BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
PHẦN I:
TỔNG QUAN VỀ TRẠM NGHIỀN
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
1
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
I. Lịch sử hình thành công ty cổ phần xi măng Hà Tiên I:
Hình 1: Công ty xi măng Hà Tiên trước đây
Công ty xi măng Hà Tiên 1 tiền thân là nhà máy xi măng Hà Tiên do hãng
VENOT.PIC của cộng hòa Pháp cung cấp thiết bị.
Công ty xi măng Hà Tiên 1 là đơn vị chủ lực của Tổng Công Ty Xi Măng
Việt Nam tại Miền Nam. Hơn 40 năm qua, công ty đã cung cấp cho thị trường trên
33.000.000 tấn xi măng các loại với chất lượng cao, ổn định, phục vụ các công
trình trọng điểm cấp quốc gia, các công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng.
Năm 1964, Nhà máy chính thức đưa vào hoạt động với công suất ban đầu
là 240.000 tấn clinker/năm tại Kiên Lương, 280.000 tấn xi măng/năm tại nhà máy
Thủ Đức.
Năm 1974, nhà máy xi măng Hà Tiên đã ký thỏa ước tín dụng và hợp tác
với hãng POLYSIUS (Pháp) để mở rộng nhà máy, nâng công suất thiết kế từ
300.000 tấn xi măng/năm lên đến 1.300.000 tấn xi măng/năm. Thỏa ước này sau
giải phóng được chính quyền Cách Mạng trưng lại vào năm 1977.
Năm 1981, nhà máy xi măng Hà Tiên được tách ra thành nhà máy xi măng
Kiên Lương và nhà máy xi măng Thủ Đức. Và đến năm 1983, hai nhà máy được
sáp nhập và đổi tên là nhà máy liên hợp xi măng Hà Tiên.
Ngày 19/08/1986, máy nghiền số 3 chính thức đi vào hoạt động và đến
tháng 2/1991 dây chuyền nung clinker ở Kiên Lương cũng được đưa vào hoạt
động đưa công suất của toàn nhà máy lên 1.300.000 tấn xi măng/năm.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
2
chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần theo quyết định số 1774/QĐ-
BXD của Bộ Xây Dựng về việc điều chỉnh phương án cổ phần và chuyển công ty xi
măng Hà Tiên 1 thành công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 và chính thức hoạt động theo
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4103005941 của Sở Kế Hoạch – Đầu Tư
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
3
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
TP.HCM cấp ngày 18/01/2007 với vốn điều lệ ban đầu là 870 tỷ đồng.
II. Trạm nghiền Phú Hữu:
Trạm nghiền Phú Hữu thuộc tổng công ty cổ phần Hà Tiên 1:
Dự án động thổ ngày: 10-9-2004.
Dự án khởi công ngày: 29-3-2007.
Area: 20 ha.
Bắt đầu sản xuất dây chuyền 1 ngày 5-5-2009, kết thúc 31-8-2009.
Bắt đầu sản xuất thử dây chuyền 2 ngày 22-7-2010, kết thúc 15-10-2010.
Ngày thành lập TNPH 20-7-2009.
Trạm nghiền Phú Hữu: Tổ 8, Khu Phố 4, P.Phú Hữu, Quận 9, Tp. HCM
XN Xây Dựng Hà Tiên 1: Km 8, đường Hà Nội, Tp.Hcm.
Hình 2: Trạm nghiền Phú Hữu.
Vị trí địa lý của Phú Hữu thuận lợi về giao thông cả đường thủy và đường
bộ. Phú Hữu nằm bên cạnh cảng Bến Nghé rất thuận lợi cho việc nhập khẩu
nguyên liệu cũng như xuất hàng. Hệ thống giao thông đường bộ dày đặc tẻ đi
nhiều hướng đều này rất thuận lợi.
III. Các loại xi măng:
Xi Măng Hà Tiên 1 PCB.40
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
4
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
xi măng Hà Tiên 1 nhập từ Thái Lan và Trung Quốc, ngoài ra còn nhập từ
Philipine, Indonesia và Tam Điệp.
