Bài tập học kỳ thương mại Việt Nam 1
LỜI MỞ ĐẦU
Luật Doanh Nghiệp 2005 ra đời, đã sửa đổi, bổ sung đầy đủ hơn các quy định
về công ty hợp danh so với Luật Doanh Nghiệp 1999. Điều này đã tạo nên một
hành lang pháp lý an toàn và vững chắc khi nhà đầu tư muốn thành lập công ty hợp
danh. Thêm vào đó, điều này cũng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao
nhận thức của người dân về công ty hợp danh. Tuy nhiên, bên cạnh việc kế thừa và
phát triển tiếp theo các quy định của Luật Doanh Nghiệp 1999, Luật Doanh Nghiệp
2005 vẫn bộc lộ những bất cập nhất định qua các quy định về công ty hợp danh,
đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho sự đóng góp của công ty hợp
danh trong sự phát triển của toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân nói chung còn rất hạn
chế. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến ngày 31/12/2007, cả nước có 53
công ty hợp danh trong khi đó số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn là 77.648
công ty, số lượng công ty cổ phần là 22.459 công ty và số lượng doanh nghiệp tư
nhân là 40.468 công ty. Số liệu trên đã cho thấy các nhà đầu tư vẫn ngần ngại với
loại hình công ty hợp danh mặc dù loại hình này đã được pháp luật thừa nhận hơn
10 năm nay.
Xuất phát từ vấn đề này, tôi quyết định lựa chọn đề tài “bình luận các quy định
của Luật Doanh nghiệp 2005 về công ty hợp danh mà em cho là chưa phù hợp”,
qua đó mong muốn nêu lên một số quan điểm của bản thân về các quy định của
pháp luật hiện hành về công ty hơp danh, đồng thời đóng góp một số ý kiến hoàn
thiện cho các quy định của pháp luật về loại hình công ty này, qua đó góp phần
thúc đẩy sự phát triển của loại hình công ty này trong thời gian tới.
NỘI DUNG CHÍNH
I. Bình luận các quy định của luật doanh nghiệp 2005 về công ty hợp danh
1. Khái niệm công ty hợp danh
Theo luật doanh nghiệp 2005 quan niệm về công ty hợp danh ở nước ta hiện
nay có một số quan điểm khác nhau với cách hiểu truyền thống về công ty hợp
danh nhưng vẫn dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc từ mô hình công ty hợp danh
của một số nước trên thế giới. Khoản 1 điều 130 luật doanh nghiệp 2005 quy định
công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
tất cả các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn(hợp danh thông thường); hai là, hợp
danh hữu hạn – công ty bao gồm những thành viên chịu trách nhiệm vô hạn, có
quyền quản lý, điều hành công ty và thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn không có
quyền quản lý, điều hành công ty.
Luật doanh nghiệp 2005 của Việt Nam gộp hai loại hình công ty hợp danh
thông thường (hợp danh tuyệt đối) và công ty hợp danh hữu hạn làm một với tên
gọi chung là công ty hợp danh.
Page 2
Bài tập học kỳ thương mại Việt Nam 1
Như vậy, có thể thấy khái niệm công ty hợp danh theo luật doanh nghiệp 2005
của Việt Nam có nội hàm khái niệm công ty đối nhân theo pháp luật các nước. Với
quy định về công ty hợp danh, luật doanh nghiệp 2005 đã ghi nhận sự tòn tại của
các công ty đối nhân ở Việt Nam.
2. Quy chế thành viên
2.1.Thành viên hợp danh:
* Điều kiện để trở thành viên hợp danh
Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 130 luật doanh nghiệp thì các công ty
hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh.
Như vậy, thành viên hợp danh của công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam
chỉ có thể là cá nhân. Điều này khác với các quy định của một số nước như Anh,
Pháp, Mỹ thì thành viên hợp danh có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.
Theo nghị định số 03/NĐ – CP ngày 3/2/2000 hướng dẫn thi hành một ssoo
điều của luật doanh nghiệp 1999 thì thành viên hợp danh không những phải là cá
nhân mà còn có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp.
Nhưng hiện nay theo luật doanh nghiệp 2005 chỉ đòi hỏi thành viên hợp danh là
cá nhân, không nhất thiết phải có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp. Tuy
nhiên đối với một số ngành nghề nhất định thì pháp luật cũng đòi hỏi thành viên
hợp danh phải có chứng chỉ, các bằng cấp và uy tín nhất định mới được quyền
thành công ty hợp danh, như lĩnh vực tư vấn pháp lý, khám chữa bệnh
Xuất phát từ vai trò quan trọng của thành viên hợp danh đối với công ty hợp
khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty, trong thời hạn hai năm kể từ ngày chấm
dứt tư cách thành viên, thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ của công ty đã phát sinh trước khi đăng kí việc chấm dứt tư cách
thành viên đó với cơ quan đăng kí kinh doanh.
