Phân tích và đề xuất giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào việt nam - Pdf 27

z

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
♦

NGUYỄN THU HƯƠNG

PHÂN TÍCH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN

MÔI

TRƯỜNG ĐẦU TƯ

NHẰM THU
HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO
VIỆT NAM

H
H
à
àN
N


i
i

CHƯƠNG I 4
NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 4
1. Khái niệm 4
2. Các nhân tố cấu thành và tác động các nhân tố đó: 5
2.1. Môi trường nước đầu tư 5
2.2. Môi trường nước nhận đầu tư 8
2.3. Môi trường toàn cầu 13
3. Vai trò của nghiên cứu môi trường đầu tư quốc tế 14
3.1 Đối với các nhà lãnh đạo ở cấp vĩ mô 14
3.2 Đối với các nhà đầu tư 16
4. Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư quốc tế: 17
4.1. Chỉ số cạnh tranh toàn cầu Global Competitiveness Index (GCI): 17
4.2. Chỉ số Thúc đẩy thương mại toàn cầu Enabling Trade Index (ETI) 33
4.3.Chỉ số thuận lợi kinh doanh của World Bank (Ease of Doing Business Index) 35
5. Kinh nghiệm về hoàn thiện môi trường đầu tư quốc tế và bài học rút ra để tăng cường
thu hút vốn đầu tư 40
5.1 Môi trường đầu tư của Trung Quốc và những biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách
thu hut vốn từ nước ngoài 40
5.2 Môi trường đầu tư của Singapore và những biện pháp nhằm hoàn thiện chính sách
thu hut vốn từ nước ngoài 46
5.3 Kinh nghiệm của Thái Lan và Malaysia: đầu tư theo hướng chọn lọc 50
5.4 Kinh nghiệm Nhật Bản trong thu hút đầu tư nước ngoài 50
5.5 Bài học kinh nghiệm cho hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 52
CHƯƠNG 2 60
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 60
1. Phân tích môi trường đầu tư quốc tế 60
1.1 Môi trường chính trị-xã hội 60
1.2 Môi trường văn hóa 70
1.3 Môi trường pháp lý-hành chính 74
1.4 Môi trường kinh tế-tài nguyên 91

trở thành một quốc gia có môi trường đầu tư hấp dẫn với nước ngòai. Tuy nhiên, nước ta
vẫn phải đang đối mặt với những tồn tại cần khắc phục của môi trường đâu tư. Do đó,
mục tiêu của đề tài chính là nghiên cứu và đánh giá các khía cạnh trong môi trường đầu
tư của Việt Nam, tìm hiểu những bài học kinh nghiệm về đầu tư quốc tế của nước ngoài.
Từ đó rút ra bài học và những giải pháp cần phải thực hiện tiến tới hòan thiện môi trường
đầu tư quốc tế tại Việt Nam.
Tuy nhiên để thu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài thì điều quan trọng
nhất mà nhà nước và doạnh nghiệp cần hợp tác đó là tạo ra một môi trường đầu tư thuận
lợi nhất, điều chỉnh hệ thống pháp luật ngày càng hiệu quả hơn đồng thời phải đánh giá
được hiện trạng của môi trường nước ta hiện nay để có hướng đi thích hợp. CHƯƠNG I
NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
1. Khái niệm
Môi trường đầu tư quốc tế là tổng hòa các yếu tố vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên,
tình hình chính trị, chính sách pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, đặc điểm văn hoá -xã
hội của một quốc gia mà các nhà đầu tư cần phải xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng trước
khi quyết định đầu tư vào khu vực hoặc quốc gia đó. Các nhóm yếu tố này có thể làm
tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư, vì vậy ảnh hưởng đến việc đầu tư
của các nhà đầu tư nước ngoài ở nước nhận đầu tư.

2. Các nhân tố cấu thành và tác động các nhân tố đó:
Môi trường đầu tư quốc tế bao gồm 3 thành phần cơ bản : môi trường nước đầu tư,
môi trường nước nhận đầu tư và môi trường toàn cầu.
- Môi trường nước đầu tư, còn được gọi là nhóm các yếu tố đẩy, là các yếu tố
trong môi trường kinh doanh của một quốc gia có tác động thúc đẩy, khuyến khích hay
hạn chế các nhà đầu tư trong nước quyết định đầu tư ra nước ngoài.
- Môi trường nước nhận đầu tư là các yếu tố trong môi trường kinh doanh của một
quốc gia có tác động lôi kéo, thu hút hay hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư.

- Khuyến khích đầu tư sang những nước mà quốc gia có quan hệ tốt đẹp hay có
chính sách thiết lập quan hệ trong tương lai.
- Hạn chế đầu tư sang các nước có quan hệ căng thẳng hay bất đồng về quan điểm
chính trị. Ban hành các bộ luật cấm vận kinh tế đối với một số quốc gia.
- Ngoài ra, chính phủ nước đầu tư thường tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong
nước bằng cách ký kết các hiệp định song phương hoặc đa phương với các quốc gia đối
tác, thỏa thuận những điều kiện hợp tác và những nguyên tắc cơ bản nhằm hỗ trợ các nhà
đầu tư trong quá trình tiếp cận hoặc kinh doanh tại nước kia;…
2.1.4. Yếu tố pháp luật
Hệ thống luật pháp và những qui định pháp lý của một quốc gia thể hiện rõ khuynh
hướng khuyến khích hay hạn chế đầu tư ra nước ngoài của chính phủ quốc gia đó. Thông
thường các biện pháp được sử dụng để khuyến khích đầu tư ra nước ngoài là :
- Các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (giảm mức thuế phải nộp đối
với lợi nhuận chuyển từ nước ngoài về, chính phủ kí hiệp định chống đánh thuế hai lần
với các nước…)
- Thành lập các tổ chức xúc tiến đầu tư hay các tổ chức hỗ trợ đầu tư hải ngoại để
hỗ trợ các nhà đầu tư trong nước khi đầu tư ra nước ngoài.
- Bảo hiểm vốn cho các nhà đầu tư sang các nước đang phát triển (thiếu thông tin,
môi trường đầu tư ẩn chứa nhiều rủ ro…) thông qua chính sách bảo hiểm vốn để khuyến
khích họ mạnh dạn đầu tư;…
2.1.5. Yếu tố công nghệ
Quốc gia có lợi thế cạnh tranh là trình độ khoa học kĩ thuật và công nghệ phát triển
vượt bậc sẽ có xu hướng khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư sang các quốc gia chưa theo
kịp tốc độ phát triển để tận dụng lợi thế cạnh tranh của các nước này về nguồn tài nguyên
thiên nhiên, giá nhân công để phục vụ cho mục đích lợi nhuận.
2.1.6. Yếu tố kinh tế
Đây là yếu tố quan trọng nhất và có tác động trực tiếp đến việc thúc đẩy hay hạn
chế đầu tư ra nước ngoài của một quốc gia. Yếu tố này được xét dựa trên mức độ phát
triển kinh tế và các chính sách kinh tế được thi hành tại quốc gia đó. Cụ thể là:
- Chính phủ sẽ đề ra những chính sách hạn chế đầu tư ra nước ngoài nếu nhận thấy