2. Nguyên liệu sản xuất Clinker:
2.1. Đá vôi:
Theo tiêu chuẩn Việt nam TCVN 6072:1996, đá vôi dùng làm nguyên liệu
để sản xuất xi măng poóc lăng phải thoả mãn yêu cầu về hàm lượng của các chất
là: CaCO3 ( 85%; MgCO3 ( 5%; K2O + Na2O ( 1%.
Thông thường, các nhà máy xi măng ở nước ta đều sử dụng đá vôi có hàm
lượng CaCO3 = 90 ( 98% (CaO = 50 ( 55%), MgO < 3% và ô xit kiềm không
đáng kể.
Ngoài đá vôi ra, ở một số nơi hiếm đá vôi có thể sử dụng đá vôi san hô
hoặc vỏ sò nhưng phải khai thác và để lâu ngày cho mưa rửa trôi hết muối NaCl.
Đá phấn có chứa CaCO3 98 ( 99%, có cấu trúc tơi xốp có thể thay cho đá vôi và là
nguyên liệu thích hợp để sản xuất xi măng trắng.
2.2. Nguyên liệu Sét:
Theo TCVN 6071:1996, hỗn hợp sét dùng làm nguyên liệu để sản xuất xi
măng poóclăng phải có hàm lượng các ôxit trong khoảng sau:
SiO2 = 55 ( 70%, Al2O3 = 10 ( 24%, K2O + Na2O ( 3%.
Các nhà máy xi măng ở nước ta hầu hết đều sử dụng sét đồi có hàm lượng
SiO2
=58 ( 66%, Al2O3 = 14 ( 20%, Fe2O3
= 5 ( 10 %, K2O + Na2O = 2
( 2,5%.
Ngoài sét đồi, ở một số nơi có thể dùng sét ruộng hoặc sét phù sa. Những
loại sét này thường có hàm lượng SiO2 thấp hơn, Al2O3 và kiềm cao hơn, nên phải
có nguồn phụ gia cao silic để bổ sung SiO2. Việc này trở nên khó hơn khi cần sản
xuất xi măng yêu cầu hàm lượng kiềm thấp.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
nhau ở dạng phụ gia hỗn hợp, khi đó tác dụng khoáng hoá sẽ tốt hơn, tỷ lệ mỗi
loại phụ gia sẽ ít hơn. Tuy vậy, trong sản xuất nếu càng sử dụng nhiều loại nguyên
liệu và phụ gia thì công nghệ pha trộn phối liệu càng phức tạp, tốn nhiều thiết bị
cân trộn hơn và khả năng đồng nhất kém hơn, việc khống chế phối liệu cho chính
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
8
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
xác cũng khó hơn.
Mặt khác khi sử dụng phụ gia khoáng hóa cần lưu ý đến các điều kiện kỹ
thuật, môi trường và đặc biệt là hiệu quả kinh tế so với giải pháp chỉ sử dụng than
có chất lượng .
3. Thành phần khoáng và hóa của Clinker:
3.1. Thành phần hóa:
Chủ yếu gồm 4 oxit chính như: CaO, SiO2, Al2O3, Fe2O3 chiếm từ 94 đến
96%. Ngoài ra, tùy theo nguồn nguyên liệu sử dụng để chế tạo phối liệu mà trong
clinker còn có thêm một số oxit khác với hàm lượng nhỏ như: MgO, TiO2, SO3,
Mn2O3, CrO3, P2O5, BaO, K2O, Na2O.
Các khoáng này có cấu trúc tinh thể khác nhau và quyết định đến tính chất
của clinker
Chất lượng của clinker sẽ quyết định tính chất của xi măng. Thành phần
tổng quát của clinker
• CaO = 62 - 68 %
• SiO
2
= 21 - 24 %
• Al
2
O
3
silicat, canxi aluminat, canxi alumo ferit. Nếu CaO còn lại trong clinker ở dạng tự
do (CaOtd) lớn hơn 2% sẽ làm cho đá xi măng nở thể tích dẫn đến phá hủy cấu
trúc đã bền vững làm giảm cường độ của nó. Xi măng chứa nhiều CaO tỏa nhiều
nhiệt khi đóng rắn (có thể gây nứt bê tông), kém bền vững trong các môi trường
xâm thực và làm giảm độ bền nước của bê tông.
