MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 6
CÁC KIẾN THỨC THUỘC HỌC PHẦN CƠ HỌC VÀ NHIỆT HỌC 6
1.1.4. Trọng trường 7
1.2. Các kiến thức thuộc học phần nhiệt học 9
1.2.1. Các định luật thực nghiệm về khí ở áp suất thông thường 9
1.2.2. Các khái niệm về công, nhiệt lượng và nội năng 10
1.2.3. Định luật thứ nhất nhiệt động lực học 11
1.2.4. Phát biểu nguyên lí hai của nhiệt động lực học của Thomson và Clausiuts 12
CHƯƠNG 2 14
PHƯƠNG PHÁP CHUNG ĐỂ GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ 14
2.1.2. Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn dắt những kiến thức mới 14
2.1.3. Giải bài tập vật lí rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, rèn
luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát 15
2.1.5. Giải bài tập vật lí góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh 15
2.1.6. Giải bài tập vật lí để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh 16
2.2. Phân loại bài tập vật lí 16
2.2.1. Dựa vào phương tiện giải 16
2.2.2. Dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh 18
2.3. Phương pháp chung giải bài tập vật lí 19
2.3.1. Tìm hiểu đầu bài 19
2.3.2. Phân tích hiện tượng 20
2.3.3. Xây dựng lập luận 20
2.3.4. Biện luận 20
2.4. Xây dựng lập luận trong giải bài tập định tính 21
2.4.1. Bài tập giải thích hiện tượng 21
2.4.2. Bài tập dự đoán hiện tượng 21
1
CHƯƠNG 3 26
GIẢI THÍCH CÁC HIỆN TƯỢNG VẬT LÍ BẰNG KIẾN THỨC THUỘC HỌC PHẦN
CƠ HỌC VÀ NHIỆT HỌC 26
3
2. Lý do chọn đề tài
Vật lí là một môn khoa học cơ sở của kĩ thuật, được ứng dụng rộng rãi trong sản
xuất và đời sống. Vì vậy, trong đời sống, trong tự nhiên, trong lao động sản xuất, ta
luôn gặp các hiện tượng vật lí. Các hiện tượng vật lí luôn diễn ra hàng ngày, hàng
giờ. Ta có thể gặp ở bất cứ nới đâu, luôn có những câu hỏi được đặt ra. “Sự việc
xảy ra như thế nào? Tại sao lại xảy ra như thế này mà không xảy ra như thế kia?”
Ta có thể sử dụng kiến thức vật lí và đặc biệt là các kiến thức thuộc học phần cơ
học và nhiệt học để giải thích một số hiện tượng vật lí thường gặp. Việc áp dụng
các kiến thức thuộc học phần cơ học và nhiệt học để giải thích các hiện tượng vật lí
thường gặp sẽ làm tăng tính hấp dẫn của môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn
các kiến thức đã học và rèn luyện kĩ năng vận dụng. Quan trọng hơn là nó từng
bước tạo cho học sinh một trực giác nhạy bén quan sát và giải thích các hiện tượng
vật lí. Có hiểu biết những hiện tượng đó, học sinh mới có thể nhận thức đúng đắn
về tự nhiên và những việc làm của mình.
Marie Curie đã từng nói: “Cuộc sống không có gì khiến ta phải sợ hãi
Cuộc sống chỉ là để ta tìm hiểu và khám phá”
Thật vậy! Tri thức là vô cùng rộng lớn với nhiều vấn đề đòi hỏi con người
phải tìm hiểu, khám phá và giải đáp. Vì vậy việc cần làm của chúng ta là áp dụng
các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề cơ bản là rất cần thiết. Dân gian ta có
câu tục ngữ: “Học đi đôi với hành” nêu lên tầm quan trọng của việc kết hợp học tập
giữa lý thuyết và vận dụng chúng. Học vật lí đồng thời dùng chính lý thuyết mình
học được để giải thích các hiện tượng thú vị trong cuộc sống hàng ngày là một
công việc có ý nghĩa thiết thực.
