BÁO CÁO THỰC TẬP-KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH YẾU Ở PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT - Pdf 27

A. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài
Phương pháp dạy học (PPDH) là gì? PPDH là hoạt động dạy của Thầy và học của
Trò trong sự phối hợp thống nhất, đồng thời có sự kết hợp của phