LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
HOÀNG VĂN DIỆN
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động bảo hiểm giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế không chỉ
góp phần phòng chống, hạn chế, khắc phục các thiệt hại, tổn thất cho nền kinh
tế mà còn đóng vai trò là một trong những tổ chức đầu tư lớn trên thị trường tài
chính. Thực tế kinh doanh bảo hiểm trên thế giới đã chứng tỏ rằng kết quả kinh
doanh của phần lớn các công ty bảo hiểm là nhờ vào hoạt động đầu tư. Hoạt
động đầu tư nói chung và đầu tư tài chính nói riêng có vai trò quan trọng, quyết
định sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp bảo hiểm nào.
Hoạt động kinh doanh của Tổng Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân
đội trong những năm qua đã có những bước phát triển vượt bậc. Tuy nhiên,
hoạt động đầu tư tài chính của Tổng Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân
đội chưa đạt hiệu quả cao do tỷ trọng đầu tư chưa cao, phạm vi quá bó hẹp, quá
thuần tuý, tính chuyên nghiệp trong quản lý chưa đồng bộ, mức độ tập trung
hóa, đa dạng hóa còn thấp. Khi nền kinh tế đang phát triển ngày một sôi động
đòi hỏi Tổng Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội cần phải nâng cao
hoàn thiện hóa đồng bộ các hoạt động đầu tư để đem lại khả năng cạnh tranh và
đứng vững trên thị trường. Để thực hiện được công việc này thì đòi hỏi phải có
những phân tích, đánh giá quá trình hoạt động đầu tư tài chính tại công ty. Do
vậy, tác giả chọn đề tài “Hiệu quả đầu tư tài chính của Tổng công ty Cổ
phần Bảo hiểm Quân đội - MIC” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây vấn đề hoạt động đầu tư tài chính trong doanh
nghiệp bảo hiểm đã được nghiên cứu và đề cập ở nhiều góc độ và khía cạnh
hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính tại của Tổng Tổng Công ty Cổ phần Bảo
hiểm Quân đội.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn hoạt động đầu tư tài chính của Tổng
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội từ năm 2012 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp và sử
dụng các bảng số liệu để minh họa. Phương pháp nghiên cứu tình huống và
nghiên cứu điển hình lấy Tổng Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội làm
đối tượng nghiên cứu trực tiếp trên cơ sở so sánh với toàn hệ thống các doanh
nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn cũng vận dụng kết quả
các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở
khoa học và thực tiễn của đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn hệ thống hóa các quan niệm về đầu tư, từ đó làm rõ bản chất
hoạt động đầu tư tài chính tại các doanh nghiệp bảo hiểm. Luận văn đưa ra ba
nguyên tắc đầu tư cơ bản đối với doanh nghiệp bảo hiểm là: nguyên tắc an
toàn, nguyên tắc sinh lời và nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường
xuyên trên cơ sở phân tích nguồn vốn đầu tư.
Luận văn trình bày có hệ thống các hình thức đầu tư của doanh nghiệp bảo
hiểm: đầu tư tiền gửi, đầu tư chứng khoán, … Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt
động đầu tư và một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp bảo hiểm.
Bằng số liệu cụ thể, luận văn tập trung phân tích, đánh giá thực trạng hoạt
động đầu tư của MIC trong những năm gần đây trên các mặt: tổ chức hoạt động
đầu tư; nguồn vốn đầu tư; quy mô, cơ cấu danh mục đầu tư và hiệu quả hoạt
động đầu tư. Thông qua phân tích, luận văn rút ra một số thành quả đạt được và
những hạn chế cần khắc phục đối với hoạt động đầu tư của MIC.
Trên cơ sở đánh giá thị trường và các mục tiêu cơ bản đối với hoạt động
đầu tư của MIC, chương 3 của luận văn đã đưa ra một số giải pháp, kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tại MIC trong thời gian tới.
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO
HIỂM
1.1. Khái quát chung về DNBH phi nhân thọ
1.1.1. Bảo hiểm và DNBH Phi nhân thọ
a) Bảo hiểm
Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho
Bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sự
chuyển giao rủi ro và kết hợp số đông các đơn vị, đối tượng riêng lẻ và độc lập,
chịu cùng rủi ro như nhau thành một nhóm tương tác.
