn đề đặt ra trong điều kiện xã hội Việt Nam hiện nay. - Pdf 27

Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU.
Chương I: Những vấn đề liên quan đến biến đổi xã hội.
1.Khái niệm về xã hội học.
2.Những biến đổi xã hội.
2.1.Đặc điểm của biến đổi xã hội.
Chương II:Thực tiễn tác động của những biến đổi xã hội ở đô thị và những
vấn đề đặt ra trong điều kiện xã hội Việt Nam hiện nay.
1.Một số vấn đề gây biến đổi xã hội ở đô thị.
1.1.Vấn đề về giao thông.
1.2.Vấn đề về kinh tế.
1.3.Vấn đề về dân số.
2.Những vấn đề đặt ra trong điều kiện xã hội Việt Nam hiện nay.
KẾT LUẬN.
Lời mở đầu
Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay là đô thị
hóa, đó là cơ sở để tạo ra một xã hội phát triển cao về mọi mặt trong đời
sống. Khi xã hội phát triển càng cao thì nảy sinh càng nhiều vấn đề phức tạp
hay những sự thay đổi ở đô thi càng mạnh mẽ trong bối cảnh những vấn đề ở
nông thôn đang thay đổi nhanh chóng, các kiểu quan hệ truyền thống bị thay
đổi trong xã hội hiện đại. Các vấn đề ở đô thị càng ngày càng xuất hiện nhiều
và tao ra một xã hội rất nhiều biến động.
Quá trình đô thị hóa: xu hướng đô thị hóa gia tăng, khu vực nông thôn ngày
càng thu hẹp, khu vực đô thị ngày càng mở rộng kéo theo sự tích tụ, tập trung
dân cư, mật độ dân số cao, rất nhiều hiện tượng xã hội phức tạp khả năng
kiểm soát của xã hội đối với mỗi hành vi của một cá nhân là khăng khít, vì
quan hệ xã hội ở đô thị là quan hệ xã hội mang tính chất giao tiếp và đa dạng.
Quá trình đô thị hóa làm thay đổi các nguy cơ xã hội, các tệ nạn xã hội. Cơ cấu
xã hội ở đô thị là quan hệ mang giao tiếp và đa dạng, phức tạp và đan xen
nhau. Đô thị có rất nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội. Phân tầng xã hội, phân
hóa giàu nghèo ở đô thị diễn ra rát mạnh mẽ. Ở đô thị có người giàu nhất mà

học cũng có những vị trí riêng, không đồng nhất với các khoa học xã hội học khác;vị trí này được quy định bởi tính đặc thù của đối tượng và phương pháp nghiên cứu xã hội học.
2-Biến đổi xã hội
Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi. Sự ổn định
của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi
bên trong bản thân nó. Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó
có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi trong
xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho thấy rõ hơn là sự
biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thành chuyện thường ngày.
Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện thực khác, không ngừng
vận động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều ở trong một thực trạng đứng yên
trong sự vận động liên tục. Có nhiều cách quan niệm về sự biến đổi xã hội, như:
Phạm vi rộng: biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng
xã hội hoặc một nếp sống có trước.
Phạm vi hẹp: biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ chức
xã hội của xã hội đó, mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các
thành viên của một xã hội.
Riêng những biến đổi chỉ tác động đến một số ít cá nhân, thì ít được các
nhà xã hội học quan tâm và chú ý.
Auguste Comte đưa ra thuật ngữ xã hội học đã tin tưởng rằng khi các nhà
xã hội học xác định những nguồn gốc của sự biến đổi xã hội, thì họ có thể giúp
chương trình cho một tương lai tốt hơn. Auguste Comte cho rằng, biến đổi xã
hội là:
• chắc chắn xảy ra.
• sẽ theo một con đường phát triển.
• những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn.
Auguste Comte tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại chuyển
từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và những cái mà
chúng ta được học hoặc được phát triển tiến về con đường tách khỏi sự sắp đặt
của Thượng đế vì sự tiến bộ của nhân loại.
2.1.Đặc điểm của biến đổi xã hội:

Có một thực tế mà chúng ta cần dũng cảm nhìn nhận đó là về hệ thống
giao thông đường bộ của ta. Dưới tác động của quy luật phát triển những tòa
nhà mọc lên như nấm san sát hai bên những con đường mà bề rộng không hề
tương xứng với nó, đầy những cửa hàng cửa hiệu kinh doanh dịch vụ, khách
ra vào đông đúc, người sang đường nhiều hơn, ấy vậy mà đường lại quá
hẹp.Chúng ta có quyền hi vọng, nhưng phải thừa nhận rằng muốn làm được
như vậy phải có sự đầu tư lớn về vốn. Có thể nói đây là điều kiện cần và đủ để
khả năng không còn ách tắc giao thông, hạn chế tai nạn trở thành hiện thực
trong tương lai.
Như vậy. ở đây đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức của nhà nước có
nhiều chính sách đầu tư hợp lý vào cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ. Trên
đây là tình hình giao thông thành thị.
b-Nguyên nhân:
Phân tích tình hình an toàn giao thông hiện nay trong thành phố, thấy
rõ được những nguyên nhân cơ bản sau:
- Lượng phương tiện lưu thông trong giờ cao điểm lớn.
- Chưa đầu tư đúng vào cơ sở hạ tầng.
- Hệ thống giao thông công cộng chưa phát triển.
- Tình trạng lạc hậu và non kém trong quản lý giao thông và đô thị.
- ý thức chấp hành luật giao thông của người tham gia giao thông còn
kém
- Chưa giải quyết được dứt điểm tình trạng lấn chiếm lòng đường vỉa hè.
- Chất lượng phương tiện giao thông không đạt chuẩn.
- Trong điều kiện hiện tại khi mà chưa đủ vốn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng và
hệ thống giao thông công cộng thì nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tai nạn giao
thông là do ý thức của người tham gia giao thông. Không đâu như ở nước ta
đèn đỏ vẫn đi, lạng lách, vi phạm tốc độ ở những nơi không có cảnh sát giao
thông, đi lấn tuyến . Và dường như đội mũ bảo hiểm chỉ là chống đối. Người
tham gia giao thông vẫn chưa ý thức được ấy là vì bảo vệ tính mạng của
chính mình.

Sự chuyển biến từ nghề nghiệp đan xen giữa các ngành phi nông nghiệp
và nông nghiệp sang định hình cơ bản ngành nghề phi nông nghiệp. Nếu như
vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều vùng nội thành của Hà Nội vẫn
duy trì sản xuất nông nghiệp như trồng húng thơm ở Láng (Đống Đa), trồng
hoa ở Ngọc Hà, Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm (Tây Hồ), trồng rau muống ở
nhiều quận nội thành, trồng lúa ở quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, thì đến nay
hầu như không còn. Tại các quận nội thành mới mở rộng như Hoàng Mai,
Long Biên dù vẫn còn cư dân nông nghiệp, nhưng tốc độ chuyển đổi sang sản
xuất phi nông nghiệp cũng diễn ra khá nhanh chóng.
Với 87 triệu dân (kể cả ở nước ngoài), công nhân nước ta hiện có
khoảng 9-10 triệu người, trong đó bộ phận công nhân trong khu vực kinh tế
nhà nước không nhiều nhưng là nòng cốt. Công nhân làm việc trong khu vực
kinh tế tư nhân, nhất là trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư là nước
ngoài đang đứng trước rất nhiều tình huống: lao động với cường độ cao, điều
kiện sống rất khó khăn, nhất là nhà ở, đời sống văn hoá tinh thần thấp kém,
việc bảo vệ quyền và lợi ích cho họ không được quan tâm đúng mức, kịp thời,
tình trạng đình công, bãi công đang tăng lên ở các khu công nghiệp, quan hệ
chủ - thợ đang có những tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đòi hỏi phải giải
quyết. Đó là chưa nói tới trình độ hạn chế của công nhân và lao động về học
vấn, chuyên môn, nghiệp vụ. Chất lượng nguồn nhân lực không đảm bảo là
một trở ngại lớn trong cạnh tranh và phát triển.
Đội ngũ trí thức, công chức gần đây đang xuất hiện tình huống bỏ việc ở
cơ quan nhà nước và đi tìm kiếm việc làm ở khu vực tư nhân. Họ không tìm
thấy những đảm bảo cho cuộc sống và triển vọng phát triển trong khu vực
công. Đó là tình huống có vấn đề từ chính sách, cơ chế. Bản thân đội ngũ tri
thức với cơ cấu về trình độ, chuyên môn, nghề nghiệp cũng đang phân hoá.
Đang ngày càng gay gắt vì sự hẫng hụt giữa các thế hệ khoa họ. Thiếu
nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia, khoa học chậm phát triển, giáo dục đang
suy thoái về chất lượng, nhất là chịu tác động tiêu cực của thương mại hoá
b-Nguyên nhân