Tuy nhiên, trong các bài giảng của giáo viên vật lí phổ thông thường thiếu phần
vận dụng giải thích các hiện tượng thường gặp trong cuộc sống hàng ngày nên học
sinh học vật lí không biết để làm gì, dẫn đến sự nhàm chán…
4
Hơn thế nữa, các cuộc thi Olympic vật lí sinh viên được tổ chức hàng năm,
trong đề thi, bài tập giải thích các hiện tượng vật lí (bài tập định tính) chiếm một
lực tác dụng
F
ur
và tỉ lệ nghịch với khối lượng của chất điểm ấy.
F
a
m
=
ur
r
hay
F ma
=
r
r
(1.1)
Trong đó:
a
r
là vectơ gia tốc chuyển động của chất điểm.
m là khối lượng của chất điểm.
Phương trình (1.1) là phương trình cơ bản của cơ học chất điểm.
c) Định luật thứ ba của Newton
Khi chất điểm A tác dụng lên chất điểm B một lực
F
AB
r
3
mM
F G r
r
= −
r
r
(1.3)
Trong đó:
11 2 2
6,67.10 /G Nm kg
−
=
gọi là hằng số hấp dẫn.
1.1.3. Định luật bảo toàn động lượng
Tổng động lượng của một hệ cô lập là một đại lượng bảo toàn.
K const
=
uur uuuuur
hay
1 1 2 2
n n i i
i
m v m v m v m v const
+ + + = =
∑
7
Ta thấy rằng công A của chất điểm dịch chuyển trong trọng trường chỉ phụ thuộc
vào vị trí điểm đầu và điểm cuối, do vậy trọng trường đều là một trường lực thế.
+) Định luật bảo toàn cơ năng:
Đối với chất điểm khối lượng m chuyển động trong trọng trường đều thì cơ năng
được bảo toàn.
2
2
mv
W mgh const
= + =
(1.7)
1.1.5. Lực ma sát
Trong thực tế, ở chỗ tiếp xúc giữa hai vật ngoài các lực liên kết còn xuất hiện lực
ma sát.
a) Lực ma sát trượt (hay lực ma sát động)
Khi hai mặt tiếp xúc dịch chuyển tương đối đối với nhau thì xuất hiện lực ma sát
trượt (hay lực ma sát động).
Ta có thể giải thích lực ma sát động một cách đơn giản như sau : sở dĩ lực ma sát
động có giá trị nhỏ hơn f
ms
là vì khi hai mặt trượt trên nhau, độ ghồ ghề của chúng
giảm đi. Thực vậy, khi chưa trượt, các điểm tiếp xúc giữa hai mặt được coi như bị
hàn lạnh nên dính hai mặt với nhau. Một khi các mặt trượt trên nhau, các vết hàn li
ti đó bị phá vỡ ra, ma sát đó giảm đi.
b) Lực ma sát lăn
Khi một vật lăn trên mặt một vật khác thì xuất hiện lực ma sát lăn. Thực nghiệm
cho thấy rằng, với cùng một áp lực thì lực ma sát lăn nhỏ hơn lực ma sát trượt hàng
chục lần.
V
.
+) Nội dung định luật Achimede:
Lực đẩy hướng từ dưới lên trên có trị bằng trọng lượng của khối chất lưu mà thể
tích bằng phần thể tích vật rắn ngâm trong chất lưu.
1.2. Các kiến thức thuộc học phần nhiệt học
1.2.1. Các định luật thực nghiệm về khí ở áp suất thông thường
a) Định luật Bôilơ – Mariôt: Ở nhiệt độ không đổi, tích của áp suất p và thể tích V
của một lượng khí xác định là một hằng số.
pV = const (1.9)
b) Định luật Saclơ: Đối với một lượng khí đã cho, khi giữ nguyên thể tích thì áp
suất của khí biến thiên theo hàm bậc nhất đối với nhiệt độ.
