các quy định của Lụât doanh nghiệp 2005 - Pdf 26

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã xác
định “ Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp lụât ” .Tự
do kinh doanh đã trở thành một trong những nội dung của quyền công dân và
được Hiến pháp ghi nhận .Pháp lụât của Nhà nước ta ghi nhận , quy định nội
dung và bảo đảm thực hiện quyền tự do kinh doanh trên tinh thần tôn vinh và
khuyến khích các doanh nhân.
Ở nước ta , doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có sự
ra đời không đồng thời , đang trong điều kiện phát triển và từng bước hoàn
thiện. Qúa trình phát triển của cá loại hình doanh nghiệp cũng chính là quá trình
hoàn thiện dần đối với pháp luật về thành lập và quản lý doanh nghiệp .
Từ những năm sống trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp ,
thực hiện các hoạt động kinh tế chỉ có các đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh
tế Xã Hội Chủ Nghĩa với các xí nghiệp quốc doanh , hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp . Những văn bản dưới Luật đặt ý chí kế hoạch của Nhà nước được đặt
lên trên hết được ban hành để điều chỉnh toàn diện từ việc thành lập , tổ chức
Bộ máy nhân sự , quản lý đến tất cả mọi hoạt động trong các quan hệ đầu vào ,
đầu ra của các đơn vị kinh tế này .
Cuối năm 1990 , Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Công ty và Luật
Doanh nghiệp tư nhân . Đây là những đạo luật đầu tiên về doanh nghiệp và
chúng đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xuất hiện và phát triển từng bước các loại
hình doanh nghiệp của tư nhân và dân doanh với hình thức công ty cổ phần ,
công ty Trách nhịêm hữu hạn ( TNHH ) và Doanh nghiệp tư nhân. Nền kinh tế
nước ta đã bắt đầu hình thành và hoạt động theo mô hình kinh tế nhiều thành
phần .
Trên cơ sở tổng kết , đúc rút kinh nghiệm của 9 năm thực hiện Luật công
ty và Luật doanh nghiệp tư nhân , Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp
năm 1999 thay thế cho 2 đạo luật này .Có thể nói Luật doanh nghiệp 1999 đã có
một bước phát triển rất lớn , đem lại bộ mặt rất mới cho Môi trường kinh doanh
ở nước ta. Luật doanh nghiệp ngoài những quy định bổ sung sửa đổi theo hướng
tạo thuận lợi , khuyến khích các nhà đầu tư trong nước đầu tư trong nước đầu tư

I. Về việc phòng Đăng ký kinh doanh (ĐKKD ) tỉnh H từ chối cấp ĐKKD
cho công ty TNHH X với lý do duy nhất là : Các sấng lập viên không có hộ
khẩu thường trú trên địa bàn tỉnh H
 Việc từ chối cấp ĐKKD cho công ty TNHH X ( sau đây gọi là công ty
X)như vậy là không hợp lý và không tuân theo nguyên tắc của pháp luật nói
chung và Luật doanh nghiệp 2005 nói riêng .
1. Cơ sở pháp lý
• Bộ luật Dân sự năm 2005 – Pháp nhân
• Luật đầu tư 2005
• Luật doanh nghiệp 2005
 Điều 8 - Quyền của doanh nghiệp
 Điều 18 - Hồ sơ ĐKKD củ công ty TNHH
 Điều 21 - Nội dung giấy Đề nghị ĐKKD
 Điều 24 - Điều kiện cấp Giấy chứng nhận
ĐKKD
• Nghị định số 88/2006/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh
 Điều 15 - Hồ sơ ĐKKD
 Điều 18 – Các giấy tờ chứng thực cá nhân trong
hồ sơ ĐKKD
2. Nội dung - giải quyết vấn đề
Thành lập một công ty hay cụ thể là quá trình ĐKKD một công ty được
nhìn nhận là quá trình tạo ra một chủ thể pháp lý thực sự có thể thực hiện các
hoạt động kinh doanh trong các điều kiện cụ thể
 Theo K1 Đ8 chúng ta thấy : Quyền của doanh nghiệp là “ Tự chủ
kinh doanh , chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn , hình thức kinh doanh, đầu
tư …”
Và theo K3 điều này thì doanh nghiệp có quyền “ chủ động tìm kiếm thị
trường , khách hang và ký kết hợp đồng ” .
Như vậy , theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2005 thì Doanh nghiệp
có quyền “lựa chọn địa bàn ” kinh doanh sao cho phù hợp nhất. Việc công ty X