Khi giữa nước nhận đầu tư và nước đầu tư có nhiều khác biệt về các đặc điểm văn
hóa – xã hội thì rủi ro đối với các nhà đầu tư càng cao nếu họ không ý thức được sự khác
biệt và có những điều chỉnh thích hợp. Mặt khác, chi phí cho việc điều chỉnh khác biệt là
khá cao. Những khác biệt thường gặp là :
- Ngôn ngữ : khác biệt ngôn ngữ sẽ cản trở khả năng giao tiếp của nhà đầu tư với
các đối tượng khác tại nước nhận đầu tư.
- Quan niệm về giá trị: những điều được coi là tốt đẹp đối với một nền văn hóa có
thể không được chấp nhận trong nền văn hóa khác và ngược lại.
- Phong tục tập quán trong sinh hoạt và kinh doanh: những hành vi được chấp nhận
trong xã hội này có thể không được chấp nhận trong xã hội khác, và những thói quen
trong giờ giấc, phong cách sinh hoạt và kinh doanh cũng có thể khác nhau.
- Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng: vai trò của cá nhân hay cộng đồng được
đánh giá cao hơn trong xã hội.
- Mức độ phân chia giai tầng trong xã hội: khoảng cách giữa các tầng lớp và mức độ
linh hoạt trong chuyển đổi giai tầng trong xã hội.
- Quan điểm về thẩm mỹ: quan niệm về cái đẹp, cái hoàn hảo có sự khác biệt ở từng
quốc gia khi đi từ Tây sang Đông.
Các đặc điểm này không chỉ tác động đến khả năng hoà nhập vào cộng đồng nước
sở tại của các nhà đầu tư nước ngoài mà còn tác động đến chi phí đào tạo nguồn nhân lực
của họ.
2.2.3. Yếu tố chính trị
Có thể nói ổn định chính trị của nước nhận đầu tư là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối
với các nhà đầu tư, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vì, tình hình chính trị
ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu
tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên đầu tư và định hướng phát triển của nước
nhận đầu tư. Đồng thời, sự ổn định chính trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình
kinh tế – xã hội, nhờ đó giảm được tính rủi ro cho các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, trong yếu tố ổn định chính trị, các nhà đầu tư quan tâm về ổn định chính
sách hơn là ổn định chính quyền. Nguyên nhân là do :
- Nếu một quốc gia bất ổn về chính quyền sẽ dẫn đến những thay đổi về chính sách

Một môi trường pháp lý được coi là hấp dẫn nếu có các chính sách, qui định hợp lý
và tính hiệu lực cao trong thực hiện. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng không chỉ
để đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài mà còn là những cơ sở cần thiết cho
họ tính toán làm ăn lâu dài ở nước nhận đầu tư.
Những khía cạnh trong hệ thống pháp lý của nước nhận đầu tư có khả năng tác động
đến hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài gồm:
- Hệ thống pháp luật có đầy đủ và đồng bộ hay không?
- Tính chuẩn mực và hội nhập của hệ thống pháp luật: hệ thống pháp luật có cập
nhật theo kịp tốc độ hội nhập kinh tế thế giới và xung đột với hệ thống các cam kết quốc
tế mà nước nhận đầu tư đã tham gia hay không.
- Pháp luật có bảo đảm quyền sở hữu tài sản cả hữu hình và vô hình (quyền sở hữu
trí tuệ) cho nhà đầu tư hay không?
- Pháp luật có bảo đảm quyền lợi và môi trường cạnh tranh công bằng cho các nhà
đầu tư hay không?
- Pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ và quyền lợi của các bên trong hợp
đồng và cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng cũng như năng lực thực thi các phán
quyết của tòa án, của bộ máy thi hành án.
- Các quy định về chuyển tiền ra nước ngoài.
- Các quy định pháp lý về thuế đối với đầu tư nước ngoài.
- Các yêu cầu về thực hiện đầu tư: Mức độ hạn chế sở hữu, tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ
sản phẩm phải xuất khẩu…
- Các quy định pháp lý về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn môi
trường và điều kiện lao động.
- Khả năng pháp luật bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
- Các quy định khác liên quan đến đầu tư nước ngoài như quản lý ngoại hối, đăng
ký nhập cảnh và lưu trú, sử dụng nhân lực nước ngoài…
Một vấn đề khác cũng được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, đó là định hướng
đầu tư của nước nhận đầu tư. Vì các nhà đầu tư nước ngoài thường có chiến lược kinh
doanh dài hạn nên rất cần sự rõ ràng, ổn định trong định hướng đầu tư của nước nhận đầu
tư.

