Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
TÓM LƯỢC
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh
mẽ. Trong xu thế đó, Việt Nam đang từng bước hội nhập với các nền kinh tế trong
khu vực và quốc tế, và hoạt động ngoại thương đang trở thành sống còn đối với sự
phát triển của đất nước cũng như của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nói đến sự
phát triển của ngoại thương Việt Nam không thể không kể đến vai trò của hoạt động
nhập khẩu. Nó không chỉ tác động trực tiếp đến sản xuất trong nước mà còn ảnh
hưởng đến tiêu dùng.
Công tác hạch toán kế toán ngày càng có vai trò quan trọng và trở thành công
cụ quản lý không thể thiếu phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhiều đối tượng khác
nhau. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, công tác kế toán không chỉ là công cụ
quản lý mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin phục vụ cho
cho việc ra quyết định kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Nhận thức
được tầm quan trọng của công tác kế toán nhập khẩu hàng hoá, cùng với việc tìm
hiểu thực tế công tác kế toán tại Công ty cổ phẩn Xuất nhập khẩu Khoáng sản và sự
hướng dẫn của cô giáo Th.S Cao Hồng Loan, em đã lựa chọn đề tài cho khóa luận
tốt nghiệp của mình “Kế toán nhập khẩu hàng hoá tại Công ty Cổ phần Xuất
nhập khẩu Khoáng sản”.
Nội dung của bài khóa luận này là việc đi sâu nghiên cứu lý luận về kế toán
nhập khẩu hàng hóa, sau đó vận dụng giữa lý luận vào thực tiễn hoạt động kế toán
nhập khẩu hàng hóa tại công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng sản về việc vận
dụng chứng từ, tài khoản, phương pháp hạch toán và tổ chức sổ kế toán mà công ty
đang áp dụng. Từ đó, đánh giá thực trạng kế toán nhập khẩu hàng hóa tại công ty
nhằm nêu ra những ưu điểm và những hạn chế còn tồn tại trong việc vận dụng
chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, cũng như tìm ra nguyên nhân của
những tồn tại đó. Dựa vào những hạn chế còn tồn tại, em đã mạnh dạn đề xuất một
số kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại để hoàn thiện hơn công tác kế toán nhập
khẩu hàng hóa tại công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng sản. Với mong muốn có
thể làm cơ sở tham khảo cho công ty trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng
lợi nhuận.
DANH MỤC VIẾT TẮT
3
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BTC Bộ Tài chính
BCTC Báo cáo tài chính
CP Cổ phần
DN Doanh nghiệp
DT Doanh thu
GTGT Giá trị gia tăng
KD Kinh doanh
NK Nhập khẩu
QĐ Quyết định
TGTT Tỷ giá thực tế
TK Tài khoản
TMCP Thương mại cổ phần
TSCĐ Tài sản cố định
TTĐB Tiêu thụ đặc biệt
XNK Xuất nhập khẩu
VNĐ Việt Nam đồng
4
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế
giới diễn ra ngày càng phổ biến và mạnh mẽ, hoạt động thương mại quốc tế trở
nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường đa dạng.
2. Mục tiêu
Mục tiêu chung.
Tìm hiều về quá trình nhập khẩu tại công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng
sản, từ đó đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về công tác kế toán nhập khẩu hàng hóa của
công ty. Qua đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nhập khẩu
hàng hóa của công ty.
Mục tiêu cụ thể.
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và thực tiễn về kế toán nhập khẩu hàng hóa của
công ty.
- Phản ánh tình hình tổ chức kế toán nhập khẩu hàng hóa của công ty. Thông qua đó
chỉ ra những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong công ty.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán nhập khẩu hàng hóa tại công ty, đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của công ty được tốt hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến kế toán nhập
khẩu hàng hóa tại công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng sản.
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Nội dung: nội dung đề tài xoay quanh công tác hạch toán kế toán nhập khẩu hàng
hóa tại công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng sản.
- Không gian: nghiên cứu tại bộ phận kế toán, bộ phận XNK tại công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu Khoáng sản.
- Thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu là trong khoảng thời gian thực tập tại công ty.
+ Số liệu lấy thuộc năm 2014 và 2015.
4. Phương pháp, cách thức thực hiện đề tài.
4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
4.1.1. Thu thập dữ liệu sơ cấp.
Về cơ bản có hai phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp là phương pháp phỏng
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NHẬP
KHẨU HÀNG HÓA TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. Các khái niệm cơ bản và vấn đề lý thuyết về kế toán nhập khẩu hàng
hóa.