Ôxit silic (SiO2): Là thành phần rất quan trọng của clinker và đứng thứ hai
về số lượng sau CaO. Nguồn cung cấp SiO2 chủ yếu là sét, đất cao silic hoặc cát
và tro than. Ôxit silic phản ứng với ôxit canxi tạo thành các khoáng canxi silicat
C3S và C2S. Khi hàm lượng SiO2 nhiều mà CaO vừa đủ thì xi măng sẽ đóng rắn
chậm, cường độ ban đầu thấp. Tuy nhiên sau thời gian dài đóng rắn (khoảng sau 1
năm), đá xi măng sẽ có cường độ cao. Ngoài ra, xi măng còn có nhiều tính chất
quí khác như tỏa nhiệt ít khi đóng rắn, bền trong các môi trường xâm thực, độ bền
nước cao.
Ôxit nhôm (Al2O3): Trong quá trình nung, Al2O3 tác dụng với CaO,
Fe2O3 tạo thành các khoáng canxi aluminat C3A và canxi alumo ferit C4AF.
Nguồn cung cấp Al2O3 chủ yếu là sét và tro than. Clinker chứa nhiều Al2O3 sẽ
cho xi măng có thời gian đông kết ngắn, tốc độ phát triển cường độ nhanh, cường
độ cao, nhưng tỏa nhiều nhiệt khi đóng rắn và kém bền trong các môi trường xâm
thực. Đồng thời nó làm độ nhớt pha lỏng tăng gây cản trở quá trình tạo khoảng
C
3
S. Mặt khác khi làm lạnh các khoáng aluminat dễ bị phân hủy và tạo ra CaO
tự
do
.
Ôxit sắt (Fe2O3): Là thành phần chính tạo ra chất nóng chảy khi nung phối
liệu. Nhờ chất nóng chảy này mà các phản ứng tạo khoáng clinker xảy ra dễ hơn
và ở nhiệt độ thấp hơn. Fe2O3 phản ứng với CaO và Al2O3 tạo thành khoáng
canxi alumôferit C4AF. Nguồn cung cấp Fe2O3 chủ yếu là quặng sắt, xỉ pyrit,
quặng laterit và một phần ôxit sắt có sẵn trong sét, tro than. Clinker chứa nhiều
Anhydric sunfuric (SO3): Khi nung clinker, lưu huỳnh có trong nhiên liệu
và nguyên liệu bị đốt cháy thành SO3 và bay hơi theo khói lò gây ô nhiễm môi
trường, có hại cho sức khỏe. SO3 còn lại trong clinker có tác dụng 2 mặt: Nếu kết
hợp với ôxit kiềm tạo thành K2SO4 và Na2SO4 sẽ ảnh hưởng không tốt tới quá
trình nung (nhất là đối với công nghệ lò quay phương pháp khô) và làm giảm
cường độ của đá xi măng, nếu nằm lại trong clinker ở dạng khoáng sunfoaluminat
thì lại có lợi cho cường độ của đá xi măng.
Ôxit kiềm (Na2O, K2O): Là tạp chất có hại, chủ yếu do sét đưa vào phối
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
11
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
liệu. Khi nung ở nhiệt độ cao, chúng tạo thành các hợp chất dễ thăng hoa bay theo
khói và bụi làm ảnh hưởng tới hoạt động của lò nung. Phần kiềm còn lại trong
clinker làm giảm cường độ của xi măng. Nếu hàm lượng lớn hơn 1% sẽ rất nguy
hiểm vì chúng tác dụng với SiO2 hoạt tính của cốt liệu dẫn đến phản ứng kiềm -
silic phá hủy bê tông, thậm chí sau 30 ( 40 năm. Đối với xi măng dùng cho các
công trình thủy công yêu cầu hàm lượng kiềm tương đương (tính theo công thức
%Na2Otđ
= %Na2O + 0,658 .%K2O) phải nhỏ hơn 0,6%.
