Bài tập học kì – Môn Luật Thương Mại – Modul 1 – Nguyễn Văn Dương – HS33B027
LỜI NÓI ĐẦU
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đã cho thấy một bước phát triển mới
của pháp luật thương mại Việt Nam. Luật doanh nghiệp năm 2005 đã có rất
nhiều thay đổi so với Luật Doanh nghiệp năm 1999. Trong đó có sự thay đổi rất
lớn trong các quy định về công ty hợp danh.
Công ty hợp danh ở Việt Nam tuy không có được sự phát triển quá mạnh
mẽ như công ty TNHH hay công ty cổ phần nhưng công ty hợp danh cũng dần
khẳng định được ưu thế của mình và được nhiều người lựa chọn để thành lập
doanh nghiệp cho mình.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có những quy định rất chi tiết về việc
thành lập, thành viên, quy chế về vốn…của công ty hợp danh. Sau đây dưới sự
tìm hiểu của mình tôi xin đi vào bình luận các quy định của Luật doanh nghiệp
năm 2005 về công ty hợp danh
Tuy nhiên với khả năng nhìn nhận vấn đề, khả năng phân tích bình luận
của một sinh viên năm thứ 3 nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi các sai lầm
khuyết điểm. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và các bạn
để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Dương
1
Bài tập học kì – Môn Luật Thương Mại – Modul 1 – Nguyễn Văn Dương – HS33B027
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 về công ty hợp danh.
Trước hết để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta cần phải biết được khái niệm
về công ty hợp danh. Trên hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận công ty
hợp danh là một loại hình đặc trưng của mô hình công ty đối nhân. Việt Nam
cũng không phải là ngoại lệ. Theo luật doanh nghiệp năm 2005 công ty hợp
danh được định nghĩa tại khoản 1 điều 130 :“Công ty hợp danh là doanh nghiệp,
trong đó:
danh và những thành viên hợp danh khác đó là :
- Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc
thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác nếu không có được sự
đồng ý của các thành viên còn lại.
Đây chính là một điểm khác của Luật doanh nghiệp năm 2005 với Luật
doanh nghiệp năm 1999. Theo Luật doanh nghiệp năm 1999 thì nghiêm cấm
thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên
hợp danh của công ty hợp danh khác. Như vậy Luật doanh nghiệp năm 2005 đã
quy định vấn đề này theo hướng mở nhằm tôn trọng, đề cao sự thỏa thuận giữa
các bên.
- Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân
danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của
công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
- Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ
phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự
chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.
Do công ty hợp danh là một loại hình đặc trưng của công ty đối nhân. Nó
được thành lập hoạt động dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa các
thành viên hợp danh. Chính vì vậy so với các loại hình công ty khác, sự thay đổi
về các thành viên hợp danh được pháp luật quy định một cách khắt khe hơn.
Việc tiếp nhận thành viên hợp danh phải được sự đồng ý của ¾ số thành viên
3
Bài tập học kì – Môn Luật Thương Mại – Modul 1 – Nguyễn Văn Dương – HS33B027
hợp danh đồng ý nếu Điều lệ không có quy định khác. Ngay cả trong trường hợp
người thừa kế của thành viên hợp danh sau khi được nhận thừa kế cũng chưa
chắc đã trở thành thành viên của công ty mà cần phải chờ sự đồng ý của các
thành viên hợp danh còn lại.
Việc chấm dứt tư cách thành viên hợp danh cũng được Luật doanh nghiệp
năm 2005 quy định khá cụ thể tại điều 138. Theo đó tư cách thành viên hợp
danh chấm dứt trong các trường hợp sau :
gồm tất cả các thành viên của công ty hợp danh. Đây là sự khác biệt của Luật
doanh nghiệp 2005 với luật doanh nghiệp 1999. Luật doanh nghiệp 1999 không
có quy định cụ thể về thành viên của hội đồng thành viên. Vấn đề này thành viên
hợp danh của công ty tự quyết định. Tuy nhiên Luật doanh nghiệp năm 2005 đã
quy định thành viên của hội đồng thành viên bao gồm tất cả thành viên của công
ty hợp danh tức là bao gồm cả thành viên góp vốn. Đây cũng là một điểm tiến
bộ của Luật doanh nghiệp 2005 so với quy định tại Điều 29 Nghị định số
03/2000/NĐ – CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp năm
1999. Theo nghị định này thì “Hội đồng thành viên gồm tất cả thành viên hợp
danh”.
Quy định này của Luật doanh nghiệp năm 2005 đã phần nào đảm bảo lợi
ích cho thành viên góp vốn. Tuy nhiên trong hội đồng thành viên, thành viên
góp vốn cũng không có quyền biểu quyết. Họ chỉ được quyền tham gia ý kiến,
biểu quyết trong một số trường hợp cụ thể về 1 vấn đề không mấy quan trọng.
Còn quyền quyết định vẫn thuộc về thành viên hợp danh.
Hội đồng thành viên được triệu tập bởi chủ tịch hội đồng thành viên hoặc
một thành viên hợp danh bất kì. Trình tự và thủ tục tiến hành cuộc họp được
Luật doanh nghiệp 2005 quy định rất rõ tại Điều 136. Những vấn đề quan trọng
sẽ được quyết định thông qua nếu có quá ¾ số phiếu đồng ý. Đối với các vấn đề
ít quan trọng hơn thì chỉ cần 2/3 số phiếu đồng ý. Công ty hợp danh cũng có thể
quy định khác về tỉ lệ này nhưng phải được ghi rõ trong điều lệ của công ty.
2.2. Chủ tịch hội đồng thành viên.
5