vốn thấp khi đầu tư vào những quốc gia có mức độ ổn định kinh tế cao. Chính vì vậy,
một quốc gia có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao và ổn định sẽ thu hút mạnh mẽ
nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
- Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống hạ tầng cơ sở về phần cứng (mạng lưới
giao thông vận tải, hạ tầng điện lực, viễn thông…) và phần mềm (lao động trình độ cao,
hệ thống giáo dục đào tạo, hệ thống dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, dịch vụ tài chính…)
cũng góp phần giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp nên sẽ thu hút được nhiều đầu tư
nước ngoài.
2.3. Môi trường toàn cầu
2.3.1. Môi trường chính trị toàn cầu
Tình hình chính trị tại khu vực cũng như trên toàn cầu đều có tác động đến các hoạt
động đầu tư quốc tế. Xu thế chung của thế giới hiện nay là đối thoại nhằm giải quyết các
mâu thuẫn và bất đồng, điều này mang lại nhiều thuận lợi cho nền kinh tế thế giới. Tuy
nhiên, chủ nghĩa khủng bố leo thang, sự bất ổn về chính trị tại một số quốc gia như Iraq,
Thailand cũng như mối lo ngại về hạt nhân tại Iran hay bán đảo Triều Tiên đã gây ra
nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu cũng như các hoạt động đầu tư quốc tế.
2.3.2. Môi trường kinh tế toàn cầu
Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng nổi trội và do đó đã trở thành môi
trường của các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thế giới. Những
nước và các nhóm xã hội yếu thế thường bị thua thiệt do tác động từ những mặt trái của
toàn cầu hóa và luôn phản đối nó hoặc trong tâm thế thích ứng bị động. Trong khi đó,
những nước và những người có sức mạnh chi phối toàn cầu hóa lại coi nó là cơ hội mang
lại sự tiến bộ cho mình và ra sức tận dụng những mặt tích cực của nó. Cho dù vậy, toàn
cầu hóa vẫn đã và sẽ diễn ra, chi phối dưới hình thức này hay khác, với các mức độ khác
nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội nói chung và hoạt động đầu tư quốc tế
nói riêng.
Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện nay đang chuyển thành
một hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ thông qua các mạng lưới công nghệ thông tin.
Toàn cầu hóa đòi hỏi các quyết định đầu tư, dù được đưa ra ở bất kỳ nơi nào trên thế giới,
đều phải tính tới các yếu tố quốc tế. Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực

đầu tư vượt quá thẩm quyền của địa phương trong khuôn khổ pháp luật.
- Ngoài ra nghiên cứu môi trường đầu tư còn giúp cho thủ tướng chính phủ, ban
quản lí nói chung thức hiện được những chương trình đối thoại với cộng đồng
doanh nghiệp và nhà đầu tư có hiệu quả.
3.1.2 Đối với Bộ kế hoạch và đầu tư
- Nghiên cứu về môi trường đầu tư để xây dựng, rà soát và kiểm tra những thiếu sót
của văn bản pháp luật, chính sách đầu tư để kịp thời thay đổi.
- Hướng dẫn, phổ biến, và kiểm tra việc thực hiện các văn bản pháp luật về thực
hiện đầu tư.
- Định hướng những khu vực có thể đầu tư phát triển, quy hoạch tổng thể quốc gia
về phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế.
- Lập danh mục các dự án quốc gia thu hút vốn đầu tư, cũng như xúc tiến đầu tư.
- Xây dựng hệ thống thông tin quốc gia phục vụ hoạt động đầu tư.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư, tổng hợp tình hình hoạt
động đầu tư và báo cáo lên chính phủ
3.1.3 Đối với Uỷ Ban Nhân dân cấp tỉnh
- Nghiên cứu môi trường đầu tư để phát hiện ra những khu vực cần giải phóng mặt
bằng…giám sát kiểm tra việc thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động, thực hiện thanh tra các dự án đầu tư trên địa bàn.
- Ngoài ra còn giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư về môi trường
hoạt động.
- Đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư trên địa bàn.
- Chỉ đạo lập quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất và phê
duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất theo quy định
của pháp luật về xây dựng.
3.1.4 Đối với các Ban quản lý khu công nghiệp tỉnh
- Việc nắm rõ môi trường kinh doanh giúp ban quản lí tham gia ý kiến với các Bộ,
ngành, địa phương trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính
sách, quy hoạch liên quan đến hoạt động đầu tư, phát triển khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