)1(
0
tpp
t
γ
+=
(1.10)
c) Định luật Gay Luyxac: Độ biến thiên tương đối của thể tích của lượng khí đã cho
tỉ lệ thuận với biến thiên nhiệt độ khi áp suất không đổi.
const
V
T
=
hay
)1(
0
+… (1.12)
Trong đó:
p
1
, p
2
,
p
3
,
…là các áp suất riêng phần của mỗi chất khí trong hỗn hợp
p là áp suất chung của cả hỗn hợp khí.
Chú ý: Các định luật Bôilơ – Mariôt và Gay Luyxac chỉ đúng khi chất khí ở nhiệt
độ vá áp suất thông thường của phòng thí nghiệm. Khi áp suất của khối khí quá lớn
hay nhiệt độ của khối khí quá thấp thì các chất khí không tuân theo các định luật đó
nữa.
1.2.2. Các khái niệm về công, nhiệt lượng và nội năng
a) Công: Trong quá trình biến đổi trạng thái, hệ sẽ trao đổi công với môi trường
bên ngoài. Quy ước hệ nhận công thì công âm và hệ sinh công thì công dương.
Biểu thức tính công trong NĐLH:
pdVδA
=
(1.13)
b) Nhiệt lượng
Các phân tử trong một vật chuyển động hỗn loạn càng nhanh, thì động năng trung
bình của các phân tử càng lớn, vật càng nóng, tức là nhiệt độ càng cao.
Phần năng lượng mà vật nhận được hay mất đi trong quá trình truyền nhiệt được
Q
c Q mc t t
m t t
= ⇒ = −
−
(1.16)
- Nhiệt dung mol (nhiệt dung phân tử)
Nếu lấy khối lượng của hệ là 1 mol của chất cấu tạo nên hệ thì ta có nhiệt dung
mol:
2 1
( )
Q
C C c
n t t
µ µ
µ
= ⇒ =
−
(1.17)
e) Nhiệt biến đổi trạng thái
Có những trường hợp hệ trao đổi nhiệt với vật khác hay với môi trường mà nhiệt
độ của nó không đổi.
Sự biến đổi trạng thái của chất là sự chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác
của chất. Trong quá trình biến đổi trạng thái, nhiệt độ của hệ không đổi mặc dù hệ
vẫn nhận hay tỏa nhiệt. Nhiệt lượng trao đổi trong quá trình biến đổi trạng thái
được gọi là nhiệt biến đổi trạng thái.
m.LQ
=
(1.20)
Đối với một quá trình nguyên tố, định luật thứ nhất của NĐLH được viết:
dU Q A Q dU A
= δ −δ ⇔ δ = + δ
(1.21)
d) Định luật thứ nhất – trường hợp riêng của định luật bảo toàn năng lượng.
Ta có thể coi định luật thứ nhất của NĐLH như sự vận dụng định luật bảo toàn
năng lượng cho nội năng của hệ và cho các quá trình có thực hiện công và truyền
nhiệt.
1.2.4. Phát biểu nguyên lí hai của nhiệt động lực học của Thomson và Clausiuts
+) Phát biểu của Thomson:
“Không thể biến được toàn bộ nhiệt thành công mà không để lại dấu vết gì ở môi
trường xung quanh”
Nói cách khác:
“Không thể chế tạo động cơ vĩnh cửu loại hai”
+) Phát biểu của Claudiut:
“Nhiệt không thể truyền từ vật lạnh sang vật nóng hơn mà không để lại dấu vết gì
cho môi trường xung quanh”.
Nói cách khác:
“Nhiệt không tự động truyền từ lạnh sang nóng”.
+) Sự tương đương giữa 2 cách phát biểu định luật thứ hai của NĐLH.
Để chứng minh sự tương đương giữa hai cách phát biểu, phải chứng minh hai mệnh
đề sau:
12
Mệnh đề 1: Nếu Thomson sai thì Claudiut sai.
Mệnh đề 2: Nếu Claudiut sai thì Thomson sai.
1.2.5. Thuyết động học phân tử
- Tất cả các vật đều cấu tạo bởi các nguyên tử và phân tử.
