Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh. - Pdf 27

Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp
(2005) về công ty hợp danh
Nguyễn
Hà Linh
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam thì việc chỉ tồn tại
một loại hình kinh doanh duy nhất đó là doanh nghiệp nhà nước không thể đáp
ứng với thực tế. Sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nhà nước
đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư
nhân và tạo hành lang pháp lý cho các loại hình doanh nghiệp, công ty khác
phát triển. Công ty hợp danh là một trong những hình thức công ty ra đời sớm
nhất trong lịch sử hình thành công ty. Khái niệm hợp danh đã xuất hiện từ thời
Babylon, Hy Lạp, La Mã cổ đại, khi con người bắt đầu hợp tác với nhau. Để
làm rõ hơn về công ty hợp danh, tôi chọn đề tài Bình luận các quy định của
Luật Doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái quát chung về công ty
1. Sự ra đời và phát triển của công ty trên thế giới
Sự ra đời của công ty gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị
trường. Trong môi trường ngày cạnh tranh ngày càng gay gắt của chốn thương
trường, để tồn tại và phát triển được, tăng sức cạnh tranh của các nhà tư bản thì
họ phải tìm mọi cách để hạ giá thành, tăng chất lượng sản phẩm. Có hai
phương án cho các nhà tư bản lựa chọn trong đó áp dụng triệt để khoa học kỹ
thuật để tăng năng suất và giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm là phương
án ưu việt hơn. Tuy nhiên để làm được việc này thì phải có vốn đầu tư ban đầu
rất lớn. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho các nhà tư bản vừa và nhỏ. Để
khắc phục khó khăn về vốn đầu tư ban đầu, các nhà đầu tư vừa và nhỏ đã có sự
liên kết với nhau, và chính điều này đã bước đầu tạo nền tảng cho sự ra đời của
công ty. Kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc
đầu tư góp vốn kinh doanh là nhu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự góp vốn đó
đã làm xuất hiện hình thức công ty. Hình thức này thấy rõ nhiều ưu điểm hơn

Có nhiều cách phân loại công ty khác nhau, ở đây xin nêu cách phân loại
công ty phổ biến nhất, phân loại căn cứ vào tính chất liên kết, chế độ trách
nhiệm của thành viên công ty
3.1. Công ty đối nhân
Công ty đối nhân là công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ
bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia, việc góp vốn chỉ là
thứ yếu. Loại hình công ty này có đặc điểm đó là không có sự tách bạch về tài
sản cá nhân của các thành viên và tài sản của công ty. Các thành viên liên đới
2
Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp
(2005) về công ty hợp danh
Nguyễn
Hà Linh
chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty hoặc ít nhất phải có
một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty.
3.2. Công ty đối vốn
Công ty đối vốn ra đời sau công ty đối nhân, nhưng thực tế, đây lại là loại
hình công ty phổ biến hơn trong thực tế hiện nay. Khác với công ty đối nhân,
công ty đối vốn không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm
đến phần vốn góp của họ. Quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi thành viên cũng chỉ
phụ thuộc vào phần vốn mà họ góp vào công ty.
II. Những vấn đề chung về công ty hợp danh
1. Sự hình thành công ty hợp danh
Như đã nói ở trên, khái niệm về hợp danh đã xuất hiện từ nền văn minh cổ
đại, từ khi con người bắt đầu có sự hợp tác với nhau. Trong đạo luật
Hammurabi năm 2300 TCN cũng đã có chế định về hình thức hợp danh. Còn
theo Đạo luật Justinian của đế chế La Mã cổ đại vào thế kỷ VI, xét về bản chất,
thì không có nhiều điểm khác biệt đối với khái niệm hợp danh trong pháp luật
đương đại.
Tới thời kỳ Trung đại, cuối thế kỷ XVII, hình thức hợp danh ngày càng

nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh);
ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;
b. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
c. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Ngay trong định nghĩa về công ty hợp danh này của Luật doanh nghiệp đã
xuất hiện hai vấn đề cần bàn:
Thứ nhất, theo quy định trên thì công ty hợp danh bắt buộc phải có ít nhất
hai thành viên hợp danh – những người chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn đối
với các khoản nợ của công ty. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về
công ty hợp danh thông thường, bởi, bản chất của công ty hợp danh chính là sự
liên kết giữa các thương nhân đơn lẻ để kinh doanh dưới một cái tên chung.
Tuy nhiên, nó lại không thích hợp đối với loại hình công ty hợp vốn đơn giản.
Công ty hợp vốn đơn giản, theo pháp luật Mỹ thì: Công ty hợp danh hữu hạn
bao gồm hai hay nhiều người, với ít nhất một thành viên hợp danh và một thành
viên chịu trách nhiệm hữu hạn. Công ty hợp vốn đơn giản thì chỉ cần có một
thành viên hợp danh và một thành viên góp vốn là đủ.
4
Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp
(2005) về công ty hợp danh
Nguyễn
Hà Linh
Thứ hai, thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải là cá nhân, có
nghĩa là pháp nhân thì không thể trở thành thành viên hợp danh của công ty
hợp danh được. Công ty hợp danh vốn là sự liên kết giữa các thương nhân, mà
thương nhân ở đây có thể là thương gia thể nhân, thương gia pháp nhân. Bởi
vậy, pháp nhân cũng hoàn toàn có thể trở thành thành viên hợp danh của công
ty hợp danh.
2.2. Đặc điểm

- Chuyển nhượng vốn: công ty hợp danh là một loại hình điển hình cho
công ty đối nhân – thành lập trên cơ sở sự thân cận, tín nhiệm lẫn nhau giữa
các thành viên là chính, nên việc chuyển nhượng vốn trong công ty hợp danh
là rất khó khăn. Sự chuyển nhượng vốn góp bắt buộc phải có sự đồng thuận
của hội đồng thành viên Công ty hợp danh.
- Chứng khoán: công ty hợp danh không được phát hành bất cứ loại
chứng khoán nào. Đây được xem là một hạn chế cho việc huy động vốn của
loại hình này.
III. Các quy định của Luật doanh nghiệp 2005 về công ty hợp danh
Đên Luật doanh nghiệp 2005 đã có những thay đổi đáng kể về bản chất
cũng như hình thức của công ty hợp danh. Khắc phục những thiếu sót của Luật
doanh nghiệp 1999 quy định về loại hình công ty hợp danh còn quá sơ sài,
chưa đủ tầm điều chỉnh những vấn đề phát sinh và hoạt động của loại hình
doanh nghiệp này, luật doanh nghiệp 2005 đã sửa đổi, bổ sung và quy định mới
ở một số nội dung cho phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
1. Thành lập công ty hợp danh
Theo khoản 2 điều 130 Luật doanh nghiệp thì công ty hợp danh được thành
lập, bắt đầu hoạt động và là một pháp nhân độc lập ngay sau khi được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác,
luật doanh nghiệp nhấn mạnh ý nghĩa của hành vi đăng ký kinh doanh đối với
công ty hợp danh. Nhưng không phải vì lẽ đó mà quên đi sự thỏa thuận của các
thành viên trong công ty hợp danh như ý nghĩa ban đầu của công ty hợp danh.
Nội dung thỏa thuận thành lập công ty hợp danh cũng rất quan trọng, nội dung
thỏa thuận sẽ được ghi nhận vào điều lệ công ty hợp danh và giấy đề nghị kinh
doanh (theo điều 17, điều 21, điều 22 Luật doanh nghiệp).
Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty hợp danh được quy định tại điều 20
nghị đinh 43/2010/NĐ-CP.
6
Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp
(2005) về công ty hợp danh