Theo điều 139 Luật doanh nghiệp 2005 thì quá trình hoạt động, công ty hợp
danh có quyền tiếp nhận thêm thành viên hợp danh hoặc thành viên góp vốn. Việc
tiếp nhận them thành viên phải được hội đồng thành viên chấp thuận. Thành viên
hợp danh mới được tiếp nhận vào công ty phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty
( trừ trường hợp có thỏa thuận khác).
* Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh
Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp danh được hưởng những quyền
cơ bản, quan trọng của công ty đồng thời phải thực hiện những nghĩa vụ tương
xứng để bảo vệ quyền lợi của công ty và những người liên quan. Theo điều 134
Page 4
Bài tập học kỳ thương mại Việt Nam 1
Luật doanh nghiệp 2005 quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh.
Theo đó, thành viên hợp danh có quyền cơ bản của một chủ sở hữu, là người đại
diện theo pháp luật của công ty, có thể nhân danh công ty kí kết, thực hiện các hợp
đồng mà không cần phải thông báo trước với các thành viên khác. Như vây, thành
viên hợp danh có quyền độc lập trong khả năng tiến hành kinh doanh.
Đồng thời thành viên hợp danh phải thực hiện các nghĩa vụ và chịu các ràng
buộc pháp lý nhất định. Các thành viên hợp danh không nhân danh chính mình, tổ
chức, cá nhân khác kí kết những hợp đồng liên quan tới lĩnh vực kinh doanh của
công ty. Thành viên hợp danh muốn chuyển phần vốn góp của mình ra ngoài phải
được sự đồng ý của các thành viên khác vì công ty hợp danh là công ty đối nhân,
chỉ quan tâm đến yếu tố nhân thân của thành viên.
2.2.Thành viên góp vốn
* Điều kiện trở thành thành viên góp vốn
Công ty hợp danh có thể có thể có thành viên góp vốn. Thành viên có thể là cá
góp vào công ty thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của các thành viên
với công ty. Tại điểm a điều 140 Luật doanh nghiệp 2005 cũng xác định, thành
viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn góp đã cam kết góp.
Như vậy, quy định về vấn đề trách nhiệm cảu các thành viên góp vốn tại điểm c
khoản 1 điều 130 luật doanh nghiệp 2005 đã không nhất quán với khoản 3 điều 131
và điểm a khoản 2 điều 140 luật doanh nghiệp 2005. Khi có sự mâu thuẫn giữa các
điều luật như vậy cần áp dụng quy định nào của pháp luật ( những điều luật nào
được ưu tiên áp dụng?). Một trong những nguyên tắc áp dụng pháp luật là luật
riêng, luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng, chỉ những gì luật riêng, luật chuyên
ngành không quy định mới áp dụng quy định chung của pháp luật. Theo logic đó,
quy định tại khoản 3 điều 131 và điểm a khoản 2 điều 140 luật doanh nghiệp 2005
là những quy định riêng, cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ của thành viên góp vốn
cần ưu tiên áp dụng trước quy định tại điểm c khoản 1 điều 130 luật doanh nghiệp
2005. Điều 130 là những điều khoản cụ thể hơn về vốn, về quyền và nghĩa vụ của
thành viên góp vốn.
2.3. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn
Bên cạnh những thuận lợi được hưởng từ chế độ trách nhiệm hữu hạn, thành
viên góp vốn bị hạn chế những quyền cơ bản của một thành viên công ty. Thành
viên góp vốn không được tham gia quản lý công ty, không được hoạt động kinh
doanh nhân danh công ty. Pháp luật nhiều nước còn quy định nếu thành viên góp
vốn hoạt động kinh doanh nhân danh công ty thì sẽ bị mất quyền chịu trách nhiệm
hữu hạn về các khoản nợ của công ty.
Page 6
Bài tập học kỳ thương mại Việt Nam 1
Ngoài đặc điểm trên thì thành viên góp vốn cũng có một số quyền và nghĩa vụ
khác được quy định tại điều 140 luật doanh nghiệp 2005, như: quyền tham gia họp,
thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung điều lệ
công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ
chức và giải thể công ty; được chia lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ vốn góp, quyền
4.2. Vấn đề huy động vốn trong công ty hợp danh
Theo khoản 3 điều 130 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Công ty hợp danh
không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào”.
Theo quy định trên thì công ty hợp danh không được phép phát hành bất kì loại
chứng khoán nào. Câu hỏi đặt ra ở đây là quy định như vậy liệu đã hợp lí chưa và
xuất phát từ lí do nào mà pháp luật quy định vậy?
Trên thực tế ta thấy phát hành chứng khoán là một phương thức giúp cho doanh
nghiệp có khả năng huy động vốn cũng như nâng cao tiềm lực và doanh thu cho
doanh nghiệp mình. Thị trường chứng khoán đã trở thành sân chơi chung và phổ
biến cho các doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư.