- Các phân tử và nguyên tử luôn luôn chuyển động (gọi là chuyển động nhiệt).
khái niệm, định luật vật lí thì rất đơn giản, còn biểu hiện của chúng trong tự nhiên
thì rất phức tạp bởi vì các hiện tượng có thể chi phối bởi nhiều định luật, nhiều
nguyên nhân đồng thời hay liên tiếp chồng chéo lên nhau. Bài tập sẽ giúp luyện tập
cho học sinh phân tích để nhận biết được những trường hợp phức tạp đó.
Bài tập vật lí là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động. Khi giải bài
tập, học sinh phải nhớ lại kiến thức đã học, có khi phải sử dụng tổng hợp những
kiến thức thuộc nhiều chương, nhiều phần của chương trình.
2.1.2. Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn dắt những kiến thức mới
Ở những lớp trên của bậc trung học phổ thông, với trình độ toán học đã khá
phát triển, nhiều khi các bài tập được sử dụng khéo léo có thể dẫn học sinh tới
những suy nghĩ về một hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra. Ví dụ, trong khi vận
dụng định luật thứ hai của Newton để giải bài toán hai vật tương tác, có thể thấy
một đại lượng không đổi là động lượng của hai vật tương tác. Kết quả của việc giải
14
bài tập đó dẫn đến việc cần thiết phải xây dựng khái niệm động lượng và định luật
bảo toàn động lượng.
2.1.3. Giải bài tập vật lí rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn,
rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát.
Bài tập vật lí là một trong những phương tiện rất quý báu để rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến
thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Có thể xây
dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn, trong đó yêu cầu học sinh phải vận
dụng kiến thức lí thuyết để giải thích các hiện tượng thực tiễn hoặc dự đoán các
hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn ở những điều kiện cho trước.Theo
M.A.Đanilov: “Kiến thức sẽ được nắm vững thật sự, nếu học sinh có thể vận dụng
thành thạo chúng hoàn thành vào những bài tập lí thuyết hay thực hành”.
2.1.4. Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh
Trong khi làm bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đề bài, tự
xây dựng những lập luận. Kiểm tra và phê bình những kết luận mà học sinh rút ra
được nên tư duy của học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí, ở đây ta phân loại bài tập vật lí theo
phương tiện giải và mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh.
2.2.1. Dựa vào phương tiện giải
● Dạng 1: Bài tập định tính
Bài tập định tính là những bài tập khi giải chỉ cần làm những phép tính đơn
giản, có thể tính nhẩm, yêu cầu giải thích hoặc dự đoán một hiện tượng xảy ra trong
những điều kiện xác định.
Bài tập định tính giúp hiểu rõ bản chất của các hiện tượng vật lí và những quy luật
của chúng, áp dụng những tri thức lý thuyết vào thực tiễn. Bài tập định tính có rất
nhiều ưu điểm vè mặt phương pháp học. Nhờ đưa được lý thuyết vừa học lại gần
16
với đời sống xung quanh, các bài tập này làm tăng thêm ở học sinh hứng thú với
môn học, tạo điều kiẹn phát triển óc quan sát của học sinh.
Đối với loại bài tập định tính, việc xác lập lời giải thường gây cho học sinh nhiều
khó khăn vì nó đòi hỏi phải lập luận một cách lôgic, có căn cứ đầy đủ và xác đáng
về mặt kiến thức. Thực tế giảng dạy cho thấy, do ít được vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, ít được tiếp cận với các dạng bài tập định tính trong quá trình học tập,
nên đứng trước những bài tập định tính, học sinh thường có xu hướng đưa ra những
lời giải đáp không thỏa đáng, hời hợt, thậm chí không chính xác, nhiều học sinh đã
thu gọn toàn bộ những lập luận cần thiết vào một cái tên gọi của khái niệm, của
định luật hay của một hiện tượng vật lí nào đó. Chẳng hạn, với câu hỏi: “Tại sao
người ngồi trên xe ô tô đang chuyển động có xu hướng bị ngã xô tới phía trước nếu
xe dừng lại đột ngột?” Câu trả lời theo kiểu mượn tên của khái niệm như “Sở dĩ
người ngồi trên xe có xu hướng bị ngã xô tới phía trước nếu xe dừng lại đột ngột là
do người đó có quán tính” là không thể chấp nhận được.
