SKKN Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học môn văn nhằm phát huy sự hứng thú cho học sinh - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CẦN THƠ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN VIỆT DŨNG
O
KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY

ĐA DẠNG HOÁ CÁC HÌNH THỨC
TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN VĂN
NHẰM PHÁT HUY SỰ HỨNG THÚ
CHO HỌC SINH Giáo viên: LÊ THỊ BÍCH LỆ
Tổ: Ngữ văn Năm học: 2013 – 2014 3
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Dạy văn - học văn là công việc đòi hỏi không chỉ công sức mà còn có cả tâm
sức của cả người dạy và người học. Văn chương là câu chuyện của nội tâm, nội cảnh
và nội tình của con người. Qua đó, người đọc bắt gặp tâm hồn, tư tưởng và những
dụng công nghệ thuật của tác giả Nhưng thực trạng đáng buồn hiện nay là có nhiều
học sinh lười học văn, xem nhẹ bộ môn văn dẫn đến kết quả môn văn bao giờ cũng ở
mức yếu kém. Một trong những nguyên nhân khiến cho giáo viên phải “độc thoại,
độc giảng” trong giờ văn là do tiết học chưa nhận được sự đồng thuận, đồng tình,
đồng hành của các em. Yêu cầu nâng chất lượng bộ môn đòi hỏi mỗi giáo viên phải
đầu tư, đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy sự hứng thú
cho học sinh. Trong nhiều năm qua, tôi đã cố gắng vận dụng, đối mới các hình thức
dạy học và nhận thấy tiết dạy của mình có hiệu quả cao hơn. Điều đó đã nung đúc
tinh thần cho cả thầy và trò trong quá trình dạy - học bộ môn Văn.
B. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH NGHIỆM:
Như chúng ta đã biết, hiện nay, chất lượng môn Văn của học sinh trung học
phổ thông có phần thấp hơn so với trước đây. Tình hình chung là học sinh ít có hứng
thú đối với môn Văn. Các em học Văn một cách thụ động, lười đọc sách - soạn bài,
học bài, không thích suy nghĩ - sáng tạo. Do đó, chẳng những kiến thức về văn học
và đời sống của các em bị hạn chế mà năng lực làm văn của các em cũng rất yếu
kém. Hệ thống công nghệ thông tin ngày càng phát triển thì hiện tượng các em thiếu
chủ động, tích cực trong giờ văn càng tăng thêm.
So với mặt bằng chung của thành phố, chất lượng bộ môn Văn của học sinh
ở các trường xét tuyển như trường tôi càng tệ hại hơn. Chấm bài kiểm tra chất lượng
đầu năm, dễ nhận ra khuyết điểm chung của các bài làm văn. Đó là sự cẩu thả trong
cách trình bày; sự sai sót về lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn; sự nông cạn,

phẩm văn học chỉ có thể tác động đến học sinh khi tác phẩm đó được tự nguyện tiếp
nhận thông qua những cảm xúc, rung động chân thành. Để đạt được điều đó, cần tạo
tâm thế tiếp nhận cho học sinh, tức là cần chú ý đến cách vào bài Vào bài như thế
nào để vừa liên kết giữa bài trước và bài sau, vừa ổn định trật tự, tạo sự chú ý, vừa
khơi gợi tâm lí cảm thụ văn học của học sinh?
Ngoài những cách thức thông thường như giới thiệu về tác giả, tác phẩm, ta
có thể tạo tâm thế bằng một số cách như sau:

5
a. Tổ chức một cuộc thi nhỏ trong 5 phút như: thi giới thiệu tác giả, tác phẩm;
hoàn thành mảnh ghép; trả lời nhanh các bài tập trắc nghiệm giữa các học sinh
hoặc giữa các nhóm để tạo không khí cần thiết cho giờ học. Chẳng hạn khi dạy đoạn
trích Việt Bắc của Tố Hữu, chia lớp thành 4 nhóm, cho các em thi giới thiệu về tác
giả Tố Hữu – nhà thơ của lí tưởng cộng sản và bài thơ Việt Bắc - một khúc tình ca
cách mạng trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Ngoài ra, ta còn có thể cho các
nhóm hoàn thành các mảnh ghép về tên các tác phẩm của Tố Hữu – năm sáng tác -
nội dung các tác phẩm đó.
b. Kể một số giai thoại ngắn, dí dỏm về tác giả, tác phẩm để gợi sự tò mò.
Chẳng hạn, khi dạy tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-minh-uê, tôi kể một giai
thoại không nêu tên tác giả, sau đó dẫn dắt vào bài. Giai thoại như sau:
Quảng cáo
Một cửa hiệu bán đồ trang sức ở Mỹ, muốn quảng cáo cho mình, bèn cậy Cục
gửi tới ông một hộp cà vạt kèm theo một bức thư: “Cà vạt của chúng tôi chỉ những
người nổi tiếng mới dùng. Chúng tôi xin gửi đến ngài một tá và đề nghị ngài vui
lòng gửi cho chúng tôi 20 đô la”. Vài hôm sau, chủ tiệm nhận được một gói sách do
ông gửi đến, cũng kèm theo một bức thư ngắn: “Sách của tôi, ai đeo cà vạt của ngài
đọc thì rất thích hợp. Giá sách 28 đô la. Vậy xin ngài vui lòng hoàn trả lại cho tôi 8
đô la nữa”. Ông chính là văn hào Hê-minh-uê – nhà tiểu thuyết lớn đã từng đạt giải
Nô- ben của văn học hiện đại Mỹ với tác phẩm Ông già và biển cả
c. Lời giới thiệu hay, ấn tượng thể hiện nghệ thuật sư phạm của người thầy:

tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh, chuẩn bị tích cực cho việc học văn trên
lớp, khâu đọc cần đi kèm với những yêu cầu, bài tập cụ thể của giáo viên:
+ Theo anh (chị), cần đọc tác phẩm bằng giọng điệu nào?
+ Đọc diễn cảm văn bản và cho biết cảm nhận chung của anh (chị)?
Tuỳ theo đặc trưng thể loại và nội dung, nghệ thuật của mỗi văn bản mà có
cách đọc khác nhau. Điều này sẽ dần dần hình thành ở học sinh một thói quen đọc
văn chủ động, tự giác trước khi lên lớp.
- Thứ hai là hướng dẫn học sinh đọc ở lớp: giáo viên sẽ đọc diễn cảm một
đoạn và hướng dẫn một học sinh có khả năng đọc diễn cảm tốt, có chất giọng phù
hợp với bài học thể hiện. Sau đó, lần lượt mời các học sinh khác đọc nối tiếp. Cuối
cùng giáo viên sẽ nhận xét để tuyên dương các em đọc tốt và giúp các em đọc chưa

7
tốt rút kinh nghiệm cho lần sau. Chẳng hạn, khi dạy đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu,
cần giúp các em thấy được toàn bộ bài thơ là một hoài niệm lớn, day dứt khôn nguôi
được thể hiện qua hình thức đối đáp giữa người ra đi và người ở lại, giữa người cán
bộ và người dân Việt Bắc. Để tạo không khí, ta cần cho học sinh đọc một số đoạn
theo kiểu phân vai đối đáp.
- Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son
- Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Những đoạn thơ đó cần được đọc với giọng điệu trữ tình thiết tha, êm ái, ngọt
ngào như âm hưởng lời ru đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.