trong việc tổ chức, quản lý công ty hợp danh. Ngoài ra, các quyền của thành
7
Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp
(2005) về công ty hợp danh
Nguyễn
Hà Linh
viên hợp danh còn được quy định tại 9 điểm trong khoản 1 điều 134 Luật
doanh nghiệp 2005.
Thành viên hợp danh phải chịu một số hạn chế quy định tại điều 133 Luật
doanh nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp cho công ty hợp danh của thành
viên hợp danh đó, cũng như quyền và lợi ích hớp pháp của các thành viên khác
trong công ty.
2.2. Thành viên góp vốn
“Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”. Quyền của thành viên góp vốn cơ
bản được quy định tại khoản 1 điều 140 Luật doanh nghiệp 2005.
So với thành viên hợp danh của công ty hợp danh, thì quyền tổ chức và
quản lý công ty hợp danh của thành viên góp vốn mờ nhạt hơn rất nhiều. Điều
đó thể hiện ở những điểm sau đây:
- Quyền tham gia biểu quyết cũng như thảo luận bàn bạc về quản lý của
công ty đối với thành viên góp vốn rất hạn chế. Tuy có quy định về quyền thảo
luận và biểu quyết của thành viên góp vốn tại điểm a khoản 1 điều 140 nhưng
nó chỉ mang tính hình thức bởi trong quy định cụ thể thì không nhắc tới thành
viên hợp danh (ví dụ như quy định về triệu tập họp hội đồng thành viên, theo
khoản 1 điều 136 Luật doanh nghiệp 2005, Chủ tịch hội đồng thành viên có thể
triệu tập họp hội đồng thành viên khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của
thành viên hợp danh. Trường hợp chủ tịch hội đồng thành viên không triệu tập
họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì thành viên đó triệu tập họp hội
đồng thành viên)
- Không được phân công đảm nhiệm các chức danh quản lý trong công ty

giá và chuyển giao cho công ty hợp danh. Về nguyên tắc, có nhiều loại tài sản
có thể được dùng làm vốn góp, ví dụ như tiền, vàng, nhà đất,… các loại tài sản
khác. Người góp vốn phải tiến hành các thủ tục chuyển quyền sở hữu sang cho
công ty hợp danh (đối với vật phải chuyển quyền sở hữu), đối với những tài
sản khác phải làm biên bản giao nhận theo quy định tại khoản 1 điều 29 và
khoản 1 điều 132 Luật doanh nghiệp, và đó là khối tài sản riêng của công ty.
Các thành viên trong công ty hợp danh, kể cả thành viên hợp danh và thành
viên góp vốn đều có nghĩa vụ góp vốn đủ và đúng thời hạn. Nếu vi phạm, số
vốn chưa góp đủ được gọi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty.
Sau khi góp vốn, thành viên mất đi quyền sở hữu đối với tài sản đã góp và
được nhận quyền lợi từ công ty. Quyền tài sản ấy được coi là phần vốn góp
9
Bình luận các quy định của Luật Doanh nghiệp
(2005) về công ty hợp danh
Nguyễn
Hà Linh
trong công ty, thường được thể hiện bằng một tỉ lệ nhất định. Công ty hợp danh
có thể cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho các thành viên đã thực hiện
nghĩa vụ góp vốn theo quy định tại khoản 4 điều 131 Luật doanh nghiệp.
4. Quản lý điều hành trong công ty hợp danh
Do tính an toàn pháp lý đối với công chúng cao, mặt khác các thành viên
trong công ty hợp danh thường có quan hệ với nhau về nhân thân nên việc
quản lý và điều hành công ty hợp danh chịu rất ít sự ràng buộc của pháp luật.
Về cơ bản, các thành viên có quyền tự thỏa thuận về việc quản lý, điều hành
công ty. Song, quyền quản lý công ty hợp danh chỉ thuộc về các thành viên hợp
danh, thành viên góp vốn thì không có quyền quản lý công ty (như đã phân tích
ở phần thành viên công ty hợp danh).
Công ty hợp danh thường có cơ chế quản lý nội bộ linh hoạt, tùy thuộc vào
sự thỏa thuận giữa các thành viên. Tuy nhiên, việc tổ chức quản lý công ty hợp
danh cũng phải tuân thủ các quy định về một số vấn đề cơ bản sau đây: Cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status