The Global Competitiveness Index (GCI) là một công cụ mới và toàn diện hơn để
đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc gia.
4.1.1. Mục tiêu xây dựng chỉ số GCI:
GCI nỗ lực để định lượng ảnh hưởng của một số yếu tố quan trọng góp phần tạo
điều kiện cho khả năng cạnh tranh, với trọng tâm đặc biệt về môi trường kinh tế vĩ mô,
chất lượng của các tổ chức của nhà nước, về công nghệ của đất nước và cơ sở hạ tầng.
4.1.2. Đối tượng và phương pháp điều tra:
Các bảng xếp hạng được tính toán từ cả hai dữ liệu: công khai và chấp hành khảo
sát ý kiến, một cuộc khảo sát toàn diện hàng năm tiến hành do Diễn đàn Kinh tế Thế
giới cùng với mạng lưới của Viện đối tác (viện nghiên cứu hàng đầu về các tổ chức,
doanh nghiệp) ở các nước được khảo sát trong Báo cáo (GCR). Báo cáo cạnh tranh toàn
cầu (GCR) bao gồm 133 quốc gia thông qua 12 trụ cột của mình để khảo sát khả năng
cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh liên quan đến 110 chỉ tiêu, 80% của các chỉ số đều dựa
trên hành khảo sát ý kiến và 20% được định lượng trong thực tế như: Tổng sản phẩm
quốc nội (GDP), Chi tiêu chính phủ, Tỷ lệ lạm phát, chi tiêu cho Giáo dục và thuế. Cuộc
điều tra được thiết kế để nắm bắt một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường kinh
doanh của một nền kinh tế. Bản báo cáo cũng bao gồm các danh sách toàn diện những
điểm mạnh và điểm yếu chính của các nước, từ đó mỗi quốc gia có thể xác định các ưu
tiên chính cho cải cách chính sách của nước mình.
Việc xếp hạng năng lực cạnh tranh cạnh tranh toàn cầu dựa trên chỉ số năng lực
cạnh tranh toàn cầu (GCI), được phát triển cho Diễn đàn Kinh tế Thế giới bởi Sala-i-
Martin và được giới thiệu vào năm 2004. Chỉ số GCI đánh giá dựa trên 12 chỉ tiêu của
khả năng cạnh tranh, cung cấp một bức tranh toàn diện của phong cảnh cạnh tranh ở các
nước trên thế giới ở mọi giai đoạn phát triển. Các trụ cột bao gồm Các tổ chức, Cơ sở hạ
tầng, Ổn định kinh tế vĩ mô, Y tế và giáo dục tiểu học Giáo dục và đào tạo bậc cao hơn,
hiệu quả hàng hoá thị trường, hiệu quả thị trường lao động, sự phát triển của thị trường
tài chính, sẵn sàng về công nghệ, Quy mô thị trường, sự phát triển của kinh doanh, và đổi
mới công nghệ.
Bản báo cáo gồm một hồ sơ chi tiết cho từng thành viên trong 133 nền kinh tế nổi
bật mà báo cáo này nghiên cứu. Nó cung cấp một bản tóm tắt toàn diện của các vị trí

