CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được xếp là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học của
thế giới với hệ động thực vật phong phú phân bố trên nhiều kiểu hệ sinh thái
khác nhau từ bắc chí nam. Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao, với số
loài đặc hữu chiếm khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs
Tamas, 1965) và hơn 40% số loài thực vật trong cả nước. Hiện nay đã thống kê
được 11.458 loài động vật, 21.017 loài thực vật và 3.000 loài vi sinh vật, 1.030
loài rêu và 826 loài nấm lớn (World Bank, 2005). Trong số các loài thực vật đã
thống kê, có trên 6.000 loài cây được sử dụng để làm lương thực, thuốc chữa
bệnh, thức ăn gia súc, cung cấp gỗ, tinh dầu và nhiều loại nguyên vật liệu khác
(Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999-2001). Về động vật, đến nay đã thống kê được
khoảng 310 loài thú, 840 loài chim, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, trên 700
loài cá nước ngọt và khoảng 2.000 loài cá biển, ngoài ra còn hàng nghìn loài
động vật không xương sống sống ở trên cạn và dưới nước (Bộ Tài nguyên và
Môi trường, 2005). Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài
mà còn có nhiều loài đặc hữu, có giá trị đặc biệt về kinh tế và khoa học. Theo
một số đánh giá, Việt Nam là nơi cư trú của 10% các loài động, thực vật trên thế
giới, trong đó 28% loài động vật có vú, 10% loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng
cư đang bị suy giảm và đe dọa (World Bank, 2005). Nguyên nhân chủ yếu của
sự suy giảm quần thể của các loài là do sự suy giảm của vùng sống và nạn buôn
bán, săn bắt bất hợp pháp. Ước tính ở Việt Nam hàng năm có tới 3.700 đến
4.500 tấn động vật hoang dã (không bao gồm các loài thủy sinh) được sử dụng
để làm thức ăn, dược liệu và sinh vật cảnh. Hoạt động khai thác và buôn bán các
loài côn trùng cũng rất phát triển, với khoảng 40 loài côn trùng cánh cứng và 90
loài bướm đang được khai thác và buôn bán. Ngoài ra, hàng nghìn loài thực vật
hoang dã đang được khai thác và sử dụng làm dược liệu với trên 20.000 tấn cây
thuốc được sử dụng hàng năm. Tình trạng buôn bán động vật hoang dã(ĐVHD)
đáng lo ngại hiện nay có nhiều nguyên nhân: lực lượng chuyên trách kiểm soát
buôn bán ĐVHD còn mỏng và chưa được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết, hệ
thống văn bản luật và chế tài xử phạt mặc dù đã được ban bố khá nhiều nhưng
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trước những thách thức ngày càng lớn trong bảo tồn thiên thiên cũng như
quản lý môi trường, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật để
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và động thực vật hoang dã nói riêng.
Đồng thời thực thi nhiều công tác tuyên truyền, đào tạo, nâng cao nhận thức
cộng đồng đã hết sức được chú trọng, coi đây là một trong những công cụ hiệu
quả nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. Việt Nam chúng
ta cũng đã có rất nhiều các văn bản pháp luật và các điều luật quy định về vấn đề
này, như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Luật Đa dạng sinh học (2008),
Nghị định số 82/2006/NĐ-CPngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh
sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã
nguy cấp, quý, hiếm; Thông tư 59/2010/TT-BNN ngày 19/10/2010 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật
hoang dã thuộc quản lý của Công ước CITES; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP
ngày 30/3/2006 của Chính phủ về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm.; Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá
quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với
nước ngoài; Thông tư 60/2009/TT-BNNPTNT ngày 16/9/2009 của Bộ Nông
nghiệp và PTNT Hướng dẫn thực hiện NĐ số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006
của Chính phủ … trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Các điều
của Bộ luật Hình sự năm 1999: Điều 175, Điều 176, Điều 190, Điều 191, Điều
191 a); Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ Quy định
về xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;
Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 của Chính phủ Quy định về xử
phạt VPHC trong lĩnh vực thủy sản; Quyết định 65/2010/QĐ-TTg ngày
25/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về trách nhiệm và quan
hệ phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh phòng
chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại (Quản lý thị trường, Kiểm lâm,
Yên, Diễn Đoài, Diễn Lâm.