Để giải bài tập định tính, có khi học sinh chỉ cần áp dụng một định luật, một quy
tắc hay một phép suy luận lôgíc là có thể giải quyết được (như loạibài tập định
tínhđơn giản); cũng có khi học sinh phải áp dụng một chuỗi các phép suy luận lôgíc
dựa trên cơ sở của các định luật, quy tắc có liên quan mới có thể giải quyết được
(như loại với cácbài tập định tínhtổng hợp); thậm chí có khi học sinh phải dựa vào
những thí nghiệm đòi hỏi học sinh phải tới phòng thí nghiệm vật lí của trường phổ
thông để thực hiện, nhưng dù sao thì vẫn là những thí nghiệm đơn giản. Bài tập thí
nghiệm cũng có thể có dạng định tính và định lượng. Bài tập thí nghiệm có nhiều
tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc
biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn.
2.2.2. Dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh
● Dạng 1: Bài tập cơ bản, áp dụng
18
Là những bài cơ bản, đơn giản đề cập tới một hiện tượng, một định luật vật lí
hay sử dụng vài phép tính đơn giản giúp học sinh củng cố kiến thức vừa học, tìm
hiểu các ý nghĩa định luật và nắm vững các công thức các bài tập vật lí để giải các
bài tập phức tạp hơn.
● Dạng 2: Bài tập tổng hợp và nâng cao
Là những bài tập khi giải cần vận dụng nhiều kiến thức, định luật, sử dụng kết
hợp nhiều công thức. Loại bài tập này có tác dụng giúp học sinh đào sâu, mở rộng
kiến thức, thấy đực mối liên hệ giữa các phần của chương trình vật lí và biết phân
tích những hiện tượng phức tạp trong thực tế thành những thành phần đơn giản theo
một định luật vật lí xác định. Loại bài tập này cũng nhằm mục đích giúp học sinh
hiểu rõ nội dung vật lí của các định luật, quy tắc biểu hiện dưới dạng công thức.
2.3. Phương pháp chung giải bài tập vật lí
Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo
đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết. Nó không những giúp
học sinh nắm vững kiến thức mà còn giúp học sinh rèn luyện kỹ năng suy luận
logic, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch. Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên
phương pháp giải cũng rất phong phú. Tuy nhiên có thể vạch ra một dàn bài chung
gồm các bước chính như sau:
2.3.1. Tìm hiểu đầu bài
Bước này bao gồm việc xác định ý nghĩa vật lí của các thuật ngữ, phân biệt
đâu là ẩn số, đâu là dữ kiện. Trong rất nhiều trường hợp, ngôn ngữ trong đầu bài
không hoàn toàn trùng với ngôn ngữ dùng trong lời phát biểu các định nghĩa, các
luận này cũng là một cách để kiểm tra sự đúng đắn của quá trình lập luận. Đôi khi
nhờ sự biện luận này mà học sinh có thể tự phát hiện ra những sai lầm của quá trình
lập luận, sự vô lý của kết quả thu được.
20
2.4. Xây dựng lập luận trong giải bài tập định tính
Bài tập định tính là những bài tập khi giải học sinh không cần phải thực hiện
các phép tính phức tạp hay chỉ làm những phép tính đơn giản có thể nhẩm được.
Muốn giải được những bài tập này học sinh phải thực hiện những phép suy luận
logic, do đó phải hiểu rõ được bản chất của các khái niệm, các định luật vật lí và
nhận biết được cái biểu hiện của chúng. Bài tập định tính có hai dạng: giải thích
hiện tượng và dự đoán hiện tượng.
2.4.1. Bài tập giải thích hiện tượng
Giải thích hiện tượng thực chất là cho biết hiện tượng và giải thích xem vì sao
hiện tượng đó lại xảy ra như thế. Nói cách khác là biết hiện tượng và giải thích
nguyên nhân của nó. Nguyên nhân đó là những đặc tính, những định luật vật lí. Bài
tập giải thích hiện tượng là những suy luận logic, là bài tập tư duy tốt với học sinh.
