Bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty hợp danh mà em cho rằng chưa phù hợp - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt
Nam phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt cơ sở kinh tế -
doanh nghiệp với đa dạng nhiều loại hình kinh doanh khác nhau, trong đó
có công ty hợp danh – loại hình công ty đối nhân khá mới mẻ ở Việt
Nam.
Công ty hợp danh được thừa nhận là một chủ thể kinh doanh trong
Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 1999, đánh dấu lần đầu tiên loại hình
công ty đối nhân chính thức được pháp luật Việt Nam ghi nhận và điều
chỉnh, tạo nên một môi trường kinh doanh đa dạng các loại hình để các
nhà kinh doạnh lựa chọn, từ đó bắt kịp với xu thế chung của thế giới cũng
như bắt kịp những tinh hoa lập pháp tiên tiến nhất. Nhưng những quy
định về công ty hợp danh tại Luật doanh nghiệp 1999 còn quá sơ sài và
mang tính chất chung chung.
Đến Luật Doanh nghiệp 2005 thì công ty hợp danh đã được quy
định cụ thể và rõ ràng, tạo điều kiện cho loại hình kinh doanh này phát
triển cũng như tạo thuận tiện cho các nhà đầu tư, nhà kinh doanh trong
việc áp dụng pháp luật khi lựa chọn hình thức công ty hợp danh để hoạt
động kinh doanh. Tuy nhiên, các qui định về công ty hợp danh của Luật
Doanh Nghiệp 2005 vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định.
Do vậy, trong phạm vi bài tập lớn của mình, em chọn đề bài :
“Bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp (2005) về công ty hợp
danh mà em cho rằng chưa phù hợp.” để có được cái nhìn sâu sắc hơn về
vấn đề này.
1
NỘI DUNG
I. Lí luận chung về công ty hợp danh:
Điều 130. công ty hợp danh – Luật Doanh nghiệp 2005 qui định :
1. công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng

nhận .
Không chỉ vậy, còn nhiều người dân chưa hề biết đến một khái
niệm mang tên công ty hợp danh hoặc nhận thức của họ còn quá mơ hồ
và chưa hiểu hết được ý nghĩa khi mà Luật Doanh nghiệp bổ sung thêm
một loại hình doanh nghiệp mới là công ty hợp danh.
Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra cơ sở kinh tế - hành chính - sự
nghiệp (được thực hiện ở Việt Nam 5 năm 1 lần) kể từ năm 1995 thì tính
đến 1/7/2002 tại Việt Nam có tổng số 56.737 doanh nghiệp, trong đó có
24.903 doanh nghiệp tư nhân; 18.333 công ty trách nhiệm hữu hạn; 1,898
công ty cổ phần và chỉ có 14 công ty hợp danh. Con số này cũng không
có sự thay đổi nhiều ở loại hình công ty hợp danh cho đến thời điểm hiện
nay.
Do đó, việc loại hình công ty hợp danh khá “mờ nhạt” trong nhận
thức của xã hội, trong sự lựa chọn của các nhà kinh doanh cũng như trong
tương quan với các loại hình doanh nghiệp khác có lẽ là do sự bất cập của
pháp luật. Tuy rằng Luật Doanh Nghiệp 2005 đã quy định khá chi tiết về
loại hình công ty này, nhưng cũng không tránh khỏi nhiều thiếu sót, bất
cập và vô hình chung đã kìm hãm sự phát triển của loại hình công ty hợp
danh. Cụ thể, những bất cập và tồn tại đó là :
3
1. Khái niệm công ty hợp danh:
Điều 130 LDN 2005 đã định nghĩa công ty hợp danh dưới dạng liệt
kê các đặc điểm cơ bản của nó, theo đó đã gộp chung 2 loại hình công ty
hợp danh như trên thế giới phân loại là : công ty hợp danh thông thường
và công ty hợp danh hữu hạn, thành một tên gọi duy nhất là “công ty hợp
danh”.
Điều này liệu có thực sự là khoa học khi đều ghi nhận cả hai hình
thức công ty hợp danh nhưng lại điều chỉnh dưới một quy chế chung?
Pháp luật của đa số các nước trên thế giới đều phân tách riêng biệt hai
loại công ty hợp danh với hai quy chế điều chỉnh riêng biệt, hoặc là chỉ

công ty hợp danh thông thường thiếu số lượng thành viên tối thiểu? Khi
nào thì công ty hợp danh hữu hạn thiếu số lượng thành viên tối thiểu? là
một việc khá phức tạp.
Trên thực tế, đối với công ty hợp danh thông thường chỉ bao gồm
một loại thành viên hợp danh thì rất đơn giản, khi không đủ hai thành
viên hợp danh trong sáu tháng liên tục, công ty đó sẽ buộc phải giải thể
theo đúng quy địnhh của pháp luật. Nhưng với công ty hợp danh hữu hạn,
việc tồn tại của thành viên góp vốn có ý nghĩa quan trọng thay đổi bản
chất công ty, Luật Doanh nghiệp chỉ qui định : “ngoài các thành viên hợp
danh có thể có thành viên góp vốn”. Rõ ràng, LDN 2005 không quy định
trong công ty hợp danh hữu hạn có tối thiểu bao nhiêu thành viên góp
vốn, nếu chỉ áp dụng điều kiện chung là không đủ hai thành viên hợp
danh thì công ty giải thể vậy khi không còn một thành viên góp vốn nào
trong công ty hợp danh hữu hạn thì công ty không phải giải thể? Hay khi
không còn thành viên góp vốn thì công ty đó có còn đúng là công ty hợp
danh hữu hạn nữa hay không?
 Tóm lại, có thể thấy nhiều vấn đề còn tồn tại xoay quanh khái
niệm công ty hợp danh tại LDN 2005. Chính những bất cập đó đã tạo nên
5
tâm lý e ngại khi các nhà kinh doanh lựa chọn loại hình công ty hợp danh
cũng như khi áp dụng pháp luật điều chỉnh loại hình công ty này .
2. Về tư cách pháp lí của công ty hợp danh:
Luật Doanh Nghiệp 2005 đã công nhận công ty hợp danh là loại hình
doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Đây là một điểm mới so với Luật
Doanh Nghiệp 1999, giúp cho công ty hợp danh có địa vị và tư cách pháp
lí nhất định khi tham gia vào môi trường kinh doanh và bình đẳng với các
loại hình doanh nghiệp khác.
Tuy nhiên, việc quy định cho công ty hợp danh có tư cách pháp nhân
trong khi trong công ty vẫn tồn tại chế độ trách nhiệm vô hạn cho loại
thành viên hợp danh liệu có mâu thuẫn với quy định về pháp nhân trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status