NGHIÊN CỨU VÀ LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP HỢP LÝ
XỬ LÝ ĐẤT YẾU DƯỚI NỀN ĐẮP TRONG ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chủ nhiệm đề tài: ThS. BÙI HỒNG TRUNG
Cơ quan chủ trì: Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Vấn đề xây dựng nền đắp trên đất yếu là một đề tài được nhiều nước
trên thế giới quan tâm và tiến hành nghiên cứu có hệ thống, bởi đây là một
hiện tượng rất thường gặp trong quá trình xây dựng, nếu không có các biện
pháp xử lý thích hợp thường dễ bị mất ổn định toàn khối dẫn đến lún sụt,
sụp đổ công trình.
Ở nước ta, vấn đề xử lý đất yếu dưới nền đắp vẫn còn là một công
việc mới mẽ. Cho đến nay vẫn chưa có một đánh giá mang tính toàn diện về
tình hình xây dựng và khai thác nền đường đắp trên đất yếu, chưa có các đối
chiếu giữa lý thuyết và thực tế thi công như độ lún, độ ổn định trượt, trồi, …
hay nghiên cứu về sự thay đổi các chỉ tiêu cơ lý của lớp đất yếu sau khi được
xử lý,…
Đối với thành phố Đà Nẵng, trước đây thường xây dựng công trình
trên các vùng địa chất tốt để giảm bớt những vấn đề kỹ thuật phải xử lý và
hạ giá thành xây dựng. Hiện nay, theo Quy hoạch tổng thể thành phố Đà
Nẵng, không gian đô thị của thành phố sẽ được phát triển theo hướng Tây -
Tây Bắc dọc theo sông Cu Đê đến Trường Định và hướng Tây - Tây Nam
theo quốc lộ 1A và 14B về phía các xã Hòa Thọ, Hòa Phát… Nhìn chung,
đây là những khu vực có địa chất khá phức tạp, nhiều khu vực có địa tầng là
lớp đất mềm yếu, cường độ chịu tải không cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ổn
định công trình hạ tầng xây dựng bên trên.
Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của công trình khi đưa vào khai
thác, sử dụng, một vấn đề luôn được quan tâm, đặt lên hàng đầu chính là sự
ổn định của nền móng công trình.
Cho đến nay, việc xử lý đất yếu cho các công trình xây dựng san nền,
kênh, đê đập, đường giao thông có dạng nền đắp thường áp dụng theo Quy
vấn thiết kế có cơ sở ban đầu trong việc:
- Sơ bộ dự lường khả năng ổn định của công trình dạng nền đắp khi
lập dự án đầu tư xây dựng, định hướng mật độ và chiều sâu lỗ khoan địa
chất công trình khi lập đề cương khảo sát địa chất ở giai đoạn báo cáo
nghiên cứu khả thi.
- Dự kiến khả năng và quy mô của giải pháp xử lý, tính toán sơ bộ kết
cấu cũng như kinh phí khái toán cho phần nền móng công trình ở bước lập
báo cáo quy mô đầu tư.
c) Nghiên cứu và đề xuất giải pháp công nghệ xử lý đất yếu dưới nền đắp
khu vực thành phố Đà Nẵng.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp thống kê: Thực hiện thống kê, tổng hợp tài liệu khảo
sát địa chất công trình, phương pháp xử lý đất yếu của những công trình
dạng nền đắp đã xây dựng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức triển khai khoan kiểm tra đối
chứng đánh giá các chỉ tiêu cơ lý của đất yếu sau khi xử lý bằng các phương
án khác nhau.
- Phương pháp tổng hợp: Căn cứ vào kết quả của phương pháp thống
kê, phương pháp phân tích, tổng hợp các số liệu, kết hợp với kiến thức khoa
học, quy trình, quy phạm để đánh giá tổng kết về địa chất yếu thành phố
cũng như các giải pháp xử lý đất yếu dưới nền đắp hiện nay.
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
1. Đánh giá chung về tài liệu địa chất thu thập:
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu, thu
thập được khoảng hơn 300 tập hồ sơ tài liệu địa chất của các công trình,
hạng mục công trình xây dựng do 25 đơn vị làm chủ đầu tư, điều hành khác
nhau. Sai khi rà soát, sàng lọc, số tài liệu địa chất khu vực có địa chất yếu
thu thập được tổng cộng là 91 loại hồ sơ khác nhau của 51 hạng mục công
trình có dạng nền đắp (nền đường, san nền, bờ kênh mương) đã hoặc đang
triển khai xây dựng. Trong đó:
+ Đào bỏ một phần hay toàn bộ đất yếu, thay thế bằng lớp đệm cát;
+ Sử dụng đường thấm thẳng đứng bằng bấc thấm hoặc giếng cát, và
cọc cát;
+ Đắp bệ phản áp hoặc giảm độ dốc mái taluy;
+ Gia tải tạm thời nền đường;
+ Tăng cường bằng vật liệu địa kỹ thuật (trải vải địa kỹ thuật);
Một số công trình đã thu thập được hồ sơ địa chất là đất yếu nhưng
không phải là công trình nền đắp, được xử lý chủ yếu bằng giải pháp đóng
cọc tre gia cố hoặc xử lý bằng móng cọc BTCT nên không được xét đến
trong chuyên đề này.
Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng đã thu thập được một số tài liệu xử lý
đất yếu của các công trình đang hoặc đã triển khai thi công cần có điều chỉnh
để phù hợp hơn. Các công trình đó là:
+ Biên bản xử lý công trình đường ven sông Tuyên Sơn - Túy Loan,
đường nối KCN đóng tàu - KCN dịch vụ thủy sản.
+ Công văn đề xuất giải pháp xử lý đất yếu của Sở GTCC đối với một
số công trình trên địa bàn thành phố Đà Nẵng như: phạm vi chống lấn với
đất san nền đường nối cầu Tuyên Sơn - đường Nguyễn Tri Phương nối dài,
đường đầu cầu Quá Giáng Quốc lộ 1A, đường số 5 KCN Hòa Khánh.
+ Báo cáo của Chủ đầu tư về một số hiện tượng lún nền đường của
công trình đường ĐT605, đường số 5 KCN Hòa Khánh, hiện tượng trượt trồi
đoạn Km1+700-Km2 đường tránh nối Nam hầm Hải Vân - Túy Loan.
Công tác thu thập số liệu đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập
sơ đồ phân vùng đất yếu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng như đề xuất
giải pháp xử lý các khu vực đất yếu hợp lý phù hợp với địa bàn thành phố
Đà Nẵng. Tuy nhiên do các công trình chủ yếu được khai theo các hướng
phát triển hạ tầng của thành phố, nên có những khu vực có lượng số liệu thu
thập nhiều nhưng cũng có khu vực ít hoặc chưa có nguồn số liệu nào như
khu vực phía Nam và Đông Nam thành phố Đà Nẵng. Đồng thời, do nhiều
công trình đã có sự điều chỉnh giải pháp xử lý cho phù hợp với điều kiện
a) Sét pha cát ở trạng thái dẻo mềm đến dẻo chảy:
- Số lượng hồ sơ khảo sát địa chất thu thập được: Bắt gặp ở hầu hết
các lỗ khoan của công trình có đất yếu. Tổng cộng có 27 công trình có địa
chất là loại đất này.
- Số lượng mẫu đất thu thập được số liệu: 190 mẫu.
b) Bùn, bùn sét pha:
- Số lượng hồ sơ khảo sát địa chất thu thập được: Tổng cộng có 23
công trình có địa chất là loại đất này.
- Số lượng mẫu đất thu thập được số liệu: 103 mẫu.
c) Cát pha sét ở trạng thái chảy:
- Số lượng hồ sơ khảo sát địa chất thu thập được: Tổng cộng có 14
công trình có địa chất là loại đất này.
- Số lượng mẫu đất thu thập được số liệu: 78 mẫu.
d) Cát hạt mịn, bụi ở trạng thái bão hòa, lẫn hữu cơ:
- Số lượng hồ sơ khảo sát địa chất thu thập được: Tổng cộng có 23
công trình có địa chất là loại đất này.
- Số lượng mẫu đất thu thập được số liệu: 104 mẫu.
e) Sét ở trạng thái dẻo mềm:
- Số lượng hồ sơ khảo sát địa chất thu thập được: Tổng cộng có 07
công trình có địa chất là loại đất này.
