Đa dạng hoá các hình thức luyện tập, củng cố để nâng cao hiệu quả giờ dạy học đọc hiểu văn bản ở trường trung học phổ thông - Pdf 27

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đa dạng hoá các hình thức luyện tập, củng cố
để nâng cao hiệu quả giờ dạy học đọc - hiểu
văn bản ở trường Trung học phổ thông
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngữ văn là một môn học quan trọng, đóng vai trò chủ yếu trong nhà trường,
đây là một môn học có vai trò quan trọng không chỉ trong đời sống, mà còn có vai
trò quan trọng trong sự phát triển tư duy của con người. Một trong những vai trò
quan trọng nhất của môn Ngữ văn là giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho
học sinh. Hơn nữa, Ngữ văn còn là một môn học có mối quan hệ mật thiết với rất
nhiều môn học khác trong nhà trường. Học tốt mônNgữ văn sẽ có tác động rất lớn
tới các môn khác và người lại. Vì thế, môn Ngữ văn được ưu tiên dành thời gian
nhiều hơn trong chương trình dạy học.
Sự phát triển của xã hội đăt ra cho nghành giáo dục những nhiệm vụ mới, mục
tiêu giáo dục vì thế mà thay đổi dẫn đến sự thay đổi của của các yếu tố cấu thành
nên quá trình dạy học, trong đó có phương pháp dạy học. Nghị Quyết TW2-1997
khẳng định: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng
bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình giáo
dục đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh". Tuy nhiên, việc đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay ở nước ta còn chậm, Nghị quyết Trung ương 2
khoá VIII đã nhận định: “Phương pháp giáo dục và đào tạo ở nước ta chậm đổi
mới, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học”. Chính điều này đã
làm hạn chế chất lượng dạy và học ở trường phổ thông hiện nay. Và một câu hỏi rất

cách chắc chắn, có hệ thống. Đồng thời góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các
giờ dạy học Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở lí luận của hoạt động học tập nói
chung, đặc biệt là nghiêm cứu cơ sở lý luận của hoạt động luyện tập, củng cố trong
giờ đọc – hiểu văn bản.
- Khảo sát thực trạng dạy học phân môn Đọc văn, trọng tâm là việc tổ chức
hoạt động luyện tập, củng cố để từ đó đánh giá và rút ra kết luận sư phạm cần thiết
cho việc đề xuất các phương pháp để đa dạng hoá các hình thức luyện tâp, củng cố
nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy học đọc – hiểu văn bản cho học sinh ở trường
Trung học phổ thông.
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
- Nghiên cứu, đề xuất các phương pháp nhằm đa dạng hoá các hình thức luyện
tập, củng cố để nâng cao hiệu quả giờ dạy học đọc – hiểu văn bản.
- Tổ chức thực nghiệm nhằm kiểm chứng các biện pháp đề xuất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học đọc – hiểu văn bản ở
trường Trung học phổ thông, mà trọng tâm là nâng cao hiệu quả của giờ đọc – hiểu
văn bản bằng việc đa dạng hoá các hình thức dạy học, củng cố và các vấn đề lý
luận có liên quan.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu việc đa dạng hoá các hình thức luyện tập, củng
cố để nâng cao hiệu quả giờ dạy học đọc – hiểu văn bản ở trường Trung học phổ
thông. Cụ thể chúng tôi tiến hành khảo sát, thực nghiệm tại trường Trung học phổ
thông Hai Bà Trưng (Thành phố Huế).
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau đây:

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
B. NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề luyện tập, củng cố trong giờ
đọc hiểu văn bản
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Luyện tập, củng cố trong giờ đọc – hiểu văn bản
1.1.1.1. Khái niệm luyện tập, củng cố
1.1.1.2. Mục đích của hoạt động luyện tập, củng cố
1.1.1.3. Đặc trưng của hoạt động luyện tập, củng cố
1.1.1.4. Vị trí, vai trò của hoạt động luyện tập, củng cố trong giờ đọc –
hiểu văn bản
Luyện tập, củng cố là một hoạt động quan trọng không thể thiểu trong một giờ
đọc – hiểu văn bản.
Việc thường xuyên tổ chức hoạt động luyện tập, củng cố sẽ giúp học sinh lĩnh
hội kiến thức một cách nghẹ nhàng, nhanh chóng, ghi nhớ sâu hơn, lâu bền hơn. Là
một phân môn có đặc trưng chủ yếu là thầy giảng, trò nghe và tiếp thu tri thức, do
đó nhiều học sinh không lĩnh hội được cũng như không lĩnh hội kịp những vấn đề
mà thầy đã trình bày. Chẳng hạn, khi dạy về bài “Từ ấy” của Tố Hữu, nếu học sinh
chỉ nghe giáo viên giảng một cách thụ động thì khó mà lĩnh hội và ghi nhớ được,
nhưng nếu tổ chức cho các em tham gia vào hoạt động luyện tập, củng cố từ đó rút
ra kêt luận, những nội dung chính của bài học thông qua việc lập sơ đồ, sơ đồ tư
duy hay tổ chức trò chơi,… thì các em sẽ hiểu bài ngay và sẽ ghi nhớ lâu hơn vì khi
tham gia vào hoạt động luyện tập, củng cố các em phải trải qua một quá trình suy
nghĩ, tìm tòi, phân tích,… với cách học này, các em không chỉ chủ động trong việc
nắm bắt kiến thức, mà còn giúp các em hệ thống hoá những kiến thức đã học được,
phục vụ cho quá trình học sau này.
Tổ chức luyện tập, củng cố là một hoạt động đặc biệt quan trọng trong việc
phát triển năng lực tư duy cho học sinh. Khi tham gia vào hoạt động luyện tập,

các hoạt động, cùng với sự phát triển của ý chí, khả năng phân phối và di chuyển
chú ý của các em cũng rất tốt. Các em có thể thực hiện, hoàn thành nhiều hoạt động
cùng một lúc như: vừa nghe giảng, vừa theo dõi câu trả lời, vừa phân tích nhận xét,
vừa viết bài,…
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
1.1.2.3. Đặc điểm ghi nhớ
Đây là giai đoạn trí nhớ của các em phát triển cao: khả năng ghi nhớ rất
nhanh, các loại trí nhớ đề phát triển trong đó trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ
đạo, đồng thời vai trò của trí nhớ ý nghĩa tăn lên. Học sinh đã biết sử dụng nhiều
hình thức ghi nhớ chứ không còn chỉ ghi nhớ một cách máy móc. Đặc biệt, các em
đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ. Các em đã biết lựa chọn nội dung cần
ghi nhớ, cái nào cần nhớ từng câu từng chữ, cái nào chỉ cần hiểu mà không cần
nhớ, …
Thanh niên học sinh đang ở giai đoạn phát triển cao về trí nhớ. Các em có khả
năng nhớ rất nhanh. Các loại trí nhớ đều phát trií nhn nhưng trí nhớ có chủ định giữ
vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Hình thức ghi nhớ phong phú và đa dạng
song ghi nhớ từ ngữ và ghi nhớ logic ngày một chiếm ưu thế tăng rõ rệt. Đặc biệt
các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ. Các em biết tài liệu nào cần
nhớ từng câu từng chữ, cái gì cần hiểu mà không cần nhớ. Thanh niên học sinh có
khả năng thiết lập các liên tưởng rất tốt trong ghi nhớ cũng như gợi lại thông tin
trong trí nhớ. Theo S.Ivanov, một hình ảnh thể hiện dựa trên một hệ thống các liên
tưởng phức tạp và phát triển tương đương với một tổng hợp các mối liên hệ; mối
liên hệ này được hình thành dưới ảnh hưởng của một loạt các tình tiết của kinh
nghiệm sống. Những gì có thể dễ ghi nhớ nhất là những tư liệu liên quan đến các
trải nghiệm. Thanh niên học sinh đã có những trải nghiệm và việc học dựa trên sự
hiểu là căn bản nên sự liên tưởng ngữ nghĩa giữ vai trò quan trọng trong trí nhớ của
các em. Thanh niên học sinh đã học được những kĩ thuật hỗ trợ cho trí nhớ như sử
dụng các sơ đồ tổ chức, biểu đồ, tóm tắt ý chính…; tìm điểm tựa trong ghi nhớ, từ
khóa, sự sắp xếp logic….chú ý quá trình mã hóa khi ghi nhớ hơn là sự tâm niệm