Trên địa bàn huyện có 36 xưởng gỗ, 20 trại nuôi động vật hoang dã và
một số cơ sở nhỏ lẻ khác. Do có nhiều cơ sở như vậy nên khó kiểm soát hết
được việc buôn bán của các cơ sở này.
Được sự quan tâm chỉ đạo của Chi cục Kiểm lâm Nghệ An, Thường vụ
huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện, sự phối hợp của các cơ quan ban ngành khác
như Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1, Công an huyện, Đội cảnh sát giao
thông 5 -1, Đội quản lý thị trường số 4 và các ủy ban nhân dân xã trên địa bàn
trong những năm qua tình hình buôn bán, vận chuyển lâm sản đã giảm xuống
đáng kể. Hầu hết diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn đều đã có chủ. Vì
vậy quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ rừng được đảm bảo, từ đó công tác
bảo vệ rừng nói chung và Phòng chống cháy rừng nói riêng đã được các cấp các
ngành quan tâm, các chủ rừng tự giác bảo vệ. Với hình thức tuyên truyền đa
dạng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức họp dân kí cam kết
bảo vệ rừng, tuyên truyền lưu động phát tờ rơi, áp phích, xây dựng quy ước,
hương ước, tuyên truyền ở các trường học. Sau khi nghị định 99/2009/NĐ -CP
ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ, Hạt kiểm lâm Diễn Châu đã tiến
hành triển khai quán triệt đến toàn bộ công chức trong đơn vị đồng thời tổ chức
mời các đối tượng và chủ phương tiện vận tải, chủ các cơ sở kinh doanh chế
biến lâm sản, trại nuôi động vật hoang dã trên địa bàn để tiếp tục tuyên truyền
nghị định nói trên.
CHƯƠNG 3
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
I. MỤC TIÊU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến các vi phạm trong lĩnh vực khai thác, mua
bán, vận chuyển lâm sản trên địa bàn huyện Diễn Châu: buôn bán gỗ trái
phép ở các công ty, xưởng gỗ trên địa bàn huyện, nuôi nhốt động vật hoang
dã trái phép, vận chuyển lâm sản trái phép,
và các nơi khác đi qua địa bàn huyện
- Tình hình bán thịt rừng, các sản phẩm dược liệu từ động thực vật
rừng,
3.1.3 Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý mua bán, vận
chuyển lâm sản trên địa bàn huyện
- Mặt được:
- Mặt tồn tại:
- Nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật
+ Nguyên nhân đặc thù ở địa bàn huyện Diễn Châu
+ Nguyên nhân, điều kiện phát sinh hành vi vi phạm trong lĩnh vực
này
+ Thuận lợi và khó khăn trong xử lý vi phạm
3.1.4 Những tác động của các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đến việc
mua bán, vận chuyển lâm sản trên địa bàn huyện
3.1.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý
mua bán, vận chuyển lâm sản trên địa bàn
3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh
tế xã hội liên quan đến việc mua bán, vận chuyển lâm sản từ các cơ
quan ban ngành có liên quan: hạt kiểm lâm, phòng Nông nghiệp, phòng
địa chính,
- Thu thập các văn bản pháp luật liên quan đến việc xử lý vi phạm hành
chính trong việc mua bán, vận chuyển lâm sản từ Hạt kiểm lâm Diễn
Châu
- Thu thập các số liệu liên quan đến tình hình vi phạm và xử lí vi phạm
hành chính trong lĩnh vực mua bán, vận chuyển lâm sản từ hạt Kiểm
lâm Diễn Châu
- Phân tích các nguyên nhân vi phạm thông qua phỏng vấn các cán bộ
kiểm lâm.