- Số lượng mẫu đất thu thập được số liệu: 25 mẫu.
* Phân bố của các lớp đất yếu:
Qua hồ sơ địa chất các công trình đã và đang triển khai trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng thu thập được đồng thời tham khảo các tài liệu địa chất
khu vực nhận thấy địa hình khu vực nghiên cứu có các dạng sau: địa hình
bóc mòn tổng hợp, địa hình tích tụ do hỗn hợp sông - biển, địa hình tích tụ
do hỗn hợp biển đầm lầy, địa hình tích tụ do biển, địa hình tái tích tụ do gió.
Với sự đa dạng của các dạng địa hình như vậy thì cấu trúc địa chất khu vực
cũng khá đa dạng về nguồn gốc cũng như loại đất đá cấu tạo nên bề mặt địa
hình. Đặc biệt với sự xuất hiện của các lớp đất yếu có thành phần khác nhau
các sông Yên, sông túy Loan, Vĩnh Điện (sông Cái), sông Cu Đê, sông Phú
Lộc, phạm vi các hồ Bàu Tràm, Đầm Rong, Bàu Sấu. Diện phân bố của loại
này thường không rộng, kéo dài theo hướng dòng chảy. Địa chất khu vực
này thường có mặt các lớp bùn sét pha lẫn hữu có, sét pha, cát pha ở trạng
thái dẻo chảy của địa tầng mbQ
II
và amQ
I
3
. Chiều dày địa chất đất yếu loại
này thường từ 4m đến trên 10m nhưng không quá 20m.
- Loại phân bố dưới sâu: Loại này thường nhiều loại địa chất xen kẽ
lẫn nhau rất phức tạp, phân bố ven thung lũng của các sông cách bờ sông
hiện trạng từ 2-5km, sát nên gồm nhiều trầm tích có nguồn gốc hỗn hợp,
không phản ánh rõ quy luật phân bố. Tại những khu vực này, đất yếu thường
gặp là bùn sét pha, sét pha, sét ở trạng thái dẻo mềm, dẻo chảy kẹp với các
lớp đất dính, chiều dày trung bình từ 3m - 5m.
* Tổng hợp các chỉ tiêu cơ lý đất yếu trong khu vực:
Đất yếu phân bố ở khu vực thành phố Đà Nẵng có thể được chia thành
ba nhóm chính sau:
- Đất set, sét pha, cát pha dẻo mềm đến chảy.
- Đất bùn sét, bùn sét pha, bùn cát pha trạng thái dẻo mềm đến chảy.
- Đất cát mịn, cát bụi trạng thái dẻo đến chảy.
Nói chung, đất mềm dính (sét, sét pha cát, cát pha sét) thường đặc
trưng bằng hệ số rỗng, độ sệt, hệ số nén lún, hệ số thấm tương đối thấp.
Ngược lại, khối lượng tự nhiên, khối thể tích lượng thể tích khô, góc ma sát
trong, lực dính kết, sức chịu tải, mô đun biến dạng… tương đối cao. Nếu
như thành tạo trầm tích loại sét, sét pha, thuộc nhóm đất mềm dính có các
đặc trưng cơ lý biến đổi có quy luật nói trên thì bùn sét, bùn sét pha cát, bùn
cát pha, than bùn của nhóm đất có thành phần, trạng thái, tính chất đặc biệt ở
Ranh giới giữa các khu vực chỉ mang tính chất tương đối.
Trên cơ sở bản đồ sơ họa phân khu địa chất công trình, các nhà quy
hoạch thiết kế nắm được tổng quát điều kiện địa chất chung của khu vực,
qua đó chọn giải pháp thích hợp cho việc khảo sát, thiết kế và xây dựng các
công trình cụ thể trong khu vực. Tuy nhiên khi dự kiến xây dựng các công
trình mới cần tiến hành công tác khảo sát đầy đủ đến độ sâu cần thiết cho
từng loại công trình.
3. Các giải pháp xử lý đất yếu dưới nền đắp khu vực thành phố Đà
Nẵng:
+ Đề tài đã đưa ra: Các yêu cầu khi thiết kế nền đắp trên đất yếu; Các
trình tự để tiến hành lựa chọn một giải pháp xử lý; Một số giải pháp xử lý
đất yếu dưới nền đắp thường nghiên cứu áp dụng trên thế giới và ở Việt
Nam.