1.1.1. Các khái niệm cơ bản.
7
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
- Nhập khẩu: Nhập khẩu nói chung là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà quốc
gia này mua hàng hoá, dịch vụ của quốc gia khác, cụ thể hoạt động nhập khẩu ở
Việt Nam được hiểu là việc mua bán hàng hoá giữa thương nhân Việt Nam với
thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng ngoại thương.
- Ngoại tệ: Là đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ kế toán của một doanh nghiệp.
- Tỷ giá hối đoái: Là tỷ giá trao đổi giữa hai đơn vị tiền tệ.
- Chênh lệch tỷ giá hối đoái: Là chênh lệch phát sinh từ việc trao đổi thực tế hoặc quy
đổi của cùng một số lượng ngoại tệ sang đơn vị tiền tệ kế toán theo các tỷ giá hối
đoái khác nhau.
(Đoạn 06, Chuẩn mực số 10 “Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái”,
Chuẩn mực kế toán Việt Nam)
1.1.2. Một số vấn đề lý thuyết về kế toán Nhập khẩu hàng hóa.
1.1.2.1. Đặc điểm của hoạt động nhập khẩu.
Đối tượng và điều kiện kinh doanh NK hàng hóa.
Đối tượng hàng hoá được phép nhập khẩu là tất cả các mặt hàng không nằm
trong doanh mục hàng hoá cấm nhập khẩu hoặc hàng hoá tạm ngừng nhập khẩu.
Hàng hoá nhập khẩu không chỉ bao gồm các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng hàng ngày mà còn là hàng công nghiệp, trang thiết bị, máy móc,… phục vụ
cho các dự án, các chương trình phát triển sản xuất trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Ngoài những mặt hàng mà doanh nghiệp được tự do nhập khẩu còn có
những mặt hàng nhập khẩu có điều kiện và những mặt hàng cấm nhập khẩu. Đối
với hàng hoá nhập khẩu có điều kiện, doanh nghiệp chỉ được phép nhập khẩu theo
Nhập khẩu trực tiếp là quá trình doanh nghiệp trực tiếp ký kết hợp đồng nội
với khách hàng nội để xác định nhu cầu về hàng hoá cần cung cấp, sau đó doanh
nghiệp tiến hành tham khảo thị trường nước ngoài, tìm ra nguồn hàng phù hợp và
ký kết hợp đồng ngoại để nhập hàng về giao cho khách hàng nội. Trên cơ sở hàng
hoá thực tế nhập về kế toán xác định giá nhập và giá bán để chuyển cho khách hàng
nội.
Phương thức này được áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh được
Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp sẽ trực tiếp tổ chức
đàm phán, ký kết hợp đồng với nhà cung cấp nước ngoài, trực tiếp nhận hàng và
thanh toán tiền hàng. Các doanh nghiệp tiến hành nhập khẩu trực tiếp trên cơ sở tự
cân đối về tài chính, có quyền tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn
phương thức thanh toán và thị trường, xác định phạm vi kinh doanh nhưng trong
khuôn khổ chính sách quản lý xuất nhập khẩu của Nhà nước. Phương thức nhập
khẩu này thường được tiến hành khi doanh nghiệp thực sự am hiểu về thị trường
cũng như mặt hàng nhập khẩu.
9
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
- Hình thức nhập khẩu uỷ thác:
Nhập khẩu uỷ thác là quá trình Công ty thực hiện cung cấp dịch vụ nhập khẩu
cho khách hàng có yêu cầu, trong hình thức nhập khẩu này Công ty tiến hành nhập
một số mặt hàng nhất định với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên
giao uỷ thác. Căn cứ trên hợp đồng uỷ thác nhập khẩu, Công ty đứng ra trực tiếp
thực hiện đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức tiếp nhận hàng nhập khẩu, thanh toán
với nhà cung cấp nước ngoài tiền. Kết thúc hợp đồng uỷ thác, đơn vị nhận được một
khoản hoa hồng gọi là hoa hồng uỷ thác nhập khẩu. Số hoa hồng uỷ thác này được
tính theo thoả thuận trên trị giá lô hàng nhập và được ghi trong hợp đồng uỷ thác,
hoa hồng uỷ thác mà Công ty được hưởng là đối tượng chịu thuế GTGT.