- Tổng hợp, phân tích số liệu theo phương pháp thống kê mô tả và viết
Huyện Diễn Châu có tổng Diện tích đất tự nhiên là 30.492,4 ha. Trong đó
đất lâm nghiệp là 7960,0 ha trong đó có 6952,1 ha đất rừng chủ yếu là thông
nhựa, bạch đàn, keo, và phi lao. Đặc biệt, rừng Thông nhựa chiếm 70%, độ che
phủ của rừng trên địa bàn huyện đang dần được nâng lên. Toàn huyện có 1 xã
miền núi (Diễn Lâm), 4 xã vùng bán sơn địa (Diễn Phú, Diễn Lợi, Diễn Thắng
và Diễn Đoài), 8 xã vùng biển (Diễn Trung, Diễn Thịnh, Diễn Thành, Diễn
Ngọc, Diễn Bích, Diễn Kim, Diễn Hải và Diễn Hùng).
4.1.1.3. Khí hậu thủy văn
Diễn Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang những nét
đặc trưng của khí hậu Nghệ An là có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Từ tháng
4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô
và nóng. Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông
bắc lạnh và ẩm ướt.
Ngoài những đặc điểm của khí hậu Nghệ An thì Diễn Châu còn mang
những đặc điểm riêng do điều kiện địa hình mang lại như:
* Về nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng từ 22 - 25
o
C.
Đặc điểm khô nóng có những đợt nắng nóng kéo dài trên 01 tháng nhiệt
độ lên đến 40
o
C – 42
o
C.
Mùa nóng thường kéo dài 5tháng, từ tháng 4 đến tháng 8, mùa lạnh kéo
dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau.
Số giờ nắng trong năm từ khoảng 1600 – 1900 giờ. Bức xạ mặt trời
khoảng 1500 – 1700 kcal/cm
2
Nhưng đây cũng chính là con đường thuận tiện để vận chuyển gỗ và lâm sản trái
phép, tình trạng này đang được Hạt kiểm lâm Diễn Châu tích cực ngăn chặn.
Tuy nhiên do lượng mưa phân bố không đều giữa các thời gian trong năm
và do rừng đầu nguồn đại ngàn bị tàn phá nên về mùa mưa trên hệ thống sông
ngòi trong huyện thường có lưu lượng dòng chảy lớn và gây ra lũ lụt gây thiệt
hại về tài sản cho người dân vùng gần sông.
Ngoài ra, Diễn Châu còn có bờ biển dài 28 km, thuận lợi cho việc phát
triển cảng biển, đánh bắt hải sản và nghề làm muối .
Theo Trung tâm Khí tượng Thủy văn TW năm 2011 thời tiết, khí hậu
Diễn Châu có những diễn biến phức tạp nắng nóng, khô hạn kéo dài. Lượng
mưa ở các tỉnh Bắc trung bộ thấp hơn mức trung bình nhiều năm. Do đó, hạn
hán và cường độ gió Lào lớn hơn các năm trước đó là những thách thức cho
công tác bảo vệ rừng nói chung và PCCCR nói riêng.
4.1.2. Đặc điểm về tài nguyên trên địa bàn
4.1.2.1. Tài nguyên đất đai.
Nhìn chung, các loại đất của Diễn Châu thuộc hai hệ thống chính là hệ
feralit ở vùng đồi núi và hệ phù sa ở vùng đồng bằng. Cụ thể chia làm các loại
đất chính sau :
- Nhóm đất mặn tập trung ở ven biển, nhất là đầm lầy gần cửa sông và
vùng bị triều cường xâm nhập.
- Nhóm đất phèn phân bố dọc duyên hải, có độ pH thấp, nghèo lân nhưng
lượng mùn, đạm và ka li tương đối khá.
- Nhóm đất cát ven biển rất kém màu mỡ.
- Nhóm đất phù sa phân bố ở dải đồng bằng duyên hải và rải rác ở các
thung lũng sông, suối.