Theo luật doanh nghiệp 2005 thì hầu hết các doanh nghiệp có tư cách pháp
nhân đều được phát hành những lại chứng khoán nhất định: công ty cổ phần được
phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn; công ty TNHH một thành viên
và hai thành viên trở lên chỉ không được phát hành cổ phần – tức là các công ty
TNHH vẫn có thể phát hành trái phiếu. Như vậy, những công ty này cũng như
công ty hợp danh đều có tưu cách pháp nhân nhưng chỉ có công ty hợp danh là
không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Công ty hợp danh chỉ khác các
doanh nghiệp ở điểm cơ bản là chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của những thành
viên hợp danh và mang tính chất đóng, hạn chế tiếp nhận thành viên hợp danh.
Nhưng đây không phải là lí do hợp lí để quy định cho công ty hợp danh không
được phát hành bất kì loại trái phiếu nào. Chứng khoán có thể là cổ phiếu hoặc trái
phiếu. Người mua cổ phiếu tức là cổ đông, còn người mau trái phiếu trở thành chủ
nợ của công ty, không có quyền tham gai quản lý công ty, không phải là thành viên
công ty. Do đó, việc phát hành trái phiếu để huy động vốn cũng không ảnh hưởng
đến tính chất đóng, hạn chế tiếp nhận thành viên của công ty hợp danh. Hơn nữa,
từ góc độ bảo vệ quyền lợi của những người đầu tư mua trái phiếu thì chế độ chịu
trách nhiệm liên đới và vô hạn của các thành viên hợp danh trong công ty là một an
toàn pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
4.3. Vấn đề chuyển nhượng vốn góp trong công ty hợp danh
Vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp cũng có sự khác nhau giữa thành viên
đổi bổ sung các quyền, nghĩa vụ của thành viên góp vốn về tổ chức lại, giải thể
công ty và các vấn đề khác của điều lệ có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ
của họ (điểm a khoản 1 điều 140 Luật doanh nghiệp 2005).
Như vậy, việc quản lí, giám sát nội bộ cũng như cơ chế điều hành của công
ty hợp danh về thực chất đều nằm trong tay các thành viên hợp danh. Tuy luật quy
định cho phép thành viên góp vốn cũng được tham gai vào Hội đồng thành viên –
cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty hợp danh – nhưng thực chất việc
quyết định các vấn đề của công ty lại thuộc về thành viên hợp danh thông qua
những quy định về tỉ lệ thiểu số thành viên hợp danh biểu quyết các vấn đề của
Page 9
Bài tập học kỳ thương mại Việt Nam 1
công ty. Thành viên góp vốn chỉ có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết một số
vấn đề gắn với quyền và lợi ích trực tiếp của mình mà không có quyền quản lí và
điều hành công ty.
6. Giải thể công ty hợp danh
6.1.Các trường hợp giải thể
Theo quy định tại điều 157 Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty hợp danh có
thể bị giải thể trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không
có quyết định gia hạn;
Thứ hai, Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân;
của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh; của Hội đồng thành viên,
chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của Đại hội đồng cổ đông
đối với công ty cổ phần;
Thứ ba, Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của
Luật này trong thời hạn sáu tháng liên tục;
Thứ tư, Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
6.2. Thủ tục giải thể doanh nghiệp
Quy định tại điều 158 Luật doanh nghiệp 2005, bao gồm các bước sau:
Bước 1: thông qua quyết định giải thể công ty.
viên góp vốn
Thứ tư, cần quy định cụ thể hơn về quyền của thành viên góp vốn trong việc
quyết định một số vấn đề của công ty hợp danh. Với các quy định của LDN 2005
thì các quyền của thành viên góp vốn trong công ty chỉ mang tính hình thức nhất là
trong hoạt động tham gia quản lí và điều hành công ty. Quy định về thể thức, cách
thức biểu quyết thông qua các vấn đề của công ty.
Thứ năm, cần cho phép công ty hợp danh được quyền phát hành trái phiếu
để thu hút vốn đầu tư. Quy định như vậy vừa đảm bảo tính công bằng cho các loại
hình công ty với các loại hình doanh nghiệp khác trong việc tăng kênh huy động
vốn. Đồng thời đảm bảo tính hợp lý của ác quy định pháp luật về doanh nghiệp với
các quy định của pháp luật chứng khoán.
Page 11
Bài tập học kỳ thương mại Việt Nam 1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật thương mại 1, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp,
năm 2006.
2. Luật thương mại Việt Nam 2005
3. Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
4. Tài liệu tham khảo tại trang Web:
- Chinhphu.org.com.vn
- Tailieuso.com
- Tailieu.com. vn
Page 12
Bài tập học kỳ thương mại Việt Nam 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG CHÍNH
I. Bình luận các quy định của luật doanh nghiệp 2005 về công ty hợp danh
1. Khái niệm công ty hợp danh
2. Quy chế thành viên