+ Đề tài cũng đã đưa ra một số vấn đề liên quan đến thiết kế xử lý đất
yếu dưới nền đắp ở khu vực thành phố Đà Nẵng.
+ Một số nhận xét đánh giá về các giải pháp xử lý đất yếu áp dụng
trên địa bàn Đà Nẵng: Những khu vực đất yếu trong phạm vi thành phố Đà
Nẵng nhìn chung tập trung ở các bãi sông, biển và có nguồn gốc trầm tích
sông, sông biển và trầm tích biển, đầm lầy. Đối với những khu vực này, đã
có nhiều giải pháp xử lý tăng cường ổn định nền đường và tăng thời gian lún
của nền đắp trên đất yếu khác nhau của nhiều đơn vị Tư vấn thiết kế. Các
giải pháp sau đây thường được sử dụng: Gia tải tạm thời, đắp bệ phản áp,
cắm bấc thấm, cọc cát, giếng cát đào bỏ một phần hay toàn bộ đất yếu thay
bằng lớp đệm cát, sử dụng vải địa kỹ thuật, kết hợp đồng thời hai hay nhiều
giải pháp đã nêu. Thông qua các tài liệu xử lý đất yếu các công trình nền đắp
được triển khai trên địa bàn thành phố, đề tài đã rút ra được một số nhận xét,
đánh giá cho các phương án như: phương án thay đất; phương án xây dựng
bệ phản áp; phương án sử dụng vải địa kỹ thuật; phương án gia tải tạm thời;
phương pháp sử dụng đường thấm thẳng đứng.
+ Trên cơ sở các đánh giá nhận xét về các phương án xử lý đất yếu
dùng bệ phản áp để hạn chế lún sụt - trượt trồi là biện pháp đơn giản và hiệu
quả nhất.
+ Có thể đảm bảo ổn định lún trồi và trượt sâu trong quá trình đắp mà
không cần khống chế tốc độ đắp;
+ Rút ngắn thời gian xử lý nền đường đắp, đẩy nhanh được tiến độ thi
công công trình;
+ Trong điều kiện công trình là nền đường trong đô thị, việc đắp bệ
phản áp sẽ góp phần giảm tổng giá thành đầu tư xây dựng hạ tầng của khu
vực do khối lượng phần đất đắp của bệ phản áp sẽ làm giảm khối lượng đắp
san nền;
+ Có khả năng làm giảm biên độ lún của nền đắp;
- Giải pháp tăng nhanh tốc độ cố kết bằng hình thức gia tải trước:
+ Phù hợp với địa chất nền tự nhiên không quá yếu, chiều cao đất đắp
không quá cao (≤4m);
+ Với chiều cao tới hạn của nền đất đắp lớn (có thể được xử lý tăng
chiều cao tới hạn bằng bệ phản áp), đặt một khối gia tải bằng đất đắp trong
một thời gian để tăng nhanh tốc độ lún (tốc độ cố kết) nhằm rút ngắn thời
gian chờ lún;
+ Khối lượng đất gia tải có thể sử dụng cho công trình đắp tại những
khu vực có địa chất không yếu hoặc dùng để đắp san nền cho các khu vực hạ
tầng kỹ thuật lân cận.
b. Kết quả nghiên cứu lý thuyết: Qua việc chạy trên chương trình
máy tính, xây dựng nên các biểu đồ phục vụ cho việc lựa chọn ban đầu giải
pháp xử lý đề xuất, cụ thể như sau:
- Xác định chiều cao giới hạn nền đắp trên đất yếu trong trường hợp
không xử lý thông qua bảng tra:
+ Việc xác định chiều cao giới hạn nền đắp trên đất yếu trong trường
hợp không xử lý là công tác bắt buộc và cần làm trước tiên đối với bất kỳ
giải pháp xử lý nền đất yếu nào. Với các số liệu địa chất cho từng khu vực
tương ứng, thay đổi chiều dày lớp đất yếu D(m) và chiều cao nền đắp H(m),
lượng đắp bù cho nền đắp trong giai đoạn lập dự án.
- Lựa chọn giải pháp xử lý đất yếu dưới nền đắp cho từng khu vực
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:
+ Trên cơ sở các phân tích ưu nhược điểm, hiệu quả kinh tế đầu tư
xây dựng công trình, kiến nghị giải pháp xử lý đất yếu dưới nền đắp bằng
phương án đắp bệ phản áp kết hợp với đắp gia tải nền đường áp dụng phù
hợp cho hầu hết các loại địa chất đất yếu trên địa bàn thành phố khi chiều
cao nền đắp không quá 4,0m, chiều dày lớp đất yếu không lớn hơn 8,0m. Sử
dụng bệ phản áp cũng góp phần làm giảm biên độ lún của nền đắp từ 5-10%.
+ Với chiều dày lớp đất yếu lớn hơn 8,0m cần nghiên cứu so sánh
giữa phương án sử dụng đường thấm thẳng đứng (là bấc thấm nếu địa chất
dạng bùn sét, là cọc cát hoặc giếng cát nếu địa chất dạng sét pha, cát pha, cát
mịn trạng thái chảy) với giải pháp trên.
- Giải pháp xử lý nền đắp yếu bằng đường thấm thẳng đứng, kết hợp
với đắp gia tải đến 2m và bệ phản áp: Nên sử dụng tại những vị trí đường
đầu cầu đắp cao trên 4m qua bãi bồi lưu vực các sông Cẩm Lệ, sông Cái,
sông Cu Đê, có địa chất đất yếu loại bùn sét, bùn sét pha, bùn cát pha hoặc
sét pha ở trạng thái chảy chiều dài lớp đất yếu từ 8,0m trở lên.
Trong trường hợp tầng mặt tự nhiên có 01 lớp cát hạt mịn đến thô với
chiều dày >1,0m; sử dụng đường thấm thẳng đứng dạng giếng cát hoặc cọc
cát, mà không sử dụng bấc thấm.
- Giải pháp xử lý đất yếu bằng phương án thay đất: Nên sử dụng cho
khu vực nền đắp cao dưới 4,0m qua đất yếu có nguồn gốc sườn tích, ruộng
trũng khu vực Tây, Tây Nam thành phố, địa chất đất yếu loại đất sét pha
trạng thái dẻo mềm, đất sét bão hòa nước, đồng thời chiều dày lớp đất yếu
nhỏ hơn 4,0m.
* Trong trường hợp này, phải lưu ý một số vấn đề sau:
+ Việc bù lún nền đắp phải được tính toán và quan trắc thực tế để đảm
bảo cao độ quy hoạch.
+ Nếu khu vực không thường xuyên bị ngập nước, không nhất thiết
hành cắm bấc thấm theo thiết kế được duyệt.
Nội dung triển khai như sau:
+ Tính toán ổn định, xác định thời gian chờ lún và chiều dày bù lún
theo lý thuyết; sau đó đắp đất gia tải nền đường đồng bộ H=2,5m.
+ Triển khai thi công trên thực tế, lắp đặt các mốc quan trắc theo dõi
lún và chuyển vị ngang.
+ Theo dõi chặt chẽ tốc độ và độ lún thực tế, đối chiếu với lý thuyết
tính toán để quyết định thời gian dỡ tải để thi công các bước tiếp theo.
Kết quả thực hiện: Nền đường vẫn đảm bảo độ ổn định.
- Đường Bạch Đằng nối dài (Giai đoạn 2):
Công trình được bắt đầu triển khai thi công đắp nền đường qua khu
vực đất yếu Km1+040-Km2+00 vào tháng 12/2007. Phương án xử lý đất
yếu đề xuất là đắp gia tải với chiều cao H=1,0-1,5m để tăng nhanh tốc độ cố
kết, kết hợp với bệ phản áp ổn định nền đường (H=1,5m, L=6,0-8,0m). Thời
gian gia tải dự kiến là 2-6 tháng tùy thuộc vào độ lún thực tế đối chiếu với
độ lún tính toán.
Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan, cho đến thời điểm
báo cáo đề tài mới thi công đắp xong phần 1 và phần 2 giai đoạn 1 để tiến
hành quan trắc chuyển vị. Kết quả thu thập ban đầu cho thấy:
- Nền đường đảm bảo ổn định, không có các hiện tượng trượt trồi,
trượt mái taluy nền đắp.