xếp này đã tạo điều kiện cho việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung
và phân môn đọc – văn bản nói riêng.
Bảng tóm tắt chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông:
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
ST
T
Tên bài học Lớp Ghi chú
1 Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Săm_sử thi Tây
Nguyên)
10 Đọc
thêm
2 Truyện An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thuỷ 10
3 Uy – lít – xơ trở về (trích Ô – đi – xê_sử thi Hi Lạp) 10
4 Ra – ma buộc tội (trích Ra – ma – ya – na_sử thi Ấn Độ) 10
5 Tâm Cám 10
6 Tam đại con gà 10
7 Nhưng nó phải bằng hai mày 10
8 Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa 10
9 Ca dao hài hước 10
10 Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu_truyện thơ Thái) 10 Đọc
thêm
11 Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) 10
12 Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) 10
13 Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) 10
14 Đọc Tiểu thanh kí (Nguyễn Du) 10
15 Vận nước (Đỗ Pháp Thuận), Cáo bệnh bảo mọi người
(Mãn Giác), Hứng trở về (Nguyễn Trung Ngạn)
10 Đọc
thêm

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
31 Nỗi thương mình (trích Truyện Kiều_Nguyễn Du) 10
32 Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều_Nguyễn Du) 10
33 Thề nguyền (trích Truyện Kiều_Nguyễn Du) 10 Đọc
thêm
34 Vào phủ chúa Trịnh (Lê Hữu Trác) 11
35 Tự tình II (Hồ Xuân Hương) 11
36 Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) 11
37 Thương vợ (Trần Tế Xương) 11
38 Vịnh khoa thi hương (Trần Tế Xương), Khóc Dương Khê
(Nguyễn Khuyến)
11 Đọc
thêm
39 Bài ca ngất ngưỡng (Nguyễn Công Trứ) 11
40 Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát) 11
41 Lẽ ghét thương (trích Lục Vân Tiên_Nguyễn Đình
Chiểu)
11
42 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) 11
43 Chạy giăc (Nguyễn Đình Chiểu), Bài ca phong cảnh
Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)
11 Đọc
thêm
44 Xin lập khoa Luật (trích Cấp tế bát điều của Ngyễn
Trường Tộ)
11 Đọc
thêm
45 Hai đứa trẻ (Trạch Lam) 11
46 Chữ người chữ tù (Nguyễn Tuân) 11
47 Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ_Vũ Trọng

người khốn khổ_Huy-gô)
63 Về luận lí xã hội nước ta (Phan Châu Trinh) 11
64 Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức
(Nguyễn An Ninh)
11 Đọc
thêm
65 Ba cống hiến vĩ đại của Các-mác (Ăng-ghen) 11 Đọc
thêm
66 Một thời đại trong thi ca (trích Thi nhân Việt Nam_Hoài
Thanh, Hoài Chân)
11
67 Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh) 12
68 Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của
dân tộc (Phạm Văn Đồng)
12
69 Mấy ý nghĩ về thơ (trích của Nguyễn Đình Thi),
Đốt – stôi – ép – ski (trích của Xvai – gơ)
12 Đọc
thêm
70 Thông điệp ngày thế giới phòng chống AIDS, 1 – 2 –
2003 (Cô – phi an – nam)
12
71 Tây Tiến (Quang Dũng) 12
72 Việt Bắc (Tố Hữu) 12
73 Đất nước (trích Trường ca mặt đường khát vọng_Nguyễn
Khoa Điềm)
12
74 Đất nước (Nguyễn Đình Thi) 12 Đọc
thêm
75 Dọn về làng (Nông Quốc Chấn), Tiếng hát con tàu (Chế

