Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của công tác đăng ký kinh doanh tại Điện Biên - Pdf 27

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam
(11/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó trọng tâm là đổi mới
kinh tế nhằm tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với chủ
trương đó, nền kinh tế đất nước ta đã có bước chuyển mình từ cơ chế quản lý
tập chung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường đa dạng về các thành phần
kinh tế cùng các hoạt động kinh doanh, góp phần mạnh mẽ vào việc giải
phóng thị trường, tăng quyền tự chủ kinh doanh của công dân. Vấn đề xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp luôn
được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Luật Doanh nghiệp năm 2005
được ban hành thực sự là một bước đột phá mới và nó có ý nghĩa quan trọng
trong điều kiện kinh tế đổi mới của Đảng ta về vấn đề doanh nghiệp nói riêng
và phát triển kinh tế thị trường nói chung, khẳng định một chủ trương phù
hợp trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và mọi
công dân đầu tư, phát triền sản xuất.
Với mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc những điểm mới của Luật
Doanh nghiệp đặc biệt là những điểm mới về đăng ký kinh doanh và thành lập
doanh nghiệp từ Luật Doanh nghiệp 1999 và thực tiễn áp dụng , tôi quyết
định chọn đề tài: “Chế độ pháp lý về đăng ký kinh doanh đối với các loại hình
doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 – Thực tiễn áp dụng
trên địa bàn tỉnh Điện Biên” làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của bài khóa luận tốt nghiêp, do điều kiện về thời gian và thời
lượng không cho phép tôi chỉ tập chung nghiên cứu về chế độ pháp lý đăng ký kinh
doanh với các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005:
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
1
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Điều kiện để được đăng ký kinh doanh

CHƯƠNG 1
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH ĐỐI VỚI
CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT
DOANH NGHIỆP NĂM 2005
I. ĐĂNG KÝ KINH DOANH - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1. Khái niệm- Đặc trưng pháp lý của doanh nghiệp
1.1. Khái niệm
Hiểu một cách thông thường doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến
hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi
nhuận. Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửa
hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng….
Định nghĩa về doanh nghiệp được quy định trong nhiều văn bản pháp luật.
Theo Luật Doanh nghiệp 1999 định nghĩa về doanh nghiêp : “ Doanh nghiệp là
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh (Điều 3 khoản 1 ). Đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 đưa ra định
nghĩa về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Như vậy, thuật ngữ “doanh nghiệp” được dùng để chỉ một chủ thể kinh
doanh độc lập có đủ những đặc trưng pháp lý và thỏa mãn những điều kiện do
pháp luật quy định. Trong thực tế, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
dưới nhiều mô hình cụ thể với những tên gọi khác nhau. Theo quy định của
Luật Doanh nghiệp 2005 phân loại thành các loại hình doanh nghiệp sau:
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
3
Chuyên đề tốt nghiệp
• Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp mà các thành viên
trong công ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản

kinh doanh cá thể không bắt buộc phải đăng ký tên và không có con dấu.
Thứ hai, doanh nghiệp phải có tài sản. Mục đích chủ yếu và trước tiên của
doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh với những đặc trưng là đầu tư tài sản và
để thu lợi về tài sản. Bởi vậy, điều kiện tiên quyết và cũng là nét đặc trưng lớn
của doanh nghiệp là phải có một mức độ tài sản nhất định. Tài sản là điều kiện
hoạt động và cũng là mục đích hoạt động của doanh nghiệp. Trong điều kiện của
cơ chế thị trường, không thể nói đến việc thành lập một doanh nghiệp, thậm chí
không thể thực hiện được một hoạt động kinh doanh thực sự trong bất kỳ lĩnh
vực nào, nếu hoàn toàn không có tài sản.
Thứ ba , doanh nghiệp phải có trụ sở giao dịch ổn định, bất cứ nhà đầu tư
nào thành lập chủ thể kinh doanh với tư cách doanh nghiệp, dù là Việt Nam hay
nước ngoài đều phải đăng ký ít nhất một địa chỉ giao dịch trong phạm vi lãnh thổ
Việt Nam. Các doanh nghiệp có trụ sở chính tại Việt Nam được đăng ký và thành
lập theo quy định của pháp luật Việt Nam là các pháp nhân Việt Nam. Việc giải
quyết những tranh chấp phát sinh trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp trước
hết phải do Trọng tài hoặc tòa án và theo pháp luật.
Thứ tư, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thành lập theo quy định của
pháp luật và mỗi doanh nghiệp, dù kinh doanh ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều
phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp ít nhất một Giấy chứng nhận
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
5
Chuyên đề tốt nghiệp
có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh, giấy phép thành lập và hoạt động ( đối với doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực bảo hiểm) nhưng nội dung giá trị là đăng ký thành lập doanh nghiệp (và
trong phạm vi bài chuyên đề chỉ nghiên cứu về đăng ký kinh doanh đối với các
loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. Trong đó, nhà nước ghi nhận
những yếu tố chủ yếu cấu thành tư cách chủ thể của doanh nghiệp, phạm vi lĩnh
vực hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, đăng ký kinh doanh là cơ sở cho hoạt
động của doanh nghiệp đồng thời cũng là cơ sở cho việc thực hiện việc kiểm

- Hành vi phải thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh chính
mình để tiến hành hoạt động kinh doanh, tự quyết định và chịu trách nhiệm trước
mọi vấn đề liên quan.
- Hành vi có mục đích sinh lợi.
Bên cạnh đó có cách hiểu kinh doanh là để kiếm tiền (Business to make
money), nhiều ý kiến đã quan niệm kinh doanh theo một nghĩa rộng hơn: Kinh
doanh để mang lại lợi ích cho cộng đồng ( hay kinh doanh xã hội- social
business).
Từ ý tưởng kinh doanh, để thực hiện hoạt động kinh doanh, chủ thể phải
tiến hành hoạt động đăng ký kinh doanh kinh doanh với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích từ “ đăng ký” dưới hai nội dung:
1: Chính thức ghi vào văn bản của cơ quan pháp luật những thông tin
cần thiết về sự kiện làm cơ sở phát sinh hoặc chấm dứt những quan hệ pháp
lý nhất định.
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
7
Chuyên đề tốt nghiệp
2: Bằng chứng công nhận bắt đầu sự tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện
hoặc hiện tượng pháp luật.
Từ cách định nghĩa trên, ta có thể xem xét thuật ngữ “đăng ký kinh doanh”
dưới những phương diện khác nhau:
- Về phương diện kinh tế: đăng ký kinh doanh là hoạt động của doanh
nghiệp tuy không trực tiếp tạo ra của cải vật chất hay những dịch vụ nhằm thu lợi
nhuận về cho các doanh nghiệp có thể tiến hành được hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Vì vậy, tuy trong giai đoạn tiến hành thủ tục đăng ký kinh
doanh, doanh nghiệp chưa thực sự có, song chi phí trong quá trình đăng ký kinh
doanh thành lập doanh nghiệp vẫn được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp
và được khấu trừ trong khi tính thuế.
- Về phương diện quản lý nhà nước: đăng ký kinh doanh được coi là biện