- Nhóm đất nâu vàng phát triển trên phù sa cổ, phân bố ở các thềm sông
hoặc bậc thang rìa đồng bằng. Đất thường có phản ứng chua, nghèo dinh dưỡng.
- Đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá biến chất là nhóm đất có diện tích
lớn, phân bố ở nhiều nơi.
- Đất feralit nâu đỏ trên đá mắc ma trung tính và bazơ có tầng đất dày, các
diện tích đất trống đồi núi trọc là 831,1 ha, diện tích rừng phòng hộ ven biển là
459ha, diện tích rừng ngập mặn là 191,2 ha được phân bố như sau:
Bảng 2: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp huyện Diễn Châu
Xã Diện tích
tự nhiên
Diện tích
lâm nghiệp
Diện tích có
rừng
Đất trống
Diễn An 786.2 282.6 260.4 22.2
Diễn Đoài 1257.3 475.8 448.2 27.6
Diễn Lâm 3364.2 2059.9 1818 181.9
Diễn Trung 1289.4 468.3 376 92.3
Diễn Phú 3419.5 2323.7 2155.1 168.6
Diễn Thịnh 1029.7 302.5 257.3 45.2
Diễn Thành 871.5 349.9 312.2 37.7
Diễn Kim 697.3 105.9 90 15.9
Diễn Hải 520 106.4 93.8 12.6
Diễn Hùng 482 86.7 80.1 6.6
Diễn Bích 602.1 57.8 51.5 6.3
Diễn Vạn 453.8 76.6 68.2 8.4
Diễn Lợi 1578.7 523.7 426.1 97.6
Diễn Thắng 803.4 252.6 227.4 25.2
Diễn Yên 1392.9 487.6 404.6 83
Tổng cộng 30.492,4 7960,0 7128,9 831,1
( Nguồn Hạt kiểm lâm Diễn Châu năm 2011 )
Qua bảng số liệu trên cho thấy huyện Diễn Châu có tổng diện tích tự
nhiên là 30.492,4 ha. Trong đó, diện tích lâm nghiệp chỉ chiếm 26,1 % gồm diện
tích có rừng chiếm 23,38%, đất trống chiếm 2,73%. Như vậy tiềm năng để phát
Bảng 3: Phân bố dân số và lao động
STT Vùng Số dân
(người)
Mật độ
(người/k
m
2
)
Nam
(người)
Nữ
(người)
Người
trong độ
tuổi lao
động
1 Thị trấn 78,225 1,495 39,258 38,967 33,247
2 Nông thôn 218,701 754.3 115,452 103,249 96,638
3 Tổng cộng 296,926 967 142,524 154,402 29,578
(Nguồn Hạt kiểm lâm Châu 2011)
Trong đó:
Lao động trong lĩnh vực sản xuất Nông - Lâm nghiệp chiếm 53%
Lao động trong các ngành nghề Công nghiệp, và Xây dựng chiếm 8%
Lao động trong các ngành nghề truyền thống 9%
Lao động trong lĩnh vực giao thông vận tải, dịch vụ thương mại chiếm
21%
Lao động trong các ngành nghề khác 9%
Diễn Châu là huyện có vị trí thuận lợi, đây là đầu mối giao thông quan
trọng của tỉnh Nghệ An nên kinh tế ở đây khá phát triển, tỷ lệ lao động trong các
nghành Nông - Lâm - Ngư đang giảm nhanh và tỷ lệ lao động trong các nghành
của huyện Diễn Châu, nhân dân huyện có ý thức rất tốt trong công tác bảo vệ
rừng, vì vậy rừng ở đây được bảo vệ khá tốt bởi cộng đồng người dân và hạn
chế được rất nhiều tình trạng phá rừng và vi phạm lâm luật.