đa dạng của sự kết hợp giữa lao động - nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, thế
hệ, dân tộc, tôn giáo, trong nước và ngoài nước. Trong nền kinh tế thị trường,
sự hình thành tầng lớp (hay đội ngũ) doanh nhân là một tất yếu tự nhiên và
là một xu hướng tích cực đối với phát triển. Tầng lớp này có vị trí và vị thế
quan trọng cả về kinh tế và xã hội, nhất là trong hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã khách quan hoá vai trò quan trọng vốn có
của công nhân và trí thức, nhất là trong xu hướng tiến tới kinh tế tri thức, xã
hội thông tin và nền kinh tế dựa trên công nghệ cao trong thế giới toàn cầu
hoá.
1.3.Luồng di cư vào đô thị Từ 1994-2007
Một trong những biến đổi xã hội ở đô thị cần được kể đến là dân cư, cụ thể
là luồng dân di cư vào đô thị trong những năm gần đây. Nó có nhiều tác động
đến xã hội đô thị. Để làm rõ vấn đề này, chúng ta sẽ đi vào chi tiết như sau:
a-Thực trạng
Trong thời gian 1994-1999, trong tổng số hơn 4,5 triệu người từ 5 tuổi
trở lên di chuyển, thì 50,2% dến các đô thị, 49,8% về vùng nông thôn. Trong
tổng số 50,2% chuyển đến các đô thị, thì 24,6% từ nông thôn, 23,9% từ thành
thị và 1,7% là không xác định. Trong khi di cư vào thành thị chiếm ưu thế, thì
di cư từ thành thị về nông thôn chỉ chiếm 10,9% tổng số người chuyển cư.
Năm 2006, số người di chuyển vào khu vực thành thị (49%) ít hơn về
nông thôn (51%). Nhưng nếu lưu ý rằng vào năm đó gần 73% dân số sống ở
nông thôn, thành thị chỉ 27%, thì có thể thấy cường độ di chuyển vào đô thị
lớn hơn nhiều so với về vùng nông thôn.
Năm 2007, 49,9% tổng số người di cư đã đổ vào các đô thị, trong đó di cư
nông thôn - thành thị chiếm 22,0%, di cư thành thị - thành thị chiếm 27,9%.
Mạng lưới đô thị trong cả nước đang phát triển và thay đổi cấu trúc, do các
luồng di cư thành thị - thành thị điều chỉnh, làm tăng thêm tỉ trọng của các
thành phố lớn hơn trong cơ cấu chung. Có thể nhận thấy thời gian này, tỉ lệ
di cư thành thị - thành thị chiếm trên 50%, ưu thế thuộc về dòng di cư giữa
các đô thị.

đặc sắc đối với Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, khi khảo sát riêng cho khu vực
thành thị và khu vực nông thôn và phân theo các nhóm: không di cư; di cư nội
tỉnh; di cư ngoại tỉnh. Những người không di cư có kết cấu dân số ổn định,
thậm chí là dạng kết cấu dân số già (khu vực thành thị của hai thành phố
này). Tính chọn lọc cao đối với người chuyển cư đã dẫn đến chỗ trong cơ cấu
dân số theo tuổi và giới tính, tỉ trọng của nhóm tuổi lao động sung sức cao
hơn hẳn.
Và từ luồng di cư vào đô thị, chúng đã có những tác động sau:
(i) Tình trạng thiếu việc làm của một bộ phận nhân lực xã hội
không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp;
(ii) Tệ nạn xã hội phổ biến đối với một bộ phận dân cư mất đất canh
tác, thiếu việc làm, nhất là trong điều kiện được nhận một khoản
tiền đền bù mà không biết xoay xở sinh kế;
(iii) Hợp tác và xung đột giữa dân nhập cư với dân tại chỗ diễn ra trên
nhiều mặt của đời sống văn hóa, lối sống đô thị.
(iv) Không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về vấn đề nhà ở, dịch vụ xã
hội, an toàn xã hội. Còn các nhu cầu tinh thần như nghỉ ngơi, giải
trí, học tập, hôn nhân, rất khó khăn.
(v) Ách tắc và an toàn giao thông ngày càng tăng.
(vi) Tuy nhiên việc chuyển cư vào đô thị cũng làm lực lượng lao động
tăng, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.Những vấn đề đặt ra trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Báo cáo của Chính phủ Việt Nam về phát triển xã hội tại Hội nghị Thượng
đỉnh các quốc gia bàn về phát triển xã hội tại Capenhagen (Đan Mạch) từ 6-
12/3/1995 đã đề cập tới 10 vấn đề xã hội trong phát triển, đó là: 1) giải quyết
việc làm (một vấn đề tổng hợp kinh tế- xã hội); 2) xoá đói giảm nghèo; 3) hoà
nhập xã hội (chú trọng vào các nhóm xã hội quan trọng bị thua thiệt trong
phát triển, dễ bị tổn thương); 4) gia đình (tăng cường vai trò của gia đình
như một thiết chế xã hội điển hình); 5) phát triển giáo dục; 6) dân số, kế
hoạch hoá gia đình; 7) chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; 8) bảo trợ xã hội (bảo