Qua bảng thống kê ở trên, ta có thể thấy chương trình số lượng các văn bản
đọc hiểu ở ba khối lớp 10, 11, 12 gần như ngang bằng nhau. Nếu xét trong toàn bộ
chương trình thì số lượng các bài thuộc phân môn đọc – hiểu văn bản chiếm thời
lượng nhiều nhất so với các phân môn khác. Cũng từ bảng thống kê trên, ta nhận
thấy các văn bản đọc – hiểu văn bản được sắp xếp theo thể loại và có sự luận phiên
giữa bài học và bào đọc thêm
1.2.2. Thực trạng tổ chức hoạt động luyện tập, củng cố trong giờ đọc – hiểu văn bản
ở Trung học phổ thông
Luyện tập, củng cố là một khâu quan trọng trong một giờ đọc hiểu nói riêng
và giờ dạy học văn nói chung. Tuy nhiên, hầu như giáo viên không quan tâm đến
bước này khi dạy học. Đa phần giáo viên thường luyện tập củng cố cho các em
bằng cách gọi một học sinh đứng dậy đọc phần ghi nhớ, sau đo giao bài về nhà làm,
thậm chí nhiều giáo viên bỏ qua bước nàu khi dạy học. Việc giáo viên lơ là hoạt
động luyện tập củng cố có thể do một số nguyên nhân sau:
+ Thời gian giảng dạy quá ngắn (chỉ 45 phút cho một tiết học) trong khi kiến
thức lại qua dài. Giáo viên chú trọng việc giảng dạy truyền đạt kiến thức cho học
sinh mất rất nhiều thời gian, nên không có thời gian cho hoạt động luyện tập, củng
cố
+ Nhiều giáo viên xem đây là một hoạt động không cần thiết và tốn thời gian
vì cho rằng học sinh đã lĩnh hộc được kiến thức trong quá trình dạy học. Do đó, họ
thường dùng thời gian của hoạt động luyện tập, củng cố cho việc giảng dạy, truyền
đạt kiến thức.
+ Vào cuối giờ học sinh thường lơ là không chú ý đến học tập, đây cũng là
nguyên nhân khiến giáo viên không tổ chức hoạt động luyện tập củng cố cho các
em.
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 13
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
Chương 2: Định hướng và các biện pháp đa dạng hoá các hình thức luyện tập,
củng cố cho học sinh trong giờ dạy học đọc – hiểu văn bản
2.1. Định hướng

các năng lực như: năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo, năng lực
ngôn ngữ, năng lực tự giải quyết vấn đề,…
2.1.2. Tổ chức hoạt động luyện tập củng cố gắn với mục tiêu dạy học theo
hướng tích cực
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, chủ động của học
sinh
Dạy học theo hướng tích cực là phải tăng cường tính chủ động, sáng tạo, rèn
luyện kĩ năng tự học của học sinh, tạo điều kiện cho người dạy có thể thực hiện
được vai trò tổ chức, dẫn dắt các hoạt động học tập ở người học.
Dạy học theo hướng tích cực trong môn Ngữ văn thể hiện ở việc chuyển trọng
tâm của hoạt động dạy từ thầy sang trò. Mọi hoạt động trong giờ học Ngữ văn đề
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Tổ chức cho học sinh hoạt
động tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức và hình thành các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết.
2.2. Biện pháp
2.2.1. Phương pháp thảo luận nhóm
2.2.1.1. Khái niệm
Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp có sự tham gia
tích cực của học viên. Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân
chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng,
biết đón nhân quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn
luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn. Hay nói cách khác, phương pháp thảo
luận nhóm là cách thức giáo viên tổ chức cho học sinh bàn bạc, trao đổi ý kiến,
quan điểm của mình về một vấn đề nào đó trong quá trình dạy học.Đây là phương
pháp dạy học thể hiện rõ nét sự tương tác giữa giáo viên - học sinh - môi trường.
Thảo luận nhóm có thể thực hiện dưới hai hình thức:
+ Thảo luận nhóm lớn.
+ Thảo luận nhóm nhỏ (5-7 người).
2.2.1.2. Mục đích
- Kích thích lòng ham mê học tập của học sinh, tránh lối học thu động.
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 15

SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
Khi học sinh tiến hành thảo luận nhóm, giáo viên cần chú ý: chuyển từ vị trí
người hướng dẫn sang vị trí người giám sát. Giám sát tiến trình hoạt động của các
nhóm từ đó có thể có những can thiệp kịp thời để mang lại hiệu quả. Trong suốt
buổi thảo luận nhóm, giáo viên cần đi vòng quanh các nhóm và lắng nghe ý kiến
học sinh. Thỉnh thoảng cũng rất hữu ít nếu giáo viên xen lời bình luận vào giữa
cuộc thảo luận của một nhóm.
Bước 4: Đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình, các
thành viên khác trong lớp trao đổi ý kiến, tranh luận, bổ sung; giáo viên lắng nghe ý
kiến của các nhóm.
Bước 5: Giáo viên tổng kết, đánh giá và khẳng định ý kiến đúng.
Lựa chọn vấn đề thảo luận là một khâu rất quan trọng, nó chi phối đến kết quả
của quá trình thảo luận. Vì vậy, khi lựa chọn vấn đề thảo luận cần chú ý đến những
điều sau: vấn đề đó phải là trọng tâm, chứa đựng thông tin của bài học; vấn đề
thường đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ; phải vừa sức của học sinh và
tương ứng với thời gian làm việc.
2.2.1.4. Một số ví dụ
Phương pháp thảo luận nhóm không phải là một phương pháp mới, tuy nhiên,
việc đưa phương pháp này vào phần luyện t ập củng cố được khá ít giáo viên sử
dụng. So với các đề mục khác, việc đưa phương pháp luyện tập củng cố vào mục
luyện tập củng cố sẽ phát huy hết vai trò của nó: Vừa giúp học sinh năng lực hợp
tác, làm việc theo nhóm, vừa giúp học sinh trao đổi, bàn bạc lại nội dung bài học để
từ đó, ghi nhớ sâu hơn và lâu dài hơn.
Để thực hiện tốt hoạt động thảo luận nhóm, giáo viên cần chuẩn bị tốt nhiệm
vụ thảo luận. Nhiệm vụ thảo luận cũng có thể là câu hỏi tổng hợp, để học sinh có
thể trả lời được những câu hỏi dạng này thì giáo viên cần có câu hỏi gợi ý. Chẳng
hạn: Để tổng kêt lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài “Câu cá mùa
thu”_Nguyễn Khuyến, giáo viên có thể đưa ra nhiệm vụ cho học sinh thảo luận
nhóm như sau: Sau khi học xong bài “Câu cá mùa thu” em hãy trình bày ngắn gọn:

“Tôi yêu em” của Puskin và “Bài thơ số 28” của Tagore bằng cách điền vào bảng
sau:
Tôi yêu em Bài thơ số 28
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
Điểm
giống
nhau
Đề tài
Nội dung
Nghệ thuật
Điểm
khác
nhau
Đề tài
Nội dung
Nghệ thuật
Hoặc giáo viên có thể tổ chưc cho học sinh thảo luận nhóm để vẽ sơ đồ tư duy
về , thông qua kiến thức mình đã học được, sau đó gọi đại diện từng nhóm lên trình
bày về ý tưởng sơ đồ tư duy của nhóm mình. Như vậy, thông qua thảo luận nhóm,
các em vừa có thể rèn luyện năng lực hợp tác, vừa có thể củng cố kiến thức mình
đã học được.
Tuy nhiên, không phải bất cứ nội dung nào của bài học cũng có thể đưa ra
thảo luận, chỉ có những vấn đề đảm bảo những yêu cầu trên mới nêu thành câu hỏi
thảo luận. Bên cạnh đó câu hỏi thảo luận còn phải rõ ràng, cụ thể phù hợp với nội
dung bài học, trình độ nhận thức của học sinh.
Từ những phân tích trên ta thấy, trong thảo luận nhóm những điều học sinh
học được là kết quả của sự tự vận động của bản thân và sự hợp tác, giao lưu với các
thành viên trong nhóm, với giáo viên thông qua việc trình bày ý kiến của mình,
lắng nghe ý kiến của bạn, của thầy, trao đổi với bạn, với thầy về ý kiến của mình.

giờ học căng thẳng.
2.2.2.2. Các bước tổ chức trò chơi
Trong quá trình dạy học có thể sử dụng nhiều trò chơi khác nhau. Song dù sử
dụng trò chơi học tập nào thì giáo viên cũng phải tiến hành theo đúng các bước sau:
Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi
Tên trò chơi có thể được đặt theo hình thức của trò chơi như: trò chơi ô chữ,
trò chơi trả lời nhanh câu hỏi trắc nghiệm, trò chơi tìm câu,… hoặc giáo viên có thể
gọi trò chơi bằng những tên khác nhau như: trò chơi
Bước 2: Hướng dẫn chơi
Bước này bao gồm những việc làm sau: Tổ chức người tham gia trò chơi (số
người tham gia, số đội tham gia, quản trò, trọng tài, ). Các dụng cụ dùng để chơi.
Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi,
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
những điều người chơi không được làm… Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm
chơi, cách giải của cuộc chơi (nếu có).
Bước 3: Làm mẫu
Bước 4: Thực hiện trò chơi
Bước 5: Đánh giá
Giáo viên hoặc trọng tài là học sinh nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của
từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm và công bố kết
quả.
2.2.2.3. Một số ví dụ
2.2.2.3.1. Hình thức “Ai nhanh, ai giỏi”
Trò chơi nhằm giúp học sinh hình thành được yêu cầu về kiến thức trong sách giáo
khoa, rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, có sự chọn lọc và tổng hợp về kiến thức, hình
thành năng lực tự ý thức, ghi nhớ bài học một cách nhanh nhất và sâu nhất,…
Một số trò chơi cụ thể cho hình thức này:
+ Trò chơi “Trả lời nhanh”
Để luyện tập củng cố lại bài “Cảnh ngày hè” giáo viên có thể đưa ra ột số câu hỏi