- Về giáo dục: Diễn Châu là huyện có phong trào xã hội hóa giáo dục tốt,
cùng với chính sách đầu tư cho giáo dục của huyện, nên Diễn Châu đã xây dựng
được một nền giáo dục mạnh. Toàn thị xã có 80 trường phổ thông (tiểu học 39,
trung học cơ sở 40, trong đó có 1 trường chuyên cấp huyện, trung học phổ thông
8) với 100% đạt chuẩn quốc gia, 1 trường Cao đẳng nghề ( Trường cao đẳng
Hoan Châu). Và 39/39 xã, phường ở đây đã được phổ cập trung học cơ sở theo
tiêu chuẩn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Tỷ lệ học sinh khá giỏi hằng năm đạt
50% - 55%, lên lớp 98%, tình trạng học sinh bỏ học hầu như không còn. Tỷ lệ
đậu đại học, cao đẳng và các trường trung cấp chuyên nghiệp hằng năm cao
65%. Cơ sở vật chất cho dạy và học hầu như là đã được đảm bảo, phục vụ nhu
cầu dạy và học, có đội ngũ giáo viên đầy đủ và có chuyên môn tốt.
- Về y tế: Toàn thị xã có 39 trạm y tế và một bệnh viên đa khoa tuyến
huyện, trang thiết bị y tế phục vụ cho công tác khám, chữa bệnh được trang bị
khá đảm bảo nhưng đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, cán bộ y tế giỏi chưa nhiều.
Nhìn chung cơ sở vật chất để phục vụ cho đời sống khá đảm bảo,
100% số hộ dân có điện và nước máy, hệ thống thông tin liên lạc và các
dịch vụ khác phát triển mạnh, các chính sách xã hội rất được quan tâm,
xứng đáng là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh.
4.1.3.4. Tình hình sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp
Cùng với sự phát triển mạnh của kinh tế, các nghành nghề rất phát triển,
mang lại nguồn thu nhập cao cho người dân và sự thu hẹp dần của đất nông
nghiệp, người dân đang bỏ dần phương thức sản xuất nông nghiệp thuần túy
mang lại thu nhập thấp, một số chuyển hẳn sang nghành nghề khác, và phương
thức sản xuất nông lâm ở đây đang được chuyển biến theo hướng đầu tư sản
xuất với quy mô lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Toàn thị xã có hơn 100 trang
trại nông lâm kết hợp, có hơn 500 trang trại sản xuất theo mô hình cá lúa, là kết
hợp trồng lúa và thả cá ruộng cùng với chăn nuôi thủy cầm với quy mô lớn. Sự
người diễn ra trong một thời gian dài. Nhưng Diễn Châu là đầu mối giao lưu
buôn bán, kinh doanh chế biến, tiêu thụ lâm đặc sản lớn. Toàn huyện có 27
xưởng chế biến lâm sản, nhiều cơ sở chế biến mây tre, hàng trăm cơ sở mộc dân
dụng, mộc xây dựng.
4.1.3.5. Cơ sở hạ tầng
Với địa bàn rộng cùng nhiều xu thế và tiềm năng phát triển về mọi mặt,
trong đó nhu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng, tiêu dùng về gỗ ngày càng đòi hỏi,
các nhà hàng ăn uống ngày càng gia tăng.
- Giao thông: Hệ thống giao thông đi lại đã hoàn chỉnh và hiện đại. Các
trục đường chính như: Quốc lộ 1A, Quốc lộ 48, Quốc lộ 7, ngoài ra còn có tuyến
đường sắt Bắc – Nam, đường biển và hệ thống các tuyến đường liên thôn liên xã
nối liền nhau đã được nâng cấp đổ nhựa, betong hóa. Lợi dụng thế mạnh đó các
đối tượng tham gia mua bán, vận chuyển, tàng trữ lâm sản và động vật hoang dã
trái phép xảy ra thường xuyên.
- Điện lưới: đến nay tất cả các xã trong huyện đều có điện
- Thủy lợi: hiện nay các xã đã đảm bảo có đủ các công trình thủy lợi, phục
vụ cho nông dân trong tưới tiêu.