- Sơ đồ hoá những diễn biến trong truyện hoặc mối quan hệ giữa các nhân vật
để tái hiện hình tượng nghệ thuật: Yêu cầu học sinh tiên đoán ý đồ nghệ thuật của
nhà văn, xác định được các ý nghĩa toát lên từ các quan hệ nhân vật – nhân vật, nhân
vật - sự kiện, nhân vật – hình ảnh thiên nhiên, Chẳng hạn, dạy tác phẩm Chiếc
thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, ta có thể sơ đồ hoá Câu chuyện của người
đàn bà ở toà án huyện như sau:

Phải có cái nhìn đa dạng, nhiều chiều
Người đàn bà
hàng chài
Người đàn
ông vũ phu
Đẩu
Phùng
gg
Phác

9
- Trực quan hoá bức tranh thế giới hình tượng bằng các loại hình tác phẩm
nghệ thuật khác: đây là biện pháp chuyển hình tượng không thể soi ngắm bằng mắt
thường sang những hình tượng có tính trực quan. Giáo viên chia lớp thành nhiều
nhóm, yêu cầu học sinh tưởng tượng và miêu tả lại bằng một bức tranh mô tả hình
dáng nhân vật, thiên nhiên, sự kiện, tình huống, Giáo viên cũng có thể yêu cầu học
sinh sưu tầm băng hình, tranh ảnh để minh hoạ cho bài học. Biện pháp này sẽ kích
thích được hứng thú học tập và phát triển khả năng sáng tạo của học sinh. Chẳng
hạn, dạy bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, ta có thể khuyến khích các em vẽ bức
tranh về bốn dòng thơ tuyệt bút:

các hoạt động tư duy, cảm xúc của học sinh. Chẳng hạn, dạy bài Số phận con người
của Sô- lô- khốp, cần chú ý đến đoạn văn trữ tình ngoại đề cuối tác phẩm:
+ Hai con người côi cút là những ai?
+ Vì sao tác giả lại so sánh họ với hai hạt cát?
+ Những người đứng tuổi bạc đầu trong chiến tranh khóc trong chiêm bao
là ai?
+ Những người khóc trong thực tại là ai?
Từ đó, đúc kết lại giá trị nhân đạo và giáo dục của tác phẩm.
- Phân tích cắt nghĩa văn học bằng biện pháp so sánh: giáo viên tổ chức cho
học sinh phân tích, cắt nghĩa các giá trị văn chương bằng biện pháp so sánh giữa các
tác phẩm, so sánh với thực tế cuộc sống, tác giả, nguyên mẫu, các tác phẩm thuộc
loại hình nghệ thuật khác, để sự phân tích, cắt nghĩa có thêm sức thuyết phục. Đây
là một thao tác tư duy có khả năng kích hoạt các vận động trí tuệ cảm xúc của con
người để tường giải cái hay, cái đẹp của thơ văn. Dạy Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
và Vợ nhặt của Kim Lân, ta có thể yêu cầu học sinh so sánh đoạn kết của hai tác
phẩm ấy với kết thúc của các tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao và Tắt đèn của Ngô
Tất Tố để thấy được cái hạn chế hay cái tích cực của mỗi tác phẩm. Hay dạy tác
phẩm Một người Hà Nội, ta có thể yêu cầu các em so sánh nhận vật cô Hiền với
người Hà Nội hôm nay, Qua đó, các em có thể phát huy khả năng tư duy, sáng tạo
của mình.

11
- Xây dựng những tình huống có vấn đề định hướng học sinh phân tích, cắt
nghĩa, khái quát hoá: giáo viên đưa ra câu hỏi và tình huống nêu vấn đề, học sinh
buộc phải phân tích, tổng hợp các dữ liệu để có thể xử lí được tình huống và trả lời
câu hỏi của giáo viên. Chẳng hạn, khi dạy bài Ông già và biển cả của Hê-minh-uê,
ta có thể nêu tình huống: “Cuối tác phẩm, có người nói ông lão đã chiến thắng,
nhưng cũng có người cho rằngông lão đã thất bại. Hãy cho biết ý kiến của em.”
- Tổ chức học sinh làm việc hợp tác, thảo luận theo nhóm để phân tích, cắt
nghĩa và khái quát hoá các giá trị nội dung, nghệ thuật tác phẩm. Ở đây, học sinh sẽ

những con người, hoàn cảnh, sự kiện, tình huống trong tác phẩm. Dạy tác phẩm
Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, ta có thể cho các em nhập vai nhân
vật Việt để hiểu được vì sao trong tình huống bị thương nặng, lạc đồng đội suốt mấy
ngày đêm, nhiều lần mê - tỉnh, Việt vẫn tồn tại với ý nghĩ: “Việt vẫn còn đây nguyên
tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng”
- Sáng tác thơ, viết bài bình luận văn học hoặc nhận xét, bình giá các tác
phẩm nghệ thuật đã được chuyển thể từ tác phẩm văn học:
+ Giáo viên sẽ động viên, khuyến khích, thậm chí chuyển thành bài tập
cho các tổ, nhóm học sinh sáng tác thơ văn về các tác phẩm trong chương trình Để
hỗ trợ, giáo viên có thể giới thiệu những sáng tác thơ về văn học của các nhà thơ,
nhà giáo để học sinh tham khảo.
+ Giáo viên cũng có thể cho học sinh viết bài bình luận ngắn về nhân vật,
tác phẩm ngay tại lớp hoặc ở nhà.
Giáo viên có thể đưa ra những tác phẩm nghệ thuật đã được chuyển thể từ
tác phẩm văn học và yêu cầu học sinh đánh giá, nhận xét. Biện pháp này vừa củng
cố việc nắm chắc nội dung tư tưởng bài học trên cơ sở so sánh, vừa đòi hỏi học sinh
phải bộc lộ kiến giải của mình
- Viết lại, sửa lại, bổ sung văn bản: có thể thúc đẩy học sinh cùng sáng tạo với
nhà văn bằng cách yêu cầu học sinh sửa đổi sự việc, đặt nhân vật vào bối cảnh khác,
tổ chức lời thoại khác hoặc bổ sung thêm sự kiện, tình huống vào cốt truyện, thêm
hành động, lời nói, suy nghĩ cho nhân vật, viết đoạn kết cho tác phẩm, Cách làm
này vừa thể hiện thái độ tiếp nhận của học sinh với những gì nhà văn đã sáng tạo
vừa bộc lộ những quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ mới, những kiến giải mới của học
sinh. Chẳng hạn, yêu cầu các em viết thêm đoạn kết về nhân vật Tràng trong Vợ
nhặt của Kim Lân.

13
- Viết thu hoạch cá nhân sau khi bài học kết thúc: giáo viên yêu cầu trong 5
phút, mỗi học sinh phải ghi lại một cách tự do những bài học sống, những kinh
nghiệm và trải nghiệm rút ra từ bài học.

thời kì đổi mới. Ông là một “trong số những người mở đường tinh anh và tài năng
nhất của văn học ta hiện nay” ( Nguyên Ngọc). Nếu trước năm 1975, ông là ngòi bút
sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn thì từ đầu thập kỉ 80 đến khi mất, ông
chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh.
- Về tác phẩm: Chiếc thuyền ngoài xa (1983) là một trong những sáng tác tiêu
biểu của văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1975 đến hết thế kỉ XX. Tác phẩm ra
đời khi đất nước đã thống nhất. Nhiều vấn đề của đời sống văn hoá nhân sinh nay
được chú ý. Nhiều quan niệm đạo đức phải được nhìn nhận lại trong tình hình mới.
Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học thời kì đổi mới là
hướng nội, khai thác sâu sắc số phận con người đời thường.
2.2.Hoạt động 2: Đọc và tái hiện nội dung cốt truyện :
- Giáo viên đọc và gọi một số học sinh đọc diễn cảm tác phẩm.
- Giáo viên chiếu bản tóm tắt có các sự kiện đã bị đảo lộn trên máy ( hoặc
phát phiếu học tập) rồi yêu cầu học sinh sắp xếp lại, qua đó tái hiện nội dung cốt
truyện:
(1) Theo lời mời của chánh án Đẩu, người đàn bà hàng chài đã đến toà án
huyện.
(2) Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã kinh ngạc khi chứng kiến cảnh
một gã chồng vũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man, đứa con vì muốn bảo vệ
mẹ nên đã đánh lại cha.
(3) Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được
chọn vào bộ lịch về “thuyền và biển” năm ấy.
(4) Tại đây, người phụ nữ đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất
quyết không bỏ lão chồng vũ phu.

15
(5) Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một
vùng ven biển miền Trung để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau.
(6) Tuy nhiên, mỗi lần nhìn tấm ảnh, anh đều thấy hiện lên cái màu hồng
hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn, anh thấy hình ảnh người đàn bà nghèo

hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”
- Giáo viên gợi mở và nêu vấn đề: Cảm nhận của Phùng khi chiêm ngưỡng
bức tranh là gì? Vì sao trong lúc ấy, anh lại nghĩ đến cái đúc kết của một ai đó: “bản
thân cái đẹp chính là đạo đức”?
- Học sinh phát hiện và lí giải: Phùng thấy “Trong trái tim như có cái gì bóp
thắt vào”. Bức ảnh đã khiến cho tâm hồn người nghệ sĩ rung động thực sự và trong
giây lát, anh còn “khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái
khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Phùng đã cảm nhận được cái chân, thiện, mỹ
của cuộc đời. Anh thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo. Vậy
là ở đây, cái đẹp đã có tác dụng thanh lọc tâm hồn con người. Với tác dụng ấy, cái
đẹp chính là đạo đức!
- Giáo viên chuyển dẫn: Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn đang bay bổng trong
những xúc cảm thẩm mỹ, đang tận hưởng cái khoảnh khắc trong ngần thì người
nghệ sĩ đã kinh ngạc khi phát hiện ra điều gì? Vì sao anh lại kinh ngạc đến thế?
- Học sinh tái hiện và lí giải: Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ xinh đẹp như
mơ là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn; một cảnh
tượng tàn nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo. Đứa con vì thương mẹ đã
đánh lại cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát. Chứng kiến
cảnh tượng đó, nghệ sĩ Phùng “kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, cứ đứng há
hốc mồm ra mà nhìn”. Phùng không thể ngờ rằng đằng sau cái đẹp diệu kì của tạo
hoá lại là bi kịch của cuộc đời, là cái ác, cái xấu. Vừa mới đó, anh còn cảm thấy
“bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, thấy “chân lí của sự toàn thiện” thế mà chỉ
ngay sau đó chẳng còn cái gì là “đạo đức”, là cái chân, cái thiện của cuộc đời.
- Giáo viên gợi mở: Qua hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng, Nguyễn Minh Châu
muốn người đọc nhận thức điều gì về cuộc đời?

17
- Học sinh phát hiện ý tưởng nghệ thuật của nhà văn: Cuộc đời không đơn
giản, xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí. Giữa hình thức bên ngoài với nội
dung bên trong không phải bao giờ cũng thống nhất. Đừng vội đánh giá con người,