Ngoài hai hình thức NK trên, hiện nay các doanh nghiệp XNK còn sử dụng
hình thức Nhập khẩu hỗn hợp, là sự kết hợp của hai hình thức trên. Doanh nghiệp
nói đến việc người bán dùng cách nào để thu được tiền hàng bán ra và người mua
dùng cách nào để trả tiền hàng mua vào. Tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng doanh
nghiệp mà họ có thể lựa chọn các phương thức thanh toán khác nhau. Các phương
thức thanh toán thường dùng trong hợp đồng mua bán ngoại thương gồm:
♦ Phương thức chuyển tiền (Remitance):
Đây là phương thức mà trong đó khách hàng yêu cầu ngân hàng của mình
chuyển một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất
định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu. Trình tự thanh toán theo
phương thức này như sau:
Ngân hàng chuyển tiền
Ngân hàng đại lý
Người hưởng lợi
Người trả tiền
(1)
(2)
(3a)
(3b)
(4)
Sơ đồ 1.1: Trình tự thanh toán theo phương thức chuyển tiền
11
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
(1) Ký kết hợp đồng thương mại giữa các bên
(2) Người trả tiền viết đơn yêu cầu ngân hàng chuyển tiền tiến hành chuyển
tiền bằng thư hoặc bằng điện trong đó ghi rõ nội dung theo quy định cùng với uỷ
nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại ngân hàng)
(3) Ngân hàng thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng đại lý (3a),
đồng thời gửi giấy báo Nợ, giấy báo đã thanh toán cho người trả tiền (3b).
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi hoặc gửi giấy báo Có
cho người hưởng lợi.
- Nhờ thu phiếu trơn (clean collection): Là phương thức thanh toán mà trong đó
người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do
mình lập ra, còn chứng từ hàng hoá thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân
hàng.
Trình tự thanh toán theo phương thức nhờ thu phiếu trơn như sau:
Ngân hàng phục vụ bên bán
Ngân hàng đại lý
Người bán
Người mua
(1)
(2)
(3)
13
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
(4)
(5)
(6)
(1)
Sơ đồ 1.3: Trình tự thanh toán theo phương thức nhờ thu phiếu trơn
(1) Người bán sau khi gửi hàng và các chứng từ hàng hoá cho người mua, lập
một hối phiếu và uỷ thác cho ngân hàng của mình thu tiền hộ
(2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi thư uỷ nhiệm kèm hối phiếu cho ngân
hàng đại lý của mình ở nước ngoài nhờ thu tiền
(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu
(4) Người mua trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu
(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho ngân hàng phục vụ người bán
(6) Ngân hàng phục vụ người bán thanh toán tiền hàng cho người bán. Trường
hợp người mua chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại
cho người bán, khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và thực
phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với những quy định để nhập khẩu trong thư tín dụng.
Trình tự thanh toán theo hình thức thư tín dụng như sau:
Ngân hàng mở L/C
15
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Gửi hàng
(1)
(4b)(6)
(5)
(4a) (3)
(2)
(1)
Người bán Người mua
Ngân hàng đại lýNgân hàng phục vụ
bên bán
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
Ngân hàng thông báo L/C
Người nhập khẩu
Người xuất khẩu
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
thanh toán được diễn ra ở nước nào, nước người xuất khẩu hay nước người nhập
khẩu, hay ở nước thứ ba.
Thời gian thanh toán.
Trong thương mại quốc tế, thường có 3 cách trả tiền sau:
- Trả tiền trước: Là sau khi ký hợp đồng, hoặc sua khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn
đặt hàng của bên NK, nhưng trước khi giao hàng thì bên NK đã trả tiền cho bên XK
toàn bộ hay một phần số tiền hàng.
- Trả tiền ngay: Là việc người NK thanh toán cho người XK ngay khi người Xk hoàn
thành nghĩa vụ giao hàng
17
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
- Trả tiền sau: Với cách trả tiền này thì sau một thời gian nào đó kể từ khi người XK
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng (như hai bên đã thỏa thuận), người NK sẽ tiến hành
thanh toán.
Điều kiện về tiền tệ thanh toán.
Trong thanh toán quốc tế, các bên phải sử dụng một đơn vị tiề tệ nhất định của
một nước nào đó. Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng phải có quy định điều
kiện về tiền tệ.