Ngôn ngữ dùng trong lời phát biểu các định nghĩa, các định luật vật lí nhiều khi lại
không phù hợp với ngôn ngữ thông thường dùng để mô tả hiện tượng. Vì vậy cần
mô tả hiện tượng theo ngôn ngữ vật lí, phân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện
tượng đơn giản.
2.4.2. Bài tập dự đoán hiện tượng
Bài tập dự đoán hiện tượng là căn cứ vào điều kiện cụ thể của đầu bài, xây
dựng các định luật chi phối hiện tượng và dự đoán hiện tượng gì xảy ra và xảy ra
như thế nào. Như vậy là ta đã biết những điều kiện cụ thể để tìm ra quy luật chung
chi phối hiện tượng và rút ra kết luận.
2.4.3. Các bước giải bài tập định tính
a) Tìm hiểu đề bài
Trong nhiều trường hợp, ngôn ngữ dùng trong đề bài không hoàn toàn trùng với
ngôn ngữ dùng trong lời phát biểu của các định nghĩa, định luật, các quy tắc vật lí
thì phải chuyển chúng sang ngôn ngữ vật lí tương ứng để thấy rõ được mối liên
đó cơ sở kiến thức phải là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí có
22
tính tổng quát áp dụng vào điều kiện cụ thể của đề bài mà kết quả cuối cùng chính
là hiện tượng đã được nêu ra trong đề bài.
Những hiện tượng thực tế thường rất phức tạp, trong khi đó các định luật vật lí lại
khá đơn giản, nên thoạt nhìn thì khó có thể phát hiện ngay được mối quan hệ giữa
hiện tượng đã cho với những định luật vật lí đã biết. Trong những trường hợp như
thế, cần phân tích hiện tượng phức tạp ra các hiện tượng đơn giản, sao cho mỗi hiện
tượng đơn giản chỉ tuân theo một định luật hay một quy tắc nhất định.
Thực tế cho thấy, khi giải thích hiện tượng, vì trong đề bài đã nêu rõ hiện tượng và
kết quả của hiện tượng, nên nhiều khi trong lời giải thích có chỗ bị sai mà không
xác định được mình sai ở điểm nào. Nên hết sức thận trọng khi phát biểu các định
luật, các quy tắc dùng làm cơ sở cho lập luận, việc phát biểu đầy đủ, chính xác về
nội dung có tác dụng tránh được những sai sót trong lời giải thích hiện tượng.
- Đối với bài tập dự đoán hiện tượng: Dạng bài tập này yêu cầu phải dựa vào những
điều kiện cụ thể đã cho ở đề bài, tìm những định luật chi phối hiện tượng và dự
đoán được hiện tượng sẽ diễn ra cũng như quá trình diễn ra hiện tượng đó.
Đối với loại câu hỏi dự đoán hiện tượng, trước hết cần phải “khoanh vùng” kiến
thức bằng cách căn cứ vào những dấu hiệu ban đầu (các dụng cụ thí nghiệm, dạng
đồ thị, cấu tạo vật thể, trạng thái ban đầu của hệ ) để liên tưởng, phán đoán chúng
có thể liên quan đến những quy tắc nào, định luật vật lí nào đã biết. Kết quả của
việc “khoanh vùng” ban đầu là hết sức quan trọng bởi lẽ nếu “khoanh vùng” quá
rộng thì quá trình giải sẽ càng thêm phức tạp, còn nếu sai lầm ở khâu này thì chắc
chắn sẽ dẫn đến những dự đoán sai về bản chất của hiện tượng.
Với các trường hợp có quá trình diễn biến phức tạp, cần phân tích rõ các giai đoạn
diễn biến của cả quá trình, phải tìm được mối liên hệ gắn kết giữa các quy tắc, định
luật vật lí với mỗi giai đoạn diễn biến tương ứng. Cuối cùng, từ những phân tích về
diễn biến của quá trình và việc vận dụng các kiến thức vật lí liên quan đã tìm được
cho phép ta có thể dự đoán hiện tượng một cách chính xác.
d) Biện luận