cải vật chất. Những vụ bê bối ở các tập đoàn lớn xảy ra trong những năm qua đã
cho thấy tầm quan trọng của các tiêu chuẩn báo cáo và kế toán để chống gian dối
và quản lý sai trái, và duy trì niềm tin của các nhà đầu tư và người tiêu dùng.
Trong một nền kinh tế được cống hiển bởi các doanh nghiệp hoạt động trung
thực, thì các nhà quản lý phải có trách nhiệm đạo đức cao nhất trong các hoạt
động với chính phủ, các hãng khác và với công chúng. Minh bạch trong khu vực
tư nhân là tuyệt đối cần cho kinh doanh, và có thể giám sát thông qua sử dụng
các công tác kế toán và kiểm toán đảm bảo việc tiếp cận thông tin kịp thời.
2. Trụ cột thứ hai: Hạ tầng (Infrastructure)
Sự tồn tại của hạ tầng chất lượng cao là yếu tố then chốt đảm bảo vận hành nền kinh
tế hiệu quả, bởi đây là yếu tố xác định vị trí của hoạt động kinh tế và các loại hoạt động
hay các ngành có thể phát triển trong nền kinh tế. Hạ tầng chất lượng cao sẽ giảm được
ảnh hưởng của khoảng cách giữa các vùng, kết quả là tích hợp được nền kinh tế quốc gia
và liên kết được với các thị trường ở các nước và khu vực khác.
Hạ tầng chất luợng cao và quy mô rộng lớn là động lực chủ yếu cho sức cạnh tranh,
có tác động rất lớn tới tăng trưởng kinh tế và giảm bất bình đẳng thu nhập và nghèo đói
theo nhiều cách khác nhau. Trong phạm vi này, mạng lưới hạ tầng giao thông và liên lạc
phát triển là điều kiện tiên quyết để đảm bảo hiệu quả chức năng của thị trường cho tăng
trưởng xuất khẩu, cũng như cho phép các cộng đồng nghèo tiếp cận được với các hoạt
động kinh tế cốt yếu và giáo dục.
Các phương thức hiệu quả để vận chuyển hàng hóa, hành khách và các dịch vụ - như
vận tải đường bộ, đường sắt, cảng và hàng không – cho phép doanh nghiệp đưa hàng hóa
của họ ra thị trường một cách an toàn và kịp thời, và hỗ trợ sự luân chuyển của lao động
trên toàn quốc để nhận được những công việc phù hợp nhất.
Nền kinh tế cũng phụ thuộc vào việc cung cấp điện đầy đủ và liên tục, đảm bảo rằng
các doanh nghiệp và nhà máy có thể hoạt động không bị gián đoạn. Cuối cùng, một mạng
lưới viễn thông ổn định và rộng khắp cho phép thông tin trao đổi tự do và nhanh chóng sẽ
làm tăng hiệu quả tổng thể của nền kinh tế nhờ đảm bảo rằng các quyết định của các nhà
lãnh đạo kinh tế được dựa trên đầy đủ các thông tin liên quan.
3. Trụ cột thứ ba: Kinh tế vĩ mô (Macroeconomic stability)