Điều kiện về tiền tệ thường được hiểu là sự thỏa thuận của các bên XNK về
việc sử dụng các loại tiền tệ nào để tính toán và thanh toán. Đồng thời quy định về
cách xử lý khi đồng tiền sử dụng có biến động. Hiện nay, việc các DN kinh doanh
XNK ký kết các hợp đồng ngoại thương thường lựa chọn các đồng tiền mạnh làm
đồng tiền thanh toán như: USD, EURO, GBP, CHF, JPY, CAD, …
Giá cả hàng NK.
Giá cả hàng nhập khẩu luôn được quy định trong hợp đồng mua bán ngoai
thương một cách cụ thể. Giá cả cũng sẽ là điều kiện để xác định địa điểm giao hàng
trong hợp đồng, là cơ sở phân chia trách nhiệm vật chất của người bán và người
mua về chi phí và rủi ro.
Theo qui định của Phòng thương mại quốc tế, có tất cả 13 điều kiện giao hàng,
phí vận chuyển hàng hoá đến cảng qui định. Người bán phải có trách nhiệm làm thủ
tục thông quan xuất khẩu, trả các phí tổn và cước vận chuyển cần thiết để đưa hàng
hoá tới cảng qui định. Nhưng mọi rủi ro, mất mát, hư hại về hàng hoá và các chi phí
phát sinh do các tình huống xảy ra sau khi giao hàng hoá được chuyển từ người bán
sang người mua.
- Giao tại biên giới (DAF): Người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu và chịu
mọi rủi ro cũng như chi phí cho đến lúc giao hàng. Thời điểm giao hàng là thời
điểm hàng hoá được đặt dưới quyền định đoạt của người mua trên phương tiện
chuyên chở đến, hàng hoá chưa được làm thủ tục thông quan nhập khẩu thông quan
nhập khẩu ở địa điểm qui định tại biên giới. Điều kiện này thường được sử dụng
cho mọi phương thức vận tải hàng hoá khi hàng hoá được giao tại biên giới trên đất
liền.
- Giao tại tàu (DES): Người bán phải làm thủ tục thông quan xuất khẩu và chịu mọi
chi phí, rủi ro cho đến khi giao hàng. Thời điểm giao hàng là thời điểm hàng hoá đặt
dưới quyền định đoạt của người mua trên boong tàu, hàng hoá chưa được làm thủ
tục thông quan nhập khẩu cảng đến qui định. Điều kiện này thường được sử dụng
cho phương thức vận tải hàng hóa bằng đường biển hoặc đường thuỷ nội địa.
- Giao tại cầu cảng (DEQ): Người bán giao hàng hoá khi hàng hóa đặt dưới quyền
định đoạt của người mua trên cầu tàu ở cảng đến qui định, hàng hoá chưa được làm
thủ tục thông quan nhập khẩu. Người bán phải chịu mọi phí tốn và rủi ro liên quan
19
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
đến việc đưa hàng hóa đến cảng qui định và bốc dỡ hàng lên cầu tàu. Người mua
phải làm mọi thủ tục thông quan nhập khẩu và chịu mọi chi phí liên quan đến việc
nhập khẩu hàng hoá. Điều kiện này chỉ có thể sử dụng khi vận chuyển hàng hoá
bắng đường biển hoặc vận tải đa phương thức khi dỡ khỏi tàu lên cầu tàu ở cảng
đến qui định.
Ngoài các điều kiện cơ sở giao hàng trên, Người ta còn sử dụng các điều kiện:
Giao tại đích chưa nộp thuế (DDU), giao tại đích đã nộp thuế (DDP), cước phí trả
công cụ quan trọng để quản lý kinh tế quốc dân nói chung và quản lý doanh nghiệp
nói riêng. Trong điều kiện đổi mới có chế quản lý kinh tế, mở rộng quan hệ đối
ngoại hiện nay ở nước ta, kế toán trong lĩnh vực ngoại thương càng trở nên cần thiết
và có vai trò quan trọng trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt
động kinh tế tài chính, giúp các nhà doanh nghiệp quyết định được những phương
án tối ưu trong kinh doanh và quản lý doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu thông qua công tác kế