kiện đăng ký kinh doanh, thủ tục đăng ký kinh doanh, các biện pháp chế tài để
đảm bảo việc đăng ký kinh doanh được thực hiện đúng pháp luật nhằm điều
chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình đăng ký kinh doanh và những vấn
đề liên quan.
Xét về mặt nội dung: Chế độ pháp lý về đăng ký kinh doanh là tổng hợp
các quy định về:
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ( Business registration) là “chứng
chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức thỏa mãn các
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
9
Chuyên đề tốt nghiệp
điều kiện do pháp luật quy định để tiến hành hoạt động kinh doanh”. Việc cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là công nhận chính thức sự ra đời của
doanh nghiệp đồng thời với sự công nhận đó đã làm phát sinh mối quan hệ pháp
lý về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Như vậy, bản chất của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sự ghi nhận
của nhà nước đối với nhà đầu tư về nghĩa vụ bảo hộ quyền kinh doanh của nhà
đầu tư qua hình thức doanh nghiệp mà nhà đầu tư tự lựa chọn và trong phạm vi
đã được nhà nước giới hạn đăng ký.
Các thông tin được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sẽ
được cơ quan đăng ký kinh doanh ghi vào sổ theo dõi và quản lý, giúp nhà nước
nắm bắt được các doanh nghiệp ngay từ khi mới thành lập. Kết hợp với chế độ
báo cáo định kỳ của doanh nghiệp và sự kiểm tra của nhà nước, nhà nước có
được những thông tin chính xác về từng doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình
thành lập, hoạt động, cho đến khi giải thể, phá sản. Sử dụng nghiệp vụ phân tích,
thống kê, Nhà nước sẽ có những số liệu về tình hình kinh tế, xã hội được phản
ánh qua tình hình hoạt động doanh nghiệp, từ đó kịp thời đề ra những chính sách
vĩ mô, điều tiết hợp lý.
2.3. Ý nghĩa
Đăng ký là thủ tục khai sinh ra doanh nghiệp. Nói cách khác, thông qua

- Thành lập doanh nghiệp còn có ý nghĩa kinh tế là khi bước vào các hoạt
động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp với một tư cách là một thành viên trong
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
11
Chuyên đề tốt nghiệp
các cơ cấu của các thành phần kinh tế, các hoạt động của doanh nghiệp còn góp
phần vào sự phát triển của xã hội.
- Như vậy, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp có một ý nghĩa vô cùng
quan trọng không chỉ đối với việc bảo đảm quyền lợi cho bản thân doanh nghiệp
mà còn có ý nghĩa đối với việc bảo đảm trật tự quản lý nhà nước và bảo vệ lợi
ích cho các chủ thể khác trong xã hội. Chính vì lẽ đó, viêc đăng ký thành lập
doanh nghiệp vừa là một nhu cầu tất yếu, vừa là đòi hỏi mang tính nghĩa vụ đối
với mỗi doanh nghiệp khi gia nhập thị trường.
II. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH – TỪ LUẬT DOANH
NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ LUẬT CÔNG TY NĂM 1990 ĐẾN LUẬT DOANH NGHIỆP
NĂM 2005
1. Chế độ pháp lý về đăng ký kinh doanh đối với các loại hình doanh
nghiệp theo Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty năm 1990
Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty năm 1990 được Quốc hội
thông qua tháng 12 năm 1990 và được sửa đổi một số điều vào tháng 6 năm
1994. Thực tế đã xác nhận, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được
ban hành là một cột mốc quan trọng và có ý nghĩa trong quá trình đổi mới kinh
tế, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt
Nam. Trước hết, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty đã khuyến khích
tạo điều kiện thuận lợi cho những người có tài sản đầu tư vào kinh doanh, thu hút
nguồn vốn trong các tầng lớp dân cư để đưa họ vào kinh doanh, tạo cho họ một
môi trường thuận lợi để họ sử dụng tài sản, tiền vốn và năng lực của mình vừa
mang lại lợi ích cho cá nhân, gia đình mình và toàn xã hội.
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47