3.2 Thành phần khoáng:
Khi nung phối liệu ở nhiệt độ cao (11000C - 15000C), ôxit bazơ CaO phản
ứng với các ôxit axit SiO2, Al2O3, Fe2O3 tạo thành 4 khoáng chính của clinker
là: C3S (tricanxi silicat), C2S (dicanxi silicat), C3A (tricanxi aluminat), C4AF
(tetracanxi alumo ferit). Phản ứng hóa học tạo thành các khoáng này có thể đơn
giản hóa như sau:
Hàm lượng của các khoáng này trong clinker xi măng poóc lăng nằm trong
giới hạn sau: C3S: 37 ( 60%, C2S: 15 ( 40%, C3A: 5 (15%, C4AF: 10(18%.
Tổng các khoáng chính chiếm 95 ( 97%, trong đó C3S + C2S: 75 ( 80%,
(- và (- C2S.
Sự thay đổi trạng thái cấu trúc của Bêlít khi tăng nhiệt độ tới xuất hiện pha
lỏng và khi làm nguội tới nhiệt độ bình thường rất phức tạp và phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau. Sự biến đổi thù hình của C2S trong quá trình làm nguội
mô tả sau đây đã đơn giản hóa rất nhiều.
Khi làm nguội clinker, nếu tốc độ làm nguội chậm sẽ xảy ra sự biến đổi thù
hình từ dạng (- C2S sang dạng (- C2S kèm theo hiện tượng clinker bị tả thành bột
vì có sự tăng thể tích. Nguyên nhân vì (- C2S có khối lượng riêng là 2,97g/cm3,
nhỏ hơn khối lượng riêng của (- C2S là 3,28g/cm3. (- C2S không có tính kết dính
ở điều kiện nhiệt độ và áp suất thường, vì vậy để tránh hiện tượng tả clinker do sự
biến đổi thù hình từ (- C2S sang (- C2S ở 5750C, cần ổn định bằng cách đưa một
số ôxit khác như P2O5, BaO vào mạng lưới cấu trúc của nó tạo thành dung dịch
rắn.
Khi tác dụng với nước, khoáng Belit thủy hóa chậm, tỏa nhiệt ít và cũng
tạo thành các tinh thể dạng sợi (có công thức viết tắt là CSH(B) gọi là Tobermorit)
đan xen vào nhau tạo cho đá xi măng có cường độ cao. Tốc độ phát triển cường độ
của khoáng Belit chậm hơn khoáng Alit, phải sau 1 năm đóng rắn cường độ của
Belit mới bằng của Alit.
Belit thải ra lượng Ca(OH)2 ít hơn Alit nên nó tạo cho đá xi măng có độ
bền ăn mòn rửa trôi cao hơn đá xi măng Alit.
Khoáng canxi aluminat (C3A): Là chất trung gian màu trắng nằm xen giữa
các hạt Alit và Belit cùng với alumo ferit canxi (C4AF). Trong thành phần của
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
13
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
C3A cũng chứa một số tạp chất như: SiO2, Fe2O3, MgO, K2O, Na2O.
Aluminát canxi là khoáng quan trọng cùng với Alit tạo ra cường độ ban đầu
của đá xi măng. Xi măng chứa nhiều C3A toả nhiều nhiệt khi đóng rắn, nếu thiếu
hoặc không có thạch cao để làm chậm sự đông kết thì xi măng sẽ bị đóng rắn rất
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
15
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
4. Đặc tính của clinker:
4.1. Sự hydrat hoá của các khoáng Clinker:
4.1.1. Sự hydrat hoá của C3S và Alít:
Sự hydrat hoá của C3S và Alít tạo thành các hydro canxi silicat và
Ca(OH)2 theo các phản ứng như sau:
2(3CaO. SiO2) + 6H2O = 3CaO.2SiO2.3H2O + 3Ca(OH)2 + (H
3CaO. SiO2 + 3H2O = 2CaO.SiO2.2H2O + Ca(OH)2 + (H
Tổng lượng nhiệt toả ra phụ thuộc vào dạng hydro canxi silicat được tạo
thành và thay đổi trong khoảng từ 32 ( 500 kJ/kg.