Ví dụ có thể đổi tên thành “Trò chơi con số may mắn”. Luật chơi như sau: giáo viên
chuẩn bị trước một bảng gồm 9 ô chữ, sau đó chọn ngẫu nhiên hai số làm con số may
mắn, các số còn lại là các câu hỏi. Để tiến hành chơi, giáo viên chia lớp thành hai nhóm,
mỗi nhóm sẽ chọn ngẫu nhiên một con số. Nếu chọn trúng con số may mắn thì sẽ được
1 điểm, và được chọn thêm một con số. Đối với các số còn lại, giáo viên sẽ đưa câu hỏi
cho học sinh trả lời, nếu trả lời đúng sẽ được 1 điểm. Kết thúc trò chơi, đội nào được
nhiều điểm hơn sẽ chiến thắng. Ví dụ sau khi học xong bài: “ Tây tiến” của Quang
Dũng, giáo viên tổ chức trò chơi “Con số may mắn” cho học sinh luyện tập, củng cố
như sau:
Câu hỏi số 5 Câu hỏi số 1 Con số may mắn
Câu hỏi số 3 Câu hỏi số 6 Câu hỏi số 4
Con số may mắn Câu hỏi số 2 Câu hỏi số 7
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
Câu hỏi số 1: Hình tượng trung tâm trong bài thơ “Tây Tiến là?
A. Thiên nhiên hùng vĩ ở Tây Bắc
B. Cô gái Tây Bắc duyên dắng, dịu dàng
C. Hình ảnh hào hoa, lãng mạng của người lính Tây Tiến
D. Thiên nhiên thơ mộng, lãng mạn ở Tây Bắc
Câu hỏi số 2: Em hãy điền hai địa danh còn thiếu trong câu thơ sau:
“Sài Khao sương lấp đoàn chân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Câu hỏi số 3: Bốn câu thơ sau nói lên điều gì?
“Dốc lên khúc khuỷ dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Puông mưa xa khơi”
(Đặc tả địa hình sông núi hiểm trở nhưng cũng không kém phần thơ mộng của
miền tây Bắc trên đường hành quân)
Câu hỏi số 4: Bài thơ “Tây Tiến” được Quang Dũng sáng tác trong thời gian nào

+ Câu hỏi, đáp án
- Tiến hành
+ Ô chữ dạng trả lời câu hỏi
Ví dụ 1: Có thể tiến hành trò chơi ô chữ khi dạy xong bài “Hai đứa trẻ” của Thạch
Lam, để ôn lại kiến thức đã học cho học sinh giáo viên có thể tổ chức trò chơi ô chữ như
sau:
Hàng ngang thứ 1: Tác giả mở đầu truyện ngắn bằng không gian nào?
Hàng ngang thứ 2: Qua tác phẩm, Thạch Lam đã thể hiện thái độ gì đối với những
con người nơi phố huyện
Hàng ngang thứ 3: Qua cảnh sinh hoạt của những con người nơi phố huyện, em
hãy cho biết cuộc sống của những con người nơi đây như thế nào?
Hàng ngang thứ 4: Thạch Lam đã gửi gắm mong ước gì của người dân phố huyện
qua hình ảnh đoàn tàu đêm?
Hàng ngang thứ 5: Đoàn tàu đêm đến mang đến một thế giới khác, một thế giới
đối lập hoàn toàn với cuộc sống nơi đây, đó là thế giới như thế nào?
Hàng ngang thứ 6: Cuộc sống của những con người nói phố huyện như những
ngọn đèn nhỏ bé trong đêm, đó là một cuộc sống như thế nào?
Hàng ngang thứ 7: Hình ảnh biểu tượng nào thể hiện rõ nhất giá trị nhân đạo của
tác phẩm?
Hàng ngang thứ 8: Tác phẩm được viết trong bối cảnh xã hội nào?
SVTH: Hồ Minh Quỳnh Như 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Lê Thị Ngọc Anh
Hàng ngang thứ 9: Cuộc sống hằng ngày của những con người nơi phố huyện diễn
ra như thế nào?
P H Ố H U Y Ệ N
Đ Ồ N G C A M
M Ò N M Ỏ I
Đ Ổ I Đ Ờ I
N Á O N Ứ C
L A Y L Ắ T


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status