- So sánh kết quả quan trắc lún thực tế, đối chiếu với các số liệu khoan
đối chứng và độ lún tính toán nhận thấy:
+ Đối với lún tức thời: Qua số liệu khoan kiểm tra nền đường sau khi
đắp cát đến cao độ thiết kế (+1,0m), cho thấy sai số giữa số liệu dự kiến
(0,05-0,10m) và thực tế (trung bình 0,40m) là khá lớn.
+ Đối với lún cố kết: Sai số giữa độ lún thực tế và độ lún tính toán là
không lớn, kết quả quan trắc lún thực tế phản ảnh đúng như dự lún đã tính
toán.
Mặc dù giữa kết quả tính toán lý thuyết và thực tiễn vẫn còn một sai
đất chênh lệch tương đối lớn. Do vậy, các tính toán dựa trên số liệu 01 lỗ
khoan cho 1 đoạn tuyến chỉ là tương đối.
- Về kết quả thực hiện xử lý đất yếu:
+ Các tính toán về xác định độ ổn định nền đường đắp trên đất được
thực hiện theo phương Bishop với mặt trượt tròn khoét xuống vùng đất yếu
cơ bản dựa theo quy trình 22TCVN262-2000. Nền đường của 02 công trình
thực tế quan trắc đều đảm bảo ổn định, không bị phá hoại do trượt trồi trong
quá trình thi công. Các cọc quan trắc ngang có chuyển vị theo phương ngang
về độ dịch chuyển sau khi thi công nền đường gia tải đều <2cm, chuyển vị
đầu cọc theo phương đứng hầu như không có (<3mm). Tuy nhiên, chưa xác
định được hệ số ổn định sau khi xử lý có phù hợp với tính toán hay không.
+ Kết quả xác định độ lún tức thời chênh lệch nhiều so với dự kiến
trong tính toán. Điều đó chứng tỏ việc xác định độ lún tức thời thông qua
một hệ số chỉ phụ thuộc vào giải pháp xử lý là chưa phù hợp mà phải dựa
vào loại đất yếu nền đắp lên.
+ Các kết quả tính toán chuyển vị thẳng đứng (lún) do cố kết của nền
đắp đường cả 02 công trình đều lớn hơn nhiều so với kết quả quan trắc thực
tế. Điều này có thể lý giải do số liệu địa chất tại thời điểm khảo sát, thí
nghiệm ít nhiều có sự khác biệt thiên về bất lợi hơn so với thời điểm thi công
(thi công vào mùa khô, thời tiết thuận lợi). Tuy nhiên, trong công thức tính
lún của quy trình 22TCVN262-2000 cũng cần có sự điều chỉnh, bổ sung các
thông số liên quan đến ảnh hưởng của lún trồi, đắp trên diện rộng (đắp có bệ
phản áp, đắp san nền).
+ Phương án xử lý tuyến đường bằng đắp giai tải kết hợp với bệ phản
áp đã tiết kiệm được một khoảng kinh phí đáng kể đầu tư xây dựng công
trình so với các phương án xử lý bấc thấm kết hợp với vải địa kỹ thuật vẫn
thường được sử dụng.
- Đề xuất chỉ dẫn kỹ thuật thiết kế, thi công và nghiệm thu đắp ổn
định nền đường trên đất yếu bằng đắp bệ phản áp:
Hiện nay trong các Quy trình kỹ thuật Việt Nam hiện hành chưa đề
giải pháp cơ bản về xử lý nền đắp và quy hoạch độ cao xây dựng ứng với
từng khu vực cho phù hợp ở giai đoạn nghiên cứu sau này trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
Ngoài ra, thông qua việc thu thập, phân tích các số liệu về địa chất, đề
tài cũng đã phát hiện ra một số tồn tại trong công tác khảo sát địa chất công
trình cũng như công tác quản lý nhà nước chuyên ngành và kiến nghị một số
giải pháp khắc phục.
b) Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm, hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của
các giải pháp xử lý đã được áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:
Dựa trên các tài liệu thu thập và tình hình thực tế triển khai các giải
pháp xử lý đất yếu dưới nền đắp đã và đang áp dụng trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng, đối chiếu với các khái niệm, quy định về loại đất yếu, đề tài đã
phân tích, đánh giá ưu nhược điểm, hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của 05 giải
pháp xử lý đã được áp dụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Có thể nhận thấy giải pháp xử lý đất yếu dưới nền đắp hiện nay trên
địa bàn thành phố khá đa dạng, nội dung tính toán xử lý cũng như triển khai
thi công thực tế ở mỗi công trình có khác nhau do tài liệu, quy trình hướng
dẫn thiết kế chưa rõ ràng, còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục nghiên cứu,
thảo luận. Tuy nhiên, do công trình nền đắp có chiều cao không lớn (thông
thường nhỏ hơn 4,0m) nên cho đến nay hầu như chưa có sự cố nghiêm trọng
nào xảy ra, trừ ảnh hưởng do biến dạng lún. Các công trình đã xử lý hầu như
đều tiếp tục quá trình lún cố kết với tốc độ khác nhau. Việc so sánh đánh giá
các giải pháp xử lý đất yếu chủ yếu là về hiệu quả kinh tế.
Thông qua kết quả nghiên cứu đánh giá các giải pháp xử lý đất yếu
dưới nền đắp triển khai trên địa bàn thành phố, có thể giúp cho các cơ quan
quản lý Nhà nước, các tổ chức tư vấn thiết kế có cơ sở ban đầu trong việc:
- Sơ bộ dự lường khả năng ổn định của công trình dạng nền đắp khi
dự án đầu tư xây dựng, định hướng mật độ và chiều sâu lỗ khoan địa chất
công trình khi lập đề cương khảo sát địa chất ở giai đoạn báo cáo nghiên cứu
khả thi.
quan Quản lý Nhà nước lĩnh vực chuyên ngành có liên quan như Sở Xây
dựng, Sở Giao thông vận tải, Sở Kế hoạch Đầu tư trong việc đánh giá đầu tư
dự án hạ tầng kỹ thuật cũng như các Chủ đầu tư, các đơn vị Tư vấn thuận lợi
hơn.
2. Kiến nghị:
a. Đối với công tác khảo sát địa chất công trình:
- Kiến nghị các Chủ đầu tư cần có sự quan tâm đến công tác đánh giá
các số liệu khảo sát địa chất, đặc biệt là các vị trí, khu vực đất yếu đảm bảo
tính chính xác.
- Các cơ quan quản lý Nhà nước (Sở Tài nguyên - Môi trường là cơ
quan chủ trì) cũng cần có những quy định, hướng dẫn kịp thời thống nhất về
biểu mẫu, các yêu cầu đối với số liệu địa kỹ thuật mà công tác khảo sát địa
chất đất yếu cần cung cấp, để định hướng cho công tác khảo sát và thiết kế
xử lý đất yếu được phù hợp với quy định hiện hành.
b. Đối với công tác thiết kế xử lý đất yếu:
- Một số tồn tại vướng mắc về lý thuyết tính toán ổn định và tính toán
lún trong Quy trình 22TCN 262-2000, quy trình khảo sát thiết kế nền đường
ô tô đắp trên đất yếu như quy định về loại đất nền cấn tính lún, chiều sâu và
chiều cao đất đắp tính lún, cách xác định độ lún tức thời, công thức tính lún,
tính toán lún cố kết,… cần được tiếp tục nghiên cứu, đề xuất ở một đề tài
nghiên cứu sâu hơn;
- Các đơn vị Tư vấn cần quan tâm nghiên cứu kỹ quy trình, đối chiếu
với thực tế triển khai để từ đó đúc rút được những kinh nghiệm xử lý phù
hợp cho từng trường hợp, cung cấp những thông tin cần thiết về các vướng
mắc tồn tại xảy ra trong quá trình xử lý đất yếu do mình thực hiện, trao đổi
với nhau những kinh nghiệm thực hiện, cũng như có những kiến nghị đề
xuất điều chỉnh Quy trình, quy phạm kịp thời, đảm bảo việc thiết kế và xây
dựng công trình trên đất yếu được ổn định, vững chắc.
3. Đối với việc triển khai áp dụng kết quả đề tài:
- Có thể sử dụng kết quả của đề tài trong việc đánh giá địa chất đất