 Như vậy , pháp luật không có một quy định nào bắt buộc doanh
nghiệp khi thành lập phải đáp ứng đủ yêu cầu là các thành viên phải có hộ khẩu
thuộc địa bàn tỉnh nơi thực hiện ĐKKD.
Theo những phân tích trên chúng ta thấy phòng ĐKKD tỉnh H phải có
trách nhiệm xem xét hồ sơ ĐKKD của công ty TNHH X và khi đáp ứng được
đầy đủ điều kiện về ĐKKD thì trong thời hạn 10 ngày tiến hành cấp Giấy
chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp .
Về Nội dung Giấy đề nghị ĐKKD thuộc về Doanh nghiệp – Công ty X
phải làm . Được thực hiện theo quy định tại Điều 21 Luật doanh nghiệp 2005 :
1. Tên doanh nghiệp
2. Địa chỉ trụ sở chính của Doanh nghiệp; số điện thoại …
3. Ngành ,nghề kinh doanh
4. Vốn điều lệ đố với công ty …

Sau đó , công ty X hoàn tất hồ sơ ĐKKD đối với công ty TNHH 2thành
viên trở lên theo Quy định tại Điều 15 và Điều 18 của Nghị định 88/2006/NĐ-
CP. Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty TNHH 2 thành viên bao gồm:
1. Giấy đề nghị ĐKKD
2. Dự thảo điều lệ công ty
3. Danh sách thành viên
4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan , tổ chức có thẩm quyền
đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp
luật phải có vốn pháp định
5. Bản sao hợp lệ giấy chứng chỉ hành nghề của Giám đốc ( Tổng Giám
đốc ) và cá nhân khác … mà theo quy định của pháp luật phải có
chứng chỉ hành nghề .

Ngoài ra , khi hoàn thành hồ sơ đăng ký kinh doanh , cần có các giấy tờ
chứng thực cá nhân trong hồ sơ đăng ký kinh doanh. Quy định tại điều 18 Nghị
định số 88/2006/NĐ-CP.

trách nhiệm xem xét lại hồ sơ ĐKKD cho công ty X và cấp giấy chứng nhận
ĐKKD trong thời hạn 10 ngày .
- Nếu công ty X chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại điều
24 Luật doanh nghiệp thì từ chối cấp Giấy chứng nhận ĐKKD và phải thông
báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết .Thông báo phải nêu
rõ lý do và yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi bổ sung.
Trường hợp phòng ĐKKD tỉnh H từ chối ĐKKD cho công ty X khi
công ty X đã đầy đủ điều kiện theo quy định của Luật doanh nghiệp và Luật đầu
tư là đã vi phạm và thuộc vào các hành vi bị cấm quy định tại Điều 11 Luật
doanh nghiệp .
3. Một số vấn đề khác
Hệ thống cơ quan tiến hành ĐKKD ở nứơc ta vẫn là ử 2 cấp tỉnh và
huyện. Ở nước ngoài , doanh nghiệp tiến hành đăng ký kinh doanh tại Toà án và
ở đó có những cơ chế pháp lý rõ ra`ng , minh bạch và tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp , để doanh nghiệp không gặp khó khăn , phiền hà và các
thủ tục hành chính rất rườm rà phức tạp. Đồng thời , lại đảm bảo được tính
chuyên môn , tính tập trung trong lĩnh vực kiểm soát , quản lý hoạt động của
doanh nghiệp sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giâý
phép kinh doanh.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, đã có sự thay đổi tương đối rõ rệt và môi
trường kinh doanh rõ rang đã có bước đột phá do phải đáp ứng theo nhu cầu
chung . Tuy nhiên , một vài năm trước đây và ngay cả hiện nay , tình trạng ở
một số địa phương như “ phòng ĐKKD tỉnh H ” như trong bài đã nêu là vẫn
còn. Điều đó tạo nên sự băn khoăn cho rất nhiều những nhà đầu tư trong và
ngoài nước khi quyết định rút đồng vốn ra đầu tư ở Việt Nam .
II. Ngành nghề kinh doanh – Kinh doanh mọi ngành nghề mà pháp luật
không cấm
Việc phòng ĐKKD tỉnh P từ chối cấp ĐKKD cho công ty cổ phần L (sau
đây gọi là công ty L) với nội dung ngành , nghề Kinh doanh là “Kinh doanh
mọi ngành , nghề mà pháp luật không cấm ” là hoàn toàn hợp lý .