Tuy nhiên, bảo hiểm do đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn của con người
vốn dĩ rất phong phú và biến động, nên cũng rất đa dạng. Rất khó tìm kiếm một
định nghĩa về bảo hiểm cho nhiều góc nhìn khác nhau, tương ứng với các lĩnh
vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội. Sau đây là một số trích dẫn:
Theo Tiến sỹ David Bland, “bảo hiểm là một hợp đồng theo đó một bên,
(gọi là doanh nghiệp bảo hiểm), bằng việc thu một khoản tiền (gọi là phí bảo
hiểm), cam kết thanh toán cho bên kia (gọi là người được bảo hiểm) một khoản
tiền, hoặc hiện vật tương đương với khoản tiền đó khi xảy ra một sự cố đi
ngược lại quyền lợi của người được bảo hiểm".
Theo Từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt: “Bảo hiểm là
cơ chế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu quả của một số rủi ro thuần
tuý bằng cách chia sẻ rủi ro cho nhiều người cùng gánh chịu”.
Theo Từ điển bảo hiểm Pháp - Việt, Nhà xuất bản Thống kê 1996: Bảo
hiểm là một nghiệp vụ mà theo đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận
trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm hay khoản đóng góp cho chính mình hay
cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một
khoản bồi thường từ một bên khác là người bảo hiểm, người chịu trách nhiệm
đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo luật số lớn.
Theo Giáo trình Lý thuyết Bảo hiểm của Học viện Tài chính, “Bảo
hiểm là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng bảo
hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và DNBH cam
bắt đầu xuất hiện ở nước ta vào năm 1993 sau khi có sự ra đời của Nghị định
100/1993/NĐ-CP. Hiện nay, loại hình kinh doanh này chịu sự quy định của Luật
số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 về kinh doanh Bảo hiểm, Luật số
61/2010/QH12 ngày 24/11/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh
doanh Bảo hiểm số 24/2000/QH10 và các nghị định, thông tư quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành.
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm được chia ra thành bảo hiểm nhân
thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm liên quan
tới sinh mạng con người bao gồm bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm
tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp Bảo hiểm phi nhân thọ liên quan đến các tổn thất về
tài sản và tai nạn con người, bao gồm bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại, bảo
hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảo
hiểm cháy, nổ, bảo hiểm thânt àu và trách nhiệm dân sự chủ tàu DNBH phi
nhân thọ kinh doanh loại hình bảo hiểm phi nhân thọ.
Về mặt pháp lý, DNBH phi nhân thọ là doanh nghiệp được thành lập, tổ
chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định
khác của pháp luật có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm. DNBH phi nhân thọ
do Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Cục quản lý và giám sát
bảo hiểm quản lý và giám sát hoạt động. Theo quy định tại Luật số
24/2010/QH, BNBH phi nhân thọ bao gồm: Công ty cổ phần bảo hiểm, Công ty
trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, Hợp tác xã bảo hiểm, Tổ chức bảo hiểm tương
hỗ.
Về mặt kinh tế, DNBH phi nhân thọ huy động vốn bằng cách bán chứng
nhận bảo hiểm (hoạt động kinh doanh bảo hiểm) cho công chúng và sử dụng
nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường tài chính.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh
Theo điều 60 của Luật số 24/2000/QH10 quy định hoạt động của DNBH
phi nhân thọ bao gồm: Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh Tái bảo hiểm; Đề
phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất; Giám định tổn thất; Đại lý giám định tổn thất,
xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn; Quản lý quỹ và đầu
liên quan để xác định tính chất, nguyên nhân mức độ thiệt hại Điều quan
trọng của công tác giám định là xác định nguyên nhân rủi ro có thuộc phạm vi
bảo hiểm hay không và tổn thất thực tế là bao nhiêu để làm căn cứ bồi thường
Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người
thứ ba bồi hoàn
DNBH không chỉ giám định tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm của mình
mà còn có thể làm đại lý giám định tổn thất cho DNBH khác
Căn cứ biên bản giám định, đối chiếu với hợp đồng bảo hiểm, doanh
nghiệp xem xét giải quyết bồi thường theo các nguyên tắc quy định. Giải quyết
bồi thường phải nhanh chóng, kịp thời, đúng thủ tục nhằm nhanh chóng giúp
người bị hại khắc phục hậu quả của rủi ro, tai nạn bất ngờ. Nếu có sự tranh
chấp giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm về số tiền bảo hiểm, việc
giải quyết sẽ được chuyển cho các cơ quan thẩm quyền theo luật định.