- Giáo viên tiếp tục dẫn dắt học sinh khám phá: Trong câu chuyện ở toà án,
người đàn bà ấy đã kể những gì về người chồng vũ phu của mình? Qua đó, có thể
nhận thấy thái độ của chị đối với người chồng như thế nào?
- Học sinh tìm tòi chi tiết và đánh giá: Người đàn ông ấy vốn là “một anh con
trai cục tính nhưng hiền lành”, “không bao giờ đánh đập” vợ. Do “nghèo khổ, túng
quẫn đi vì trốn lính” mà anh trở nên độc dữ. Tức là trong con mắt của người đàn bà,
người chồng vũ phu kia chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Điều đó
cho thấy người phụ nữ vùng biển này đã nhìn nhận chồng mình với một thái độ thấu
hiểu, cảm thông, chia sẻ.
- Giáo viên gợi ý so sánh: Cách nhìn nhận gã chồng vũ phu của người đàn bà
hàng chài có gì khác so với cách nhìn nhận của Đẩu, Phùng và thằng bé Phác?
- Học sinh so sánh: Đẩu, Phùng và thằng bé Phác mới chỉ thấy được một khía
cạnh ở người đàn ông hàng chài này, đó là sự độc ác, tàn nhẫn, ích kỉ. Thái độ của
họ đối với anh ta là kịch liệt phản đối. Trong khi đó, người đàn bà hàng chài nhìn
nhận người chồng của mình nhiều chiều hơn, sâu sắc hơn. Chị đau đớn nhưng không
oán hận vì chị thấu hiểu nguyên nhân sâu xa của những hành động vũ phu ấy.
- Giáo viên gợi mở: Sự khác biệt trong những điểm nhìn nêu trên, đặc biệt là
cách nhìn nhận của người phụ nữ vùng biển đã giúp anh (chị) hiểu ra điều gì về
người đàn ông này nói riêng và cách nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng trong cuộc
sống nói chung?
- Học sinh nhận định và đánh giá: Người đàn ông này vừa đáng bị lên án bởi
sự độc ác, thói vũ phu, tính ích kỉ. Nhưng ở anh ta cũng có chỗ có thể cảm thông,
bởi anh ta cũng chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt. Như vậy, không
nên chỉ nhìn đời và nhìn người một phía. Phải tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa
dẫn đến những hành vi của con người trước khi kết luận về tính cách hay phán xét
họ. Tóm lại, phải có cái nhìn cuộc sống đa diện, nhiều chiều.
- Giáo viên gợi ý học sinh liên hệ, mở rộng để có thể cảm nhận giá trị nhân
đạo của tác phẩm: Từ hình tượng người đàn ông hàng chài này, có người đã nghĩ
đến một số nhân vật trong các sáng tác của Nam Cao (Chí Phèo, Hộ). Theo anh


nhân vật tham gia, rồi nêu câu hỏi cho tác giả: Đối với nghệ thuật của truyện ngắn,

20
một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là tạo được tình huống truyện. Nhiều
người cho rằng nhà văn đã tạo được một tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa
khám phá, phát hiện về đời sống. Xin nhà văn hãy nói rõ điều này.
+ Một học sinh đảm nhiệm vai trò tác giả trả lời: Tình huống truyện là
một nghệ sĩ nhiếp ảnh đến một vùng ven biển miền Trung để chụp một tấm ảnh về
cảnh biển buổi sớm có sương. Tại đây, anh đã phát hiện và chụp được một cảnh
tượng “trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong làn
sương sớm. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, người nghệ sĩ đã chứng kiến cảnh một
gã chồng vũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man. Những ngày sau đó, cảnh tượng
ấy lại tiếp diễn. Người nghệ sĩ không thể ngờ rằng, đằng sau bức ảnh tuyệt diệu ấy
lại là biết bao nghịch lí, oan trái và phức tạp trong gia đình hàng chài. Như các bạn
đã thấy, qua tình huống này, người nghệ sĩ nhiếp ảnh không chỉ phát hiện ra những
chân lí của nghệ thuật mà anh còn khám phá ra nhiều điều bí ẩn của cuộc sống và
con người. Anh đã hiểu rõ hơn về cuộc sống của người lao động vùng biển, về người
bạn mình – chánh án Đẩu và về chính mình…
+ Học sinh dẫn chương trình: Thưa nhà văn, ông đã chọn hình thức kể
chuyện (điểm nhìn nghệ thuật) nào? Vì sao lại chọn điểm nhìn ấy?
+ Học sinh đóng vai tác giả: Người kể chuyện là nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng
tức là một nhân vật trong câu chuyện. Nhờ hình thức này, câu chuyện trở nên gần
gũi hơn, khách quan, chân thực hơn và cũng có sức thuyết phục hơn.
+ Học sinh đóng vai tác giả hỏi lại: Thế các bạn nghĩ gì về sự lựa chọn
ngôi kể này?
+ Học sinh đóng vai khán giả: Với ngôi kể này, nhà văn có thể nhìn cuộc
đời và con người ở các góc độ, cự li khác nhau, lúc đứng gần, trực tiếp tham gia vào
câu chuyện, lúc đứng xa, đứng ngoài quan sát với tư cách của người dẫn truyện, lúc
đối thoại trực tiếp với nhân vật, lúc độc thoại nội tâm.
- Giáo viên nhận xét phần đóng vai - trả lời của học sinh, biểu dương, cho