nghiệp có thể đăng ký kinh doanh nhiều ngành, nghề nhưng phải là ngành, nghề
có hoạt động kinh doanh. Nếu trong thời hạn một năm mà doanh nghiệp không
kinh doanh ngành, nghề đã đăng ký thì phải thông báo với cơ quan đăng ký
kinh doanh để xoá ngành, nghề này trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Đối với một doanh nghiệp cụ thể, không được ghi vào Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh cụm từ kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không
cấm. ” .
Như vậy , thông tư 07 đã quy định rất rõ việc doanh nghiệp được lựa
chọn ngành nghề như thế nào . Việc ngăn cấm sử dụng cụm từ “ kinh doanh tất
cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm” coi như đã là một câu trả lời thống
nhất cho tình huống được nêu ra trong bài . Vì sao lại như vậy ?
Bởi vì , ngoài những ngành nghề mà pháp luật “cấm” kinh doanh trong
hệ thống ngành kinh tế Quốc dân , chúng ra còn có những ngành nghề kinh
doanh “ có điều kiện” , ngành nghề kinh doanh “có chứng chỉ” hành nghề và
ngành nghề kinh doanh “phải có vốn pháp định”…
Theo như chúng ta thấy , trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân chúng
ra có danh mục tới gần 4000 ngành nghề để có thể kinh doanh được. Như vậy ,
nếu đặt vấn đề một cách quá chung chung là “kinh doanh mọi ngành nghề mà
pháp luật không cấm” trong hồ sơ ĐKKD sẽ bị coi là quy định không rõ rang.
Khi tiến hành làm giấy đề nghị ĐKKD , doanh nghiệp phải thực hiện :
việc lựa chọn ngành nghề sao cho phù hợp nhất . Bởi vì , cho dù có vai trò là
người kiến tạo môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp song tuỳ thuộc yêu
cầu của người quản lý Nhà nước, yêu cầu điều tiết thị trường, trong mỗi thời kỳ
cần khuyến khích hoặc hạn chế những mặt hang, dịch vụ trong các lĩnh vực
kinh doanh mà Nhà nước có thái độ đối xử khác nhau đối với mỗi nhóm ngành
nghề khác nhau . Sự phân biệt đối xử ngành nghề ở mức độ nhất định có thể
giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau của những nhà
đầu tư trong nước, cũng có thể là giữa nhà đầu tư trong nước và nứơc ngoài.
Trước hết , nói đến khái niệm “ngành nghề cấm kinh doanh” trong giấy
ĐKKD của công ty L .

o. Các ngành nghề cấm kinh doanh khác được quy định tại các Luật , Pháp
lệnh và nghị định chuyên ngành
Ngoài ra , khái niệm “cấm” còn trở lên phức tạp hơn nữa khi Luật đầu tư
cũng quy định về lĩnh vực , ngành nghề cấm đầu tư ở Việt Nam tại điều 30 Luật
đầu tư năm 2005.
Như vậy, “cấm” hay “không cấm” đều là những khái niệm hết sức chung
chung.Mà đòi hỏi khi tiến hành ĐKKD cho mỗi doanh nghiệp phải có sự cụ thể,
rõ rang, minh bạch mới có thể thực hiện được theo đúng quy định của Pháp
luật.
Ngoài ra , có những ngành nghề kinh doanh pháp luật không cấm nhưng
lại đặt ra những yêu cầu bắt buộc phải thực hiện như : có điều kiện, có chứng
chỉ hành nghề và có vốn pháp định.
Như ngành nghề kinh doanh có điều kiện : đây là những ngành nghề mà
theo yêu cầu quản lý , điều tiết kinh tế , Nhà nước xác định cần phải có những
điều kiện nhất định thì mới đảm bảo tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu
quả hoặc Nhà nước không khuyến khích và hạn chế kinh doanh. Những điều
kiện đặt ra đối với chủ thể kinh doanh bao gồm điều kiện về loại hình kinh
doanh,vốn , cơ sở vật chất như mặt bằng , trang thiết bị dùng cho kinh doanh
hoặc là những điều kiện đối với cá nhân như người trực tiếp thực hiện quản lý
hoạt động Kinh doanh trong doanh nghiệp đó. Quy định về ngành nghề kinh
doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh được quy định tại Điều 5 Nghị định
số 139/2007/NĐ-CP.
Chứng chỉ hành nghề là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
hoặc các Hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân , người có đủ trình độ chuyên môn
và uy tín nghề nghiệp về 1 số ngành nghề nhất định. Pháp luật quy định những
đối tượng là những cá nhân trong từng loại doanh nghiệp hoạt động trong
những ngành nghề cụ thể phải có chứng chỉ hành nghề. Đối với những ngành
nghề này , chứng chỉ hành nghề bắt buộc phải có trong hồ sơ ĐKKD hoặc hồ sơ
xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Quy định về ngành nghề kinh doanh
có chứng chỉ hành nghề được quy định tại điều 6 Nghị định số 139/2007/NĐ-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status