việc cấp giấy phép, Nhà nước nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế trong các
ngành, các lĩnh vực từ đó và có các chính sách thích hợp điều tiết nền kinh
tế.Ngoài ra, việc cấp giấy phép còn góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng cho
người kinh doanh và người tiêu dùng.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, thủ tục cấp phép thành
lập còn có nhiều hạn chế:
- Kinh doanh là quyền tự do của tổ chức cá nhân. Nhà nước chỉ thừa nhận
và bảo hộ quyền kinh doanh hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Do vậy, tự do thành
lập doanh nghiệp không thể do Nhà nước ban phát thông qua cơ chế xin - cho.
Việc quy định cơ chế này là rào cản của quyền tự do kinh doanh mà biểu hiện
trước hết nó là quyền tự do thành lập doanh nghiệp.
- Quy định của pháp luật về việc cấp giấy phép còn rất tản mạn và phân
tán. Chỉ riêng việc cấp giấy phép có hai loại: Cấp giấy phép thành lập doanh
nghiệp tư nhân và các công ty; cấp giấy phép hoạt động được thực hiện đối với
các tổ chức tín dụng. Thẩm quyền cấp giấy phép rất phân tán: Giấy phép thành
lập công ty thì do chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương cấp. Còn một số ngành nghề đặc biệt được quy định trong Điều 11 của Luật
doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty, việc quyết định có cấp giấy phép hay
không lại thuộc về Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, đối với việc xin giấy phép
thành lập công ty, đã có 3 cơ quan có thẩm quyền cấp, ba cơ quan này phân tán
từ Trung ương đến địa phương. Đó là chưa kể, khi xem xét cấp giấy phép thành
lập công ty theo thẩm quyền của mình, đối với những ngành nghề trong phạm vi
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Điều 11, Ủy ban nhân dân tỉnh còn phải trao đổi với các Bộ chủ quản ngành để
thống nhất ý kiến.
- Thủ tục cấp phép và hình thức cấp phép còn chưa ổn định hay có thể nói
thường bị thay đổi. Luật do Quốc hội ban hành đã có hiệu lực có nghĩa là ở địa
phương phải triển khai áp dụng. Nhưng các Bộ, Ngành lại không có văn bản

222/HĐBT ngày 23/12/1991 quy định cụ thể hóa một số điều của Luật Công ty
còn chưa đủ, không phù hợp với thực tế. Sự phát triển của các ngành nghề không
phụ thuộc vào quy định pháp luật mà nó tuân theo quy luật cung cầu của thị
trường. Việc quy định vốn pháp định là nhằm để thực hiện sự đảm bảo tối thiểu
về tài sản của chủ doanh nghiệp đối với khách hàng. Mức vốn pháp định quá
thấp sẽ không đủ để thực hiện sự bảo đảm đó.Từ đó cho thấy việc quy định vốn
pháp định và ban hành danh mục vốn pháp định là điều kiện quyết định cho
thành lập hay không thành lập doanh nghiệp là một điều không hợp lý.
Về thủ tục đăng ký kinh doanh: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp tư
nhân và Luật Công ty sau thủ tục xin cấp phép thành lập là đến thủ tục đăng ký
kinh doanh. Việc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp
giấy phép thành lập doanh nghiệp là xác định người xin phép có đủ các điều kiện
thành lập doanh nghiệp sau đó doanh nghiệp tiến hành đăng ký kinh doanh tại
Trọng tài kinh tế ( sau này là Ủy ban kế hoạch) tỉnh, thành phố và được cơ quan
cấp giấy này cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Trước khi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được ban hành,
việc đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp được tiến hành hết sức tràn lan,
ngành nào cấp nào cũng có quyền cấp đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp
thuộc cấp mình quản lý. Quy định trên tạo nên một thực trạng hết sức lộn xộn,
tùy tiện ngay trong việc xác định chức năng kinh doanh, ngành nghề kinh doanh
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
16
Chuyên đề tốt nghiệp
đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh… Việc nhà nước ban hành Luật
Doanh nghiệp và Luật Công ty trong đó quy định thống nhất thẩm quyền, trách
nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh là một sự đổi mới trong quá trình sắp xếp
lại các doanh nghiệp. Từ đó đến nay, công tác đăng ký kinh doanh tập trung vào
một cơ quan, trước là Trọng tài Kinh tế tỉnh, thành phố và sau khi Luật Doanh
nghiệp và Luật Công ty được sửa đổi vào tháng 6 năm 1994 thì cơ quan đăng ký
kinh doanh là Ủ ban kế hoạch tỉnh (nay là Sở Kế hoạch và Đầu tư). Chế định