Mức độ hydrat hoá C3S ở nhiệt độ 2980K (25oC) sau 1 ngày: 25 ( 35%;
sau 10 ngày: 55 ( 65%; sau 28 ngày: 78 ( 80%.
Thành phần của các hydro canxi silicat được tạo thành khi hydrat hoá C3S
và Alit bị thay đổi và phụ thuộc vào điều kiện đóng rắn. Các hydro canxi
silicat mới có độ bazơ cao kết tinh
dưới dạng tinh thể hình sợi dài
nhỏ. Các tinh thể này tạo thành ở
bên ngoài lớp vỏ hydrat hình cầu
do đó có thể quan sát được khi
nghiên cứu kính hiển vi điện tử
(hình bên).
Sự hydrat hoá C3S bị chậm lại khi có mặt Ca(OH)2, C3A và tăng lên đáng
kể khi có mặt CaCl2 và các clorit, bromit, nitrit, sunfat, cacbonat, các kim loại
kiềm và thạch cao.
4.1.2. Sự hydrat hoá của C2S và bêlit:
Phản ứng hydrat hoá C2S và các dung dịch rắn của nó tạo thành các hydro
canxi silicat thành phần khác nhau và số lượng Ca(OH)2 nào đó như sau:
là khoáng 3CaO.Al2O3.3CaSO4.32H2O - hydro canxi trisunfo aluminat hay còn
gọi là Ettringit.
3CaO.Al2O3 + 3CaSO4 + 32H2O = 3CaO.Al2O3.3CaSO4.32H2O
Trong trường hợp nếu các ion SO42- trong dung dịch không đủ để liên kết
tất cả hydro canxi aluminat thành Ettringit, thì các tinh thể Ettringit và hydro
canxialuminat tương tác với nhau tạo thành hydro canxi monosunfo aluminat:
2(C3AH6 ) + 3CaO.Al2O3.3CaSO4.32H2O =
= 3(3CaO.Al2O3.CaSO4.12H2O) +
8H2O
Các tinh thể Ettringit hình kim hoặc hình lăng trụ tạo thành ở gần bề mặt
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
17
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
của hạt C3A cũng như ở khoảng trống giữa các hạt. Các tinh thể hydro canxi
monosunfo aluminat có dạng tấm. Khi có mặt các ion SO42- tốc độ hydrat hoá
C3A bị chậm lại.
Các ion Cl- (CaCl2) thúc đẩy quá trình hydrat hoá C3A cũng như hỗn hợp
C3A với CaSO4. Các muối hoà tan nhiều trong nước (sunfat, clorit, nitrat v.v.) gây
ra ảnh hưởng lớn lên động học hydrat hoá C3A. Trên cơ sở các hydro canxi
aluminat độ bazơ cao có thể tạo thành Ettringit khi chúng tương tác với các ion
Ca2+ và SO42- trong các môi trường xâm thực.
4.1.4. Sự hydrat hoá canxi alumoferit:
Phản ứng hydrat hoá cũng xảy ra theo các sơ đồ phức tạp và tạo thành các
tinh thể hydrat khác nhau:
4CaO.Al2O3.Fe2O3 + 13H2O = 4CaO.Al2O3.Fe2O3.13H2O
4CaO.Al2O3.Fe2O3 + 10H2O = 3CaO.( Al,Fe)2O3.6H2O +
+ Ca(OH)2 +
Fe2O3.3H2O
Sản phẩm trung bình của sự hydrat hoá canxi alumoferit có dạng C2AH8,
các thuộc tính.
Clinker là cục u hay bướu, thường là 3-25mm.
Phân tích hoá học cũng như phân bố cỡ hạt của các mẫu clinker trên ta xác
định được:
Màu Phase Công thức hóa học
Nâu Alite C
3
S
Xanh Belite C
2
S
Trắng/xám giữa các tinh thể Ferrite/Aluminate C
4
AF/C
3
A
Viền trắng bao quanh tinh thể. Vôi tự do. CaO
Xám sẫm Alkali sulphates (Na/K)
2
SO
4
Xám/đen trong mẫu clinker Lỗ xốp, rỗ
Xám trong các mảng clinker. Keo, nhựa gắn kết.