training)
Giáo dục và đào tạo đại học có chất lượng đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế
mong muốn phát triển chuỗi giá trị vượt qua những quy trình sản xuất và sản phẩm đơn
giản. Đặc biệt, kinh tế toàn cầu hóa hiện nay yêu cầu các nền kinh tế phải nuôi dưỡng
nguồn lao động được đào tạo tốt có khả năng thích nghi nhanh chóng với môi trường
đang thay đổi của chúng. Để thực hiện khái niệm này, trụ cột này đo lường tỷ lệ nhập học
bậc trung học và đại học cũng như chất lượng đào tạo được cộng đồng doanh nghiệp
đánh giá. Tầm quan trọng của dạy nghề và đào tạo tại chỗ liên tục, bị nhiều nền kinh tế
coi nhẹ, không thể xem nhẹ bởi chúng đảm bảo cho việc nâng cao các kỹ năng của công
nhân để đáp ứng các yêu cầu đang thay đổi của hệ thống sản xuất.
6. Trụ cột thứ sáu: Hiệu quả của thị trường hàng hóa (Goods market efficiency)
Các quốc gia có các thị trường hàng hóa hiệu quả luôn tạo ra một tỷ lệ cân đối giữa
sác sản phẩm và dịch vụ phù hợp với các điều kiện cung và cầu, và các thị trường đó
cũng đảm bảo rằng các hàng hóa này có thể được mua bán một cách hiệu quả nhất trong
nền kinh tế đó. Sự cạnh tranh thị trường lành mạnh, cả nội địa và quốc tế, có ý nghĩa
quan trọng trong thúc đẩy hiệu quả thị trường và do vậy cả hiệu suất kinh doanh, bằng
cách đảm bảo rằng chỉ các công ty hiệu quả nhất, sản xuất ra các hàng hóa đáp ứng được
yêu cầu của thị trường, mới có thể tồn tại được trên thị trường. Đồng thời đảm bảo môi
trường tốt nhất có thể cho việc trao đổi hàng hóa, và tối thiểu hóa những trở ngại cho hoạt
động kinh doanh thông qua sự can thiệp của chính phủ. Thí dụ, sức cạnh tranh sẽ bị giảm
sút bởi những khoản thuế quá cao hay lệch lạc, và những quy định cấm đoán hay hạn chế
về sở hữu nước ngoài hay đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hiệu quả thị trường cũng phụ thuộc vào các điều kiện nhu cầu như định hướng của
người tiêu dùng và sự hiểu biết của người mua hàng: những khách hàng chấp nhận sự đối
xử kém cỏi của các công ty sẽ không đặt ra những nguyên tắc cần thiết cho các công ty
về hiệu quả mà công ty cần phải đạt được trên thị trường.
7. Trụ cột thứ bảy: Hiệu quả của thị trường lao động (Labor market efficiency)
Hiệu quả và sự linh hoạt của thị trường lao động rất quan trọng để đảm bảo rằng
người lao động được đặt vào vị trí sử dụng hiệu quả nhất trong nền kinh tế. Trong nền
kinh tế có năng suất cao, những người lao động được bố trí vị trí làm việc thích hợp và

thời đại chúng ta. Việc tiếp cận và sử dụng CNTT-TT đã trở thành cơ sở cho xác định
mức sẵn sàng công nghệ tổng thể của một nền kinh tế, nhờ sức lan tỏa quan trọng của
CNTT-TT tới các ngành kinh tế khác và vai trò của nó như một hạ tầng hiệu quả cho các
giao dịch thương mại.
Trong khía cạnh này, sự tồn tại của một khuôn khổ quy tắc thích hợp với CNTT-TT
cũng như tỷ lệ thâm nhập thực tế của CNTT-TT là nhân tố vô cùng quan trọng đối với
khả năng cạnh tranh tổng thể của một nước.
Việc công nghệ sử dụng được sáng tạo trong hay ngoài quốc gia không phải là điều
quan trọng đối với mục đích phân tích khả năng cạnh tranh của tài liệu này. Điểm mấu
chốt ở đây là công ty hoạt động trên lãnh thổ quốc gia tiếp cận được các sản phẩm và
công nghệ tiên tiến này. Nghĩa là, vấn đề không nằm ở chỗ quốc gia này phát minh ra
điện, Internet, hay máy bay, mà điều quan trọng là các phát minh này có thể được cung
cấp cho cộng đồng doanh nghiệp. Điều này không có nghĩa quá trình đổi mới không có
liên quan. Tuy nhiên, mức độ công nghệ có thể sẵn sàng cung cấp cho các công ty trong
quốc gia cần được phân biệt với khả năng sáng tạo và mở rộng các giới hạn tri thức của
quốc gia đó. Cho nên, sự sẵn sàng công nghệ được tách riêng với sáng tạo (đổi mới).
10. Trụ cột thứ mười: Quy mô thị trường (Market size)
Quy mô thị trường sẽ ảnh hưởng đến năng suất do các thị trường lớn cho phép các
công ty khai thác kinh tế ở quy mô lớn. Thông thường, các thị trường có thể của các công
ty bị hạn chế trong phạm vi biên giới quốc gia. Nhưng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, các
thị trường quốc tế đã bổ sung cho các thị trường trong nước, đặc biệt là các nước nhỏ.
Mặc dù bằng chứng về mối liên hệ giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng vẫn chưa rõ
ràng, nhưng rõ ràng là thương mại và tăng trưởng không mâu thuẫn nhau. Do vậy, quan
hệ giữa nền kinh tế mở và tăng trưởng dường như hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau, đặc biệt là
đối với các nước nhỏ có thị trường trong nước nhỏ bé. Ngoài ra, bằng cách kết hợp cả các
thị trường nội địa và nước ngoài trong chỉ số đo quy mô thị trường sẽ tránh được sự phân
biệt giữa các khu vực địa lý (như Liên minh châu Âu) đã bị phá vỡ ở nhiều nước có một
thị trường chung.