- Y tế, giáo dục: Toàn huyện có một trung tâm y tế, tất cả các xã trong
huyện đều có trạm y tế, nhưng cơ sở vật chất chưa hiện đại và số lượng bác sĩ có
trình độ chuyên môn cao hạn chế nên chưa đấp ứng nhu cầu khám chữa bệnh
cho người dân. Trong nhiều năm qua, các chương trình y tế cộng đồng đã được
triển khai đến tận người dân như: các chương trình tiêm chủng, chăm sóc sức
khỏe bà mẹ trẻ em, phòng ngừa và chữa trị một số bệnh phổ biến như sốt rét,
các bệnh về tiêu hóa. Bên cạnh đó tuyên truyền và giáo dục sưcs khỏe được chú
ý nên đã đã đáp ứng được nhu cầu sức khỏe của người dân.
- Về giáo dục: Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về
xóa mù chữ và phổ cập trung học cơ sở, 100% trẻ em đến tuổi đã được đến
trường.
=> Từ đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội như đã nêu trên cho thấy huyện Diễn
Châu là một trong những địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi mà các đối
pháp
chế
Bộ
phận
kỹ
thuật
Bộ
phận
tài
chính
Bộ
phận
văn
phòng
Lái
xe
Kiểm lâm viên phụ trách địa bàn
Huyện Diễn Châu được thành lập sớm với diện tích tự nhiên không lớn,
nhưng với vị trí tự nhiên và điều kiện sẵn có, ngày nay Diễn Châu đang là trung
tâm kinh tế, văn hóa phát triển của tỉnh. Sau khi ra đời với vai trò chức năng là
lực lượng quản lý bảo vệ tài nguyên rừng trên địa bàn Hạt kiểm lâm Diễn Châu
đã và đang ngày càng làm tốt chức năng của mình để xứng đáng là lực lượng giữ
vai trò nòng cốt trong công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của huyện
Diễn Châu.
Khi mới thành lập với tổ chức còn sơ sài, lực lượng non yếu cơ sở vật
chất thiếu thốn, ngân sách đầu tư cho hạt thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của
nhiệm vụ đặt ra nhưng hạt kiểm lâm Diễn Châu cũng đã làm tốt nhiệm vụ của
mình là quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn. Sau nhiều năm hoạt động Hạt đã có
nhiều đổi mới cả về cơ cấu tổ chức, lực lượng, cơ sở vật chất cũng như phương
thức hoạt động. Đến nay cơ cấu tổ chức lực lượng của Hạt gồm 12 nhân viên
gặp nhiều khó khăn.
* Đề xuất: Trước tình hình thực tiễn đó chúng tôi có đề xuất một số ý
kiến như:
- Công tác quản lý bảo vệ rừng là của tất cả mọi người chứ không phải chỉ
riêng trách nhiệm của Hạt kiểm lâm. Vì vậy các cơ quan chức năng cần đầu tư
hơn nữa về ngân sách và tăng cường lực lượng cho hạt để hạt đáp ứng về lực
lượng cũng như trang thiết bị cho công tác tuần tra phát hiện và xử lý vi phạm,
tổ chức phối hợp lực lượng giữa các hạt kiểm lâm lân cận trong khu vực với
nhau cùng phối hợp hành động để đưa ra phương án xử lý hiệu quả nhất.
- Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về bảo vệ và
phát triển rừng trong cộng đồng dân cư, nhất là ở các địa bàn trọng điểm về vận
chuyển buôn bán gỗ và lâm sản trái phép tại các chốt giao thông để họ có ý thức
cao trong việc phát hiện và tố giác tội phạm khi có sự việc vận chuyển buôn bán
gỗ và lâm sản trái phép xảy ra trên địa bàn, mỗi một người dân là một cộng tác
viên, là một nhân viên bảo vệ rừng.
- Tăng biên chế cho hạt để thực hiện tốt nhiệm vụ
4.2.2. Các hoạt động trong công tác Quản lý bảo vệ rừng
Qua 4 năm hoạt động từ 2008 – 2011, hiện kinh tế huyện Diễn Châu đang
trên đà phát triển rất mạnh, đặc biệt là ngành dịch vụ. Được sự quan tâm chỉ đạo
của các cấp, sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân nên công tác bảo vệ
rừng và phát triển rừng có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, đời sống của người dân
được nâng cao, nhu cầu về gỗ và các lâm sản ngày càng cao, mặt khác điều kiện
giao thông thuận lợi nên tình hình vi phạm về vận chuyển, buôn bán gỗ và lâm
sản xảy ra rất nhiều. Các đối tượng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái
phép hoạt động ngày càng tinh vi xảo quyệt. Vì vậy, việc quản lý lâm sản là một
nhiệm vụ vô cùng khó khăn và phức tạp. Để thực hiện có hiệu quả công tác quản
lý bảo vệ rừng cần phải thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như sau.
4.2.2.1. Công tác chỉ đạo
UBND huyện ban hành chỉ thị về công tác bảo vệ rừng, phân công trách
nhiệm cụ thể cho từng thành viên.
đang dùng mọi phương tiện sẵn có, lực lượng sẵn có để thực hiện nhiệm vụ của
mình. Tổ chức tuyên truyền pháp luật cho mọi người dân hiểu và thi hành pháp
luật về công tác quản lý bảo vệ rừng bằng các phương tiện thông tin đại chúng,
kết hợp phối hợp với ngành giáo dục đưa luật quản lý bảo vệ rừng vào nhà
trường, đến từng em học sinh, thực hiện ký cam kết cho tất cả các học sinh về
thực hiện luật quản lý bảo vệ rừng, tổ chức ký cam kết thực hiện tốt và không vi
phạm luật bảo vệ rừng đến từng gia đình trên địa bàn. Do làm tốt công tác tuyên
truyền và ý thức của người dân về công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng ngày
càng được nâng cao nên rừng trên địa bàn được bảo vệ khá tốt. Nhưng do vị trí
của Diễn Châu là đầu mối về giao thông đường bộ và đường sắt nên Diễn Châu
hiện đang là một điểm nóng về tình trạng phá rừng nên tình hình vi phạm về vận
chuyển buôn bán gỗ và lâm sản qua địa bàn Diễn Châu đang diễn ra rất phức
tạp và đang là vấn đề nan giải của Hạt kiểm lâm Diễn Châu mà Hạt kiểm lâm
chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng trên mặc dù đã rất nỗ lực
trong công tác tuần tra truy bắt. Chúng ta mong rằng các cơ quan chức năng
phối hợp với hạt kiểm lâm, cùng tất cả mọi người dân nỗ lực hơn nữa để giải
quyết một cách có hiệu quả tình trạng trên. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến vai
trò của quần chúng người dân trong công tác phát hiện tố cáo tội phạm vi phạm
luật quản lý bảo vệ rừng, vận chuyển buôn bán trái phép gỗ và lâm sản trái phép
tại các điểm chốt về vận chuyển buôn bán gỗ và lâm sản trái phép. Trách nhiệm
của kiểm lâm viên địa bàn là tích cực tuyên tuyền hiểu biết pháp luật hơn nữa
trong quần chúng để họ yên tâm khi tố giác tội phạm và ý thức tố giác tội phạm
trong mọi người dân được nâng cao để mỗi người dân là một nhân viên bảo vệ
rừng và vai trò của người dân được phát huy cao, khi đó công tác phát hiện và
xử lý vi phạm về vận chuyển buôn bán gỗ và lâm sản qua địa bàn sẽ được ngăn
chặn hiệu quả. Mặt khác cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các hạt kiểm
lâm lân cận để công tác quản lý bảo vệ rừng mang lại hiệu quả cao hơn.
Từ năm 2008 – 2011 thông qua nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau
như tuyên truyền qua hệ thống thông tin đại chúng, tuyên truyền lưu động, phối
hợp chính quyền thôn xã để tổ chức tyuên truyền, lực lượng kiểm lâm Diễn