toán nhập khẩu giúp cho doanh nghiệp xác định được thị trường, mặt hàng hay lĩnh
vực kinh doanh nào có hiệu quả. Điều đó đảm bảo cho doanh nghiệp cạnh tranh trên
thị trường đầy biến động mà còn cho phép doanh nghiệp đạt được mục tiêu mà
mình đặt ra như lợi nhuận, thị trường và uy tín kinh doanh…
1.1.3.2. Nhiệm vụ của kế toán nhập khẩu.
Xuất phát từ nhiệm vụ chung của công tác kế toán trong các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu và những đặc điểm riêng trong kinh doanh nhập khẩu,
kế toán trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau
đây:
- Phản ánh và kiểm tra tình hình ký kết, thực hiện các hợp đồng nhập khẩu, kiểm tra
vịêc bảo đảm an toàn hàng hoá nhập khẩu cả về số lượng và giá trị. Đây là nhiệm vụ
cơ bản quan trọng vì từ thông tin kế toán người lãnh đạo sẽ kiểm tra đánh giá được
quá trình thực hiện nhập khẩu hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu từ đó có
biện pháp hoàn thiện công tác kinh doanh hàng nhập khẩu đạt kết quả cao.
- Tổ chức kế toán tổng hợp và chi tiết nghiệp vụ hàng hoá, nghiệp vụ thanh toán
ngoại thương một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó tính toán một cách chính xác, trung thực các khoản thu nhập trong
kinh doanh.
- Kiểm tra, giám sát tình hình thanh toán giữa các bên; phản ánh chính xác kịp thời
tình hình tiêu thụ từng mặt hàng, nhóm hàng cả về số lượng và chất lượng; đôn đốc
thu tiền bán hàng và thu hồi công nợ kịp thời tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn,
bảo đảm cho kinh doanh liên tục đạt hiệu quả cao.
21
mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ (-) giá trị của hàng
nhập khẩu
Giá thực Giá Các khoản Giảm giá Chi phí trực
22
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Cao Hồng Loan
tế (giá
gốc) hàng
nhập
khẩu
=
mua
hàng
nhập
khẩu
+
thuế
không
được hoàn
lại của
hàng nhập
khẩu
-
chiết khấu
thương mại
của hàng
nhập khẩu
+
tiếp phát sinh
liên quan đến
đơn vị tiền tệ kế toán bằng việc áp dụng tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ kế toán
và ngoại tệ tại ngày giao dịch.
Trong giai đoạn sản xuất, kinh doanh, kể cả việc đầu tư xây dựng để hình
thành tài sản cố định của doanh nghiệp đang hoạt động, chênh lệch tỷ giá hối đoái
phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ và đánh giá lại các
khoản mục tiền tệ cuối năm tài chính sẽ được ghi nhận là thu nhập, hoặc chi phí
trong năm tài chính.
1.2.2. Kế toán nghiệp vụ NK hàng hóa theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC về
Chế độ kế toán Doanh nghiệp.
1.2.2.1 Chứng từ sử dụng.
Để tiến hành hạch toán ban đầu, khi nhập khẩu, doanh nghiệp cần có đủ bộ
chứng từ thanh toán sau:
- Hợp đồng ngoại thương, hợp đồng ủy thác NK (đối với hình thức NK ủy thác).
- Hoá đơn thương mại.
- Vận đơn (bill of lading) hoặc (bill of air).
- Một bộ vận tải đơn đường biển hoàn toàn đã xếp lên tàu (a full set clean shipped on
board ocean bill of lading).
- Giấy chứng nhận phẩm chất.
- Chứng từ bảo hiểm.
- Bảng kê đóng gói bao bì.
- Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá.
Ngoài ra theo hợp đồng xuất- nhập khẩu và theo quy định trong thư tín dụng,
bộ chứng từ thanh toán còn có:
- Giấy chứng nhận kiểm định đối với hàng nông sản, thực phẩm.
- Hối phiếu.
Hoặc các tài liệu khác kèm theo như biên bản quyết toán với tàu, biên bản hư
hỏng, tổn thất.
Ngoài bộ chứng từ thanh toán, còn có các chứng từ sau:
- Biên lai thu thuế.
- Tờ khai hải quan.
+ Trị giá hàng hóa đã bán bị người mua trả lại;
+ Trị giá hàng hóa phát hiện thừa khi kiểm kê;
+ Kết chuyển giá trị hàng hóa tồn kho cuối kỳ (Phương pháp kiểm kê định
kỳ);
+ Trị giá hàng hoá bất động sản mua vào hoặc chuyển từ bất động sản đầu tư.
- Bên Có:
25
SVTH: Nguyễn Thị Dung Lớp: K47D6