tô tải, xe thô sơ…tham gia giao thông trên các tuyến chính vào giờ cao
điểm
- Tăng cường lực lượng cảnh sát giao thông, nghiêm cấm các hành vi vi
phạm
Đối với người tham gia giao thông
- Khi lưu thông trên đường không nên phân tán tư tưởng, không sử
dụng điện thoại khi tham gia giao thông
- Không phóng nhanh vượt ẩu, rèn luyện thói quen sử dụng cả 2 tay để
tăng độ an toàn
- Phải làm chủ tốc độ tránh gây tai nạn cho mình và người khác
- Đặc biệt không được uống rượu bia khi tham gia giao thông.
• Về kinh tế: Làm sao thích ứng nhanh với điều kiện về công nghệ,
khoa học kĩ thuật và chọn phương pháp phù hợp?
Do phát triển sản xuất hàng hoá và kinh tế hàng hoá nên hoạt động sản
xuất - kinh doanh, hoạt động kinh tế tất yếu phải tuân theo quy luật giá trị,
quy luật cung - cầu, quy luật thị trường. Đây là phương thức cần thiết và là
động lực mạnh mẽ để phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất,
đẩy mạnh phân công lao động, vị thế và vai trò của người lao động, các chủ
hộ lao động, của doanh nghiệp và doanh nhân được khẳng định. Với tư cách
chủ thể, họ có quyền chủ động trong sản xuất - kinh doanh, quyền đó đi liền
với quyền tự chịu trách nhiệm trước kết quả sản xuất và hiệu quả kinh doanh,
chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhà nước trong nền kinh tế thị trường chỉ
thực hiện quyền quản lý hành chính trong kinh tế, theo luật pháp hiện hành,
không can thiệp tùy tiện vào hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là thẩm
quyền của người lao động (cá thể, tư nhân), của các doanh nghiệp và chủ
doanh nghiệp (doanh nhân). Với kinh tế thị trường, nền kinh tế quốc dân là
một chỉnh thể thống nhất các thành phần kinh tế, các thành phần kinh tế đều
bình đẳng trước pháp luật, đa dạng hoá các hình thức sở hữu (nhà nước, tập
thể, tư nhân) dẫn đến đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất - kinh
doanh, đa dạng hoá các hình thức phân phối. Mọi công dân có quyền làm tất

nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nơi nào có khu công nghiệp thì ở đó có các đô thị.
Quá trình hình thành đô thị ở Việt Nam dẫn tới biểu hiện của các hiên
tượng khác nhau. Đô thị gắn với khu công nghiệp, hiện tượng gắn với việc
làm và lao động, đô thị là thủ phủ hành chính gắn với các viên chức nhà
nước.Chính vì thế, nếu hiểu được bản chất, tiến trình của xã hội học đô thị sẽ
giúp cho các nhà Lãnh đạo, chức trách có những hoạch định, chính sách phát
triển đúng đắn.
Qua bộ môn Xã hội học, nhóm đã có những kiến thức khái quát về các vấn
đề xã hội học ở đô thị nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Mặc dù, nhóm đã có
những cố gắng trong việc tìm hiểu, nghiên cứu, song không tránh khỏi những
thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý của Thầy để nhóm hoàn thành bài
tốt hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status