Hình 4 cho thấy một bề mặt mẫu mài của clinker xi măng có chứa các pha
chính của clinker. Các màu có ý nghĩa như sau:
Trong ảnh kính hiển vi ở hình 4, các tinh thể trắng gần tròn trong phần trên
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
19
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
II. Thạch cao:
1. Cấu tạo, hình dạng của Thạch Cao:
Thạch cao có cấu tạo: CaSO
4
.2H
2
O, có lẫn ít đất sét, cát, hợp chất sunfua, đôi
khi có lẫn ít sắt, magiê, khi nung ở nhiệt độ t
0
C >100 thì thạch cao chuyển sang dạng
khan:
CaSO
4
.0,5H
2
O
Khối lượng nguyên tử = 172.17
Calcium 23.28 % Ca 32.57 % CaO
Hydrogen 2.34 % H 20.93 % H2O
Sulfur 18.62 % S 46.50 % SO3
Oxygen 55.76 % O
______ ______
100.00 % 100.00 % = TOTAL OXIDE
Thạch cao có dạng tinh thể hạt, bột khối lượng riêng 2,31-2,33 g/cm³.
Màu sắc: Trắng, không màu, vàng-trắng, lục-trắng, đà…, ngoài ra màu
thạch cao còn phụ thuộc vào tạp chất.
Hành vi tạo tinh thể: Đồ sộ, phẳng. Tinh thể kéo dài hình lăng trụ.
Cấu trúc tinh thể: Đơn nghiêng
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
21
A + CaSO
4
.2H
2
O + 26 H
2
O 3 CaO. Al
2
O
3
.3SO
3
.3H
2
O
Khi tạo hỗn hợp vữa, bao quanh thạch cao lúc đầu là C
3
A.CaSO
4
.3H
2
O
xốp, hình kim. Ion SO
4
2-
tiếp tục đi qua lỗ xốp ra môi trường. SO
4
2-
bao quanh C
3
Nếu cho ít thạch cao, nồng độ SO
4
2-
ít, làm Al
3+
tiếp tục thoát ra môi trường,
tăng quá trình đóng rắn.
III. Đá vôi:
1. Cấu tạo: CaCO
3
Đá vôi là loại một loại đá trầm tích, về thành phần hóa học chủ yếu là khoáng
chất canxit. Đá vôi ít khi ở dạng tinh khiết, mà thường bị lẫn các tạp chất như đá
phiến silic, silicat và đá mácma cũng như đất sét, bùn và cát, bitum Nên nó có màu
sắc từ trắng đến màu tro, xanh nhạt, vàng và cả màu hồng xẫm, màu đen.
2. Đặc điểm của đá vôi:
Đá vôi có độ cứng 3, khối lượng thể tích 1700 ÷ 2600 kg/m
3
, cường độ chịu
nén 1700 ÷ 2600kg/cm
2
, độ hút nước 0,2 ÷ 0,5%. Đá vôi nhiều silic có cường độ
cao hơn, nhưng giòn và cứng. Đá vôi chứa nhiều sét (lớn hơn 3%) thì độ bền nước
kém. Đá vôi là nguyên liệu để sản xuất vôi và xi măng.
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
22
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
Theo tiêu chuẩn Việt nam TCVN 6072:1996, đá vôi dùng làm nguyên liệu
để sản xuất xi măng poóclăng phải thoả mãn yêu cầu về hàm lượng của các chất
Độ hoạt tính của Pouzzolane Lượng hút vôi từ dung dịch vôi bão hòa
sau 30 ngày đêm của 1 gam Pouzzolane
(mg CaO/g đá)
Mạnh >100
Trung bình Từ 60 đến 100
Yếu <30 hoặc < 60
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TY XI MĂNG HÀ TIÊN I – TRẠM NGHIỀN PHÚ HỮU
PHẦN III:
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ TRONG
DÂY CHUYỀN NGHIỀN XI MĂNG
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Anh Nhóm SVTH: 08CDHH
25