C- Nhóm chỉ tiêu về sự đổi mới và sự phát triển của các nhân tố (Innovation and

viện nghiên cứu khoa học chất lượng cao của tư nhân, sự hợp tác trong nghiên cứu giữa
các trường đại học và doanh nghiệp, và sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
D. Mối quan hệ của 12 trụ cột
Mặc dù 12 trụ cột cạnh tranh được trình bày riêng rẽ với nhau, nhưng cần phải thấy
rằng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau: chúng không chỉ liên hệ với nhau, mà còn
hỗ trợ tăng cường giá trị của nhau. Thí dụ, đổi mới (trụ cột 12) không thể xuất hiện trong
thế giới mà không có các thể chế (trụ cột 1) đảm bảo cho các quyền sở hữu trí tuệ, cũng
như không thể được thực hiện trong những nước có lực lượng lao động (trụ cột 5) được
giáo dục và đào tạo kém, và sẽ không bao giờ diễn ra ở những nền kinh tế có thị trường
không đủ lớn (trụ cột 6,7,8) hay không có những hạ tầng hiệu quả và đủ quy mô (trụ cột
2). Việc 12 trụ cột được đo lường riêng biệt sẽ giúp cho các nước hay các nhà phân tích
có thể nhận thấy chỉ số cụ thể nào của quốc gia cần phải cải thiện.
Kết luận đầu tiên về chỉ số cạnh tranh được phát hiện là các nhân tố quyết định của
cạnh tranh là rất nhiều, phức tạp và mở. Kết luận thứ hai là các trụ cột khác nhau tác động
lên các nước khác nhau là rất khác nhau: cách tốt nhất để Dimbabuê nâng cao sức cạnh
tranh của mình không giống như đối với Phần Lan, bởi vì Phần Lan và Dimbabuê ở các
giai đoạn phát triển khác nhau: khi các nước tiến lên trên chặng đường phát triển, tiền
công có xu hướng tăng lên, và để duy trì mức thu nhập cao này, năng suất lao động phải
tăng lên. Theo sự xác định các giai đoạn phát triển của Michael Porter, trong giai đoạn
đầu, nền kinh tế dựa trên yếu tố, và các nước cạnh tranh nhau dựa vào những yếu tố lợi
thế của họ, chủ yếu là lao động phổ thông không có kỹ năng và tài nguyên thiên nhiên.
Các công ty cạnh tranh nhau trên cơ sở giá cả và bán các sản phẩm hay hàng hóa cơ bản,
với năng suất lao động thấp của họ phản ánh ở tiền công thấp. Việc duy trì sức cạnh tranh
ở giai đoạn phát triển này tùy thuộc chủ yếu vào các thể chế công và tư (trụ cột 1) vận
hành tốt, hạ tầng thích hợp (trụ cột 2), khuôn khổ kinh tế vĩ mô ổn định (trụ cột 3), và
một lực lượng lao động mạnh khỏe và có học (trụ cột 4).
Do tiền công tăng lên cùng với sự phát triển tiến bộ, các nước sẽ bước sang giai đoạn
phát triển dựa trên hiệu quả, khi đó họ phải bắt đầu phát triển các quy trình sản xuất hiệu
quả hơn và tăng chất lượng sản phẩm. Tại thời điểm này, sức cạnh tranh tăng lên dựa vào
giáo dục và đào tạo cao hơn (trụ cột 5), thị trường hàng hóa hiệu quả (trụ cột 6), các thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status