Quản lỹ quỹ và đầu tư vốn
Mục đích hoạt động kinh doanh bảo hiểm là lợi nhuận. Do đó, quản lý quỹ
bảo hiểm (phí bảo hiểm) và đầu tư vốn là hết sức quan trọng. Quản lý quỹ là
tức là quản lý thu chi đúng chế độ, thu đúng, thu đủ, triệt để khai thác các
nguồn thu, chi đúng chế độ kịp thời, tiết kiệm nhất là chi bồi thường, chi quản
lý Nguồn quỹ thu được chưa chi đến phải đem đầu tư sinh lời nhưng phải
đảm bảo vừa sinh lời cao, vừa đảm bảo không mất vốn.
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm còn thực hiện hoạt động đầu tư và các
hoạt động tài chính khác như mua trái phiếu Chính phủ; mua cổ phiếu, trái
phiếu doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản; góp vốn vào các doanh nghiệp
khác; cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng; gửi tiền tại các tổ
chức tín dụng.
Khác với các lĩnh vực kinh doanh khác, lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ có những đặc trưng riêng như:
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình: nó là lời cam kết của DNBH
với người tham gia bảo hiểm, không giống với các sản phẩm hiện hữu hay các
dịch vụ quan sát được;
doanh nghiệp. Nếu trong trường hợp thay đổi vốn điều lệ, DNBH phải có đơn
đề nghị và văn bản giải trình gửi Bộ Tài chính. Đối với trường hợp DNBH
được thành lập, tổ chức và hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực, có
số vốn điều lệ thấp hơn mức vốn pháp định quy định như trên thì trong thời hạn
3 năm, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, DNBH phải bổ sung đủ vốn điều
lệ theo quy định.
b) Dự phòng nghiệp vụ
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh hết sức đặc thù:
kinh doanh rủi ro, chính vì vậy, Nhà nước quan tâm, bảo vệ đối tượng mua bảo
hiểm. Bộ Tài chính quy định doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập dự phòng
nghiệp vụ theo từng nghiệp vụ bảo hiểm đối với phần trách nhiệm giữ lại của
doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, dự
phòng nghiệp vụ bao gồm: dự phòng phí, dự phòng bồi thường và dự phòng
dao động lớn. Trong đó nội dung của các khoản dự phòng được quy định như
sau:
- Dự phòng phí chưa được hưởng, được sử dụng để bồi thường cho
trách nhiệm sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm
trong năm tiếp theo;
- Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết, được sử dụng để
bồi thường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc trách nhiệm bảo hiểm chưa
khiếu nại hoặc đã khiếu nại nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải
quyết;
- Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất, được sử dụng
để bồi thường khi có dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà tổng
phí bảo hiểm giữ lại trong năm tài chính sau khi đã trích lập dự phòng phí chưa
được hưởng và dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết không đủ
để chi trả tiền bồi thường đối với phần trách nhiệm giữ lại của DNBH.
c) Đầu tư vốn
Việc trích lập nguồn dự phòng vì vậy nguồn vốn đầu tư của DNBH ngoài
nguồn vốn chủ sở hữu, các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
DNBH tại thời điểm tính biên khả năng thanh toán. Tuy nhiên, các tài sản tính
biên khả năng thanh toán của DNBH phải bảo đảm tính thanh khoản (tức là
phải tính đến các tài sản bị loại trừ toàn bộ hoặc một phần thực hiện theo
hướng dẫn của Bộ Tài chính). DNBH bị coi là có nguy cơ mất khả năng thanh
toán khi biên khả năng thanh toán của DNBH thấp hơn biên khả năng thanh
toán tối thiểu. Khi đó, DNBH phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự
khôi phục khả năng thanh toán đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng
tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phương án
khôi phục khả năng thanh toán. Trong trường hợp DNBH không tự khôi phục
được khả năng thanh toán thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu DNBH thực hiện
khôi phục khả năng thanh toán, gồm những biện pháp sau: bổ sung nguồn vốn
chủ sở hữu; TBH; thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ
một phần hoặc toàn bộ hoạt động; củng cố tổ chức bộ máy và thay đổi người
quản trị, điều hành của DN; yêu cầu chuyển giao hợp đồng bảo hiểm; các biện
pháp khác. Trong trường hợp DNBH không khôi phục được khả năng thanh
toán theo yêu cầu của Bộ Tài chính, DNBH sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát
đặc biệt.
e) Doanh thu, chi phí, kết quả
Với đặc điểm tổ chức hoạt động của DNBH đã trình bày ở trên, doanh thu
của DNBH bao gồm thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thu từ hoạt động
đầu tư tài chính, thu nhập hoạt động khác.
Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm là số tiền phải thu phát sinh
trong kỳ sau khi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ (bao
gồm doanh thu kinh doanh bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm): Số tiền phải thu phát
sinh trong kỳ bao gồm: thu phí bảo hiểm gốc, thu phí nhận Tái bảo hiểm, thu
hoa hồng nhượng Tái bảo hiểm, thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định
tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng
bồi thường 100%, thu phí giám định tổn thất không kể giám định hộ giữa các
đơn vị thành viên hạch toán nội bộ trong cùng một DNBH hạch toán độc lập.
Các khoản phải chi để giảm thu phát sinh trong kỳ bao gồm: hoàn phí bảo
Việc theo dõi và quản lý chi phí kinh doanh bảo hiểm vô cùng phức tạp do
tính chất nhỏ lẻ nhưng khối lượng lớn. Riêng nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới
chiếm khoàng 40% - 50% doanh thu, tỷ lệ bồi thường khoảng 50%/doanh thu,
trong đó có khoảng 7,5 triệu xe mô tô, xe máy và 1,4 triệu xe ô tô đã tham gia
bảo hiểm. Mỗi năm, toàn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ giải quyết trên
300.000 vụ bồi thường với số tiền bồi thường trên 3.000 tỷ đồng. Điều này đòi
hỏi công tác quản trị rất tốn kém thời gian và công sức.
Chi phí hoạt động tài chính: chi phí hoạt động tài chính của DNBH bao
gồm 5 loại chi phí sau: chi phí hoạt động đầu tư; thu nhập đầu tư phải trả cho
bên mua bảo hiểm theo cam kết tại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; chi phí cho
thuê tài sản; chi thủ tục phí ngân hàng, trả lãi tiền vay; chi, trích khác theo quy
định của pháp luật.
Chi phí hoạt động khác: chi nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; chi phí
cho việc thu hồi khoản nợ phải thu khó đòi đã xoá nay thu hồi được; chi, trích
khác theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào đặc điểm doanh thu và chi phí của DNBH, kết quả kinh doanh
của DNBH bao gồm kết quả của ba hoạt động trên: lợi nhuận hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính và lợi nhuận hoạt động
khác. Sau khi tính được kết quả kinh doanh bảo hiểm, DNBH phải làm đầy đủ
nghĩa vụ với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật như: nộp thuế
Thu nhập doanh nghiệp theo luật định, trích lập quỹ dự trữ bắt buộc (được tính
bằng 5% lợi nhuận sau thuế, tối đa có thể bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh
nghiệp), sau đó DNBH mới được phân phối lợi nhuận còn lại theo quy định của
pháp luật.
DNBH phải thực hiện công tác quản trị tài chính theo các nguyên tắc,
chuẩn mực do Bộ Tài chính quy định đồng thời DNBH, phải xây dựng, triển
khai và giám sát việc thực hiện quy chế tài chính, quy chế đầu tư, quy chế kiểm
soát và kiểm toán nội bộ và các quy trình thủ tục tương ứng.
Tóm lại, có thể nói những đặc điểm hoạt động kinh doanh và đặc điểm tài
chính của DNBH hết sức phức tạp với đặc thù “kinh doanh rủi ro” và “sản xuất
tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo
tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
1.2.3. Đặc điểm của hoạt động đầu tư tài chính
Hoạt động đầu tư tài chính không tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế mà
chỉ làm tăng giá trị tài sản chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Đầu tư tài chính
có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian tài chính.
1.2.4. Vai trò của hoạt động đầu tư tài chính
Vai trò nổi bật nhất của hoạt động đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư
cung cấp một nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Với sự hoạt động
của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển một cách dễ
dàng, khi cần có thể rút ra nhanh chóng thông qua việc chuyển nhượng, mua
bán các công cụ tài chính trên thị trường tài chính, điều này đã khuyến khích
người có tiền bỏ ra để đầu tư.
1.3. Hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.1. Đặc điểm hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm được hiểu là hành động chỉ
dùng vốn nhàn rỗi từ vốn chủ sở hữu và phí bảo hiểm thu được nhằm mục đích
thu lợi nhuận trong tương lai cho doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư được phân
thành hai loại chính là đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính. Trong khuôn khổ
của luận văn, tác giả chỉ đề cập nghiên cứu đến hoạt động đầu tư tài chính của
doanh nghiệp bảo hiểm.
Hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm mang những đặc
điểm chung của quá trình đầu tư. Tuy nhiên do đặc thù của hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm có
những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bao gồm
những nguồn vốn hình thành từ vốn chủ sở hữu và nguồn vốn nhàn rỗi từ quỹ
dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
Thứ hai, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhà
nước bằng hệ thống những văn bản quy định hình thức và tài sản được phép
Kinh doanh bất động sản;
Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;
Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;
Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
(trích điều 98-Luật kinh doanh bảo hiểm)
Nguyên tắc sinh lời
Một trong những mục tiêu quan trọng của hoạt động đầu tư là tạo ra lợi
nhuận. Lợi nhuận cao là mục tiêu của tất cả mọi doanh nghiệp khi tham gia
kinh doanh trên thị trường. Với doanh nghiệp bảo hiểm, lợi nhuận là rất cần
thiết giúp doanh nghiệp tăng cường sức mạnh tài chính, đứng vững trong cạnh
tranh và thực hiện các chiến lược của mình. Lợi nhuận tạo ra từ hoạt động đầu
tư sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện giảm phí và mở rộng phạm vi
bảo hiểm.
Tóm lại đây là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp bảo hiểm theo đuổi .
Tuy nhiên, muốn thu được tỷ suất lợi nhuận cao thì rủi ro khi đầu tư cũng tăng
theo. Vì vậy nhà quản lý đầu tư cần nghiên cứu sao cho hoạt động đầu tư vừa
đảm bảo nguyên tắc an toàn lại vừa đem lại mức lợi nhuận như mong muốn.
Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên
Khả năng thanh toán là khả năng mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử
dụng các tài sản của mình để đáp ứng các trách nhiệm thanh toán đã đến hạn.
Do các khiếu nại của các DNBH rất khó dự đoán nên họ phải giữ một tỷ lệ đầu
tư nhất định vào các hạng mục đầu tư có tính thanh khoản cao để đảm bảo
thanh toán ngay khi cần thiết.
Song song với mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu đảm bảo khả năng thanh
toán.Thực tế hai mục tiêu này thường có sự đánh đổi lẫn nhau: Khi doanh
nghiệp bảo hiểm muốn tăng lợi nhuận thì phải chấp nhận tăng khả năng rủi ro,
nếu rủi ro thực tế xảy ra thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ bị đe doạ.
Do đó việc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo có tính thanh
khoản hợp lý vì doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải thanh toán cho khách hàng
bất kỳ lúc nào khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
mô doanh nghiệp, tăng cổ tức cho cổ đông, tăng quỹ phúc lợi và thu nhập cho
người lao động. Đối với xã hội, vai trò của hoạt động đầu tư được thể hiện rõ
nét nhất thông qua vị trí của doanh nghiệp bảo hiểm trong cấu trúc của hệ
thống thị trường tài chính. Ngoài ra, hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp
bảo hiểm còn có tác động không nhỏ đến sự phát triển của các ngành, các lĩnh
vực trong nền kinh tế, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần ổn
định xã hội, tăng thu cho ngân sách nhà nước và tăng tích lũy cho nền kinh tế