Nguyễn Minh Châu trong Chiếc thuyền ngoài xa?
A. “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là
ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ kiếp lầm
than” (Nam Cao)

22
B. “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những người cùng
chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết phải là sự thực ở đời” (Vũ Trọng Phụng)
C. “Nghệ thuật không phải là sự mô tả thực tại có thực mà là sự tìm tòi
chân lí, lí tưởng” (G.Xăng).
D. “Văn học là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời
mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học” (Tố Hữu)
 Đáp án: C
- Nếu là chánh án Đẩu, anh (chị) sẽ ứng xử như thế nào trước những lí do
mà người phụ nữ vùng biển ấy đưa ra? Hãy viết một bài luận ngắn trình bày các giải
pháp của anh (chị) cho vấn đề bạo hành gia đình.
- Anh (chị) thu được những kinh nghiệm sống, tri thức sống nào sau bài
học này? Hãy viết một bài thu hoạch riêng của mình.
III. Chuyển biến:
Nhìn lại năm học qua, dựa theo chuẩn kiến thức kĩ năng và đặc trưng của việc
tiếp nhận văn học theo thể loại, tôi đã xây dựng và đa dạng hoá các hình thức tổ
chức dạy học. Việc phối hợp áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
để tổ chức học sinh hoạt động đọc - hiểu văn bản văn học một cách chủ động, sáng
tạo đã thực sự tạo được sự hứng thú cho học sinh trong giờ học. Đối chiếu kết quả
cuối năm học với đầu năm học, tôi nhận thấy học sinh trong các lớp dạy của tôi có
tiến bộ rõ rệt. Các em yêu thích giờ văn hơn và cụ thể là tỉ lệ học sinh yếu kém giảm
xuống, tỉ lệ học sinh trung bình, khá tăng lên.
IV. Kết quả thực nghiệm:
Xét tương quan về điểm và tỉ lệ của học sinh trong các lớp như sau:


đáo tiết dạy; bám chuẩn kiến thức kĩ năng, tích hợp giáo dục theo yêu cầu bài dạy,
có vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, có đầu tư để tổ chức cho
học sinh hoạt động linh hoạt, sáng tạo; thì tiết học sẽ sinh động hơn và học sinh sẽ tự
giác, hứng thú học tập đưa đến kết quả khả quan hơn. Một khi học sinh đã hứng thú,
hình thành thói quen chủ động, sáng tạo trong giờ học Văn, thì chất lượng bộ môn
Văn nhất định sẽ được nâng lên.
Lớp
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12B2
(36)
Đầu năm
5
13,8
9
25
16
44,4
6
16,6
70,5
8
23,5
1
2,9
12B4
(35)
Đầu năm
1
2,8
12
34,2
16
45,7
6
17,1 Cuối năm
0

2
5,7
27
77,1
6
17,1

Y
TB
K
G
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Đầu năm
5
13,15
17
44,73
12
31,57
4
10,52
Cuối HKI
2
5,26
15
39,47
10
26,31
11
28,92


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status