và Nhà nước đã đề ra thì những quy định của Luật Công ty và Luật Doanh
nghiệp tư nhân đã không còn phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và
không phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Điều
đó đòi hỏi phải có sự sửa đổi hai đạo luật này để đi tới một đạo luật chung thống
nhất theo quan điểm chỉ đạo là “giải phóng và phát triển mọi lực lượng, mọi tiềm
năng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi cá nhân, mọi doanh nghiệp kinh doanh có
hiệu quả, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, không giới hạn về
quy mô, địa bàn hoạt động trong lĩnh vực mà pháp luật không cấm…”
Pháp luật Nhà nước ta quy định và bảo hộ quyền tự do kinh doanh của
công dân, song quyền tự do phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Thực tiễn
thi hành Luật Doanh nghiệp tư nhân trong những năm qua đặt ra những yêu cầu
phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lý hợp lý có khả
năng khuyến khích và định hướng cho kinh tế tư nhân nói riêng và nền sản xuất
xã hội nói chung phát triển. Chính vì những lẽ đó mà ngày 12/6/1999 Quốc hội
đã ban hành Luật Doanh nghiệp.
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Tại Luật Doanh nghiệp năm 1999, vấn đề thành lập và đăng ký kinh doanh
của các doanh nghiệp được quy định trong chương hai, gồm có 16 điều, ghi nhận
việc đăng ký kinh doanh hoàn toàn là quyền của chủ thể kinh doanh, luật cũng
quy định rất cụ thể các loại ngành nghề kinh doanh để người kinh doanh đăng ký
lựa chọn trên cơ sở tôn trọng quyền tự do kinh doanh của họ. Mặt khác, điều kiện
và thủ tục đăng ký kinh doanh được đơn giản hóa một cách tối đa theo tinh thần
xóa bỏ cơ chế “xin - cho” trước đây, gộp hai khâu xin phép thành lập và đăng ký
kinh doanh thành một khâu đăng ký kinh doanh, bỏ vốn pháp định với nhiều
ngành nghề và bước đầu xây dựng một cơ quan chuyên trách đăng ký kinh doanh
thống nhất trong cả nước, đi cùng với nó là cơ chế giám sát hoạt động của doanh
nghiệp sau đăng ký kinh doanh.
2.1. Điều kiện thành lập và quản lý doanh nghiệp

đề vốn kinh doanh. Vốn là nhu cầu không thể thiểu đối với mọi doanh nghiệp
khi tiến hành các hoạt động của doanh nghiệp. Vốn vừa là tiền đề để khai thác
các hoạt động kinh doanh của mình, vừa là cơ sở để đảm bảo thực hiện các nghĩa
vụ tài sản của doanh nghiệp phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Để đảm bảo khả
năng thực tế cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình,
pháp luật phải quy định mức vốn tối thiểu như một đòi hỏi bắt buộc đối với các
doanh nghiệp khi muốn tiến hành đăng ký kinh doanh. Quy mô vốn đó được xây
dựng dựa trên yêu cầu và đặc thù của từng ngành nghề kinh doanh, từng loại
hình doanh nghiệp và được gọi chung là vốn pháp định.
Ngành nghề kinh doanh cũng là một trong những vấn đề mà các doanh
nghiệp quan tâm. Để quản lý việc đăng ký kinh doanh có hiệu quả thì Nhà
nước đã có những quy định cụ thể về ngành, nghề kinh doanh như: ngành,
nghề cấm kinh doanh; ngành nghề kinh doanh có điều kiện; ngành nghề kinh
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
20
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh phải có vốn pháp định; ngành nghề kinh doanh phải có giấp phép hoặc
chứng chỉ hành nghề
2
.
2.2. Thẩm quyền thành lập doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã quy định một chế độ một cửa, đơn giản
hoá các thủ tục hành chính, đặc biệt xóa bỏ cơ chế “xin - cho” chuyển sang cơ
chế “đăng ký” đã thừa nhận hoàn toàn quyền tự chủ cho các nhà đầu tư, cơ quan
Nhà nước chỉ là người “ghi nhận” mà không có quyền cho phép như trước kia.
Các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp
hoạt động theo Luật Doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 3 Nghị định số
02/2000/NĐ - CP của Chính phủ ngày 3/2/2000 về đăng ký kinh doanh. Theo đó
cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và ở quận huyện, thành phố thuộc tỉnh bao gồm:

được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu có đủ các điều kiện sau:
+ Ngành nghề kinh doanh không thuộc đối tượng cấm kinh doanh;
+ Tên doanh nghiệp được đặt đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 24 của
Luật Doanh nghiệp;
+ Có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ theo quy định của pháp luật ;
+ Nộp đủ lệ phí đăng ký kinh doanh theo quy định.
Tóm lại, những quy định về đăng ký kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp
1999 có những đặc thù sau:
- Đầu tiên đó là những quy định thống nhất thủ tục thành lập, đăng ký kinh
doanh cho các doanh nghiệp như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh, và doanh nghiệp tư nhân.
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
22
Chuyên đề tốt nghiệp
- Thứ hai, đó là việc thực hiện các chủ trương cải cách hành chính mạnh
mẽ với các quy định mới về thành lập doanh nghiệp như: bãi bỏ thủ tục xin phép
( tức là xóa bỏ cơ chế xin- cho ), bỏ quy định về vốn pháp định,quy định việc cá
nhân tự kê khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về thủ tục đăng ký kinh
doanh đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy định về hồ sơ doanh nghiệp…
- Cuối cùng, song song với quy định của Luật Doanh nghiệp 1999, thì
các quy định về thành lập doanh nghiệp nhà nước ghi nhận trong các văn bản
luật riêng là Luật Doanh nghiệp nhà nước ( năm 1995 và năm 2003 ) và các
quy định về cấp giấy phép đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài cũng áp dụng
quy định riêng trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (sửa
đổi bổ sung năm 2000).
3. Chế độ pháp lý về đăng ký kinh doanh đối với các loại hình doanh
nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005
Sau hai thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi
mang tính đột phát, phát triển, năng động, hiệu quả. Nhất là sau khi Luật
Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành, môi trường kinh doanh ở nước ta trở

Nội dung chính của Luật Doanh nghiệp năm 2005 bao gồm các vấn
đề sau:
Thứ nhất về điều kiện đăng ký kinh doanh
Kinh doanh là quyền tự do của mọi công dân và được pháp luật bảo vệ.
Nhưng không phải mọi chủ thể trong xã hội đều có thể tự do kinh doanh mà
bất chấp các điều kiện. Để bảo vệ cho chính các chủ thể đó cũng như các chủ
thể khác trong xã hội, pháp luật cũng đặt ra các điều kiện đăng ký kinh doanh
Đặng Duy Trường Luật kinh doanh 47
24
Chuyên đề tốt nghiệp
buộc các chủ thể phải tuân theo như: điều kiện về chủ thể kinh doanh, điều
kiện về ngành nghề kinh doanh,…
Thứ hai là đến thủ tục đăng ký kinh doanh
Khi nói đến thủ tục đăng ký kinh doanh có nghĩa là nói đến trình tự, thủ
tục mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kinh doanh và các
doanh nghiệp muốn đăng ký kinh doanh phải thực hiện khi đăng ký kinh
doanh. Thủ tục đăng ký kinh doanh thường quy định một số vấn đề như: nộp
hồ sơ đăng ký kinh doanh, tiếp nhận hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Các thủ tục này được pháp luật quy định
một cách chặt chẽ và áp dụng thống nhất cho tất cả các loại hình doanh
nghiệp để đảm bảo sự công bằng , minh bạch cho môi trường kinh doanh
trong xã hội.
Thứ ba là việc cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh.
Hoạt động đăng ký kinh doanh chỉ có thể được thực hiện tốt nếu có
được một hệ thống các cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức hợp lý và
hiệu quả. Việc nhà nước thiết lập hệ thống các cơ quan đăng ký kinh doanh,
với sự phân định rõ ràng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của chúng có một ý
nghĩa rất to lớn. Nó vừa đảm bảo thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận tiện cho
người dân khi phải tiếp xúc với cơ quan công quyền trong việc đăng ký kinh
doanh. Thông qua đó, Nhà nước cũng có thể kiểm soát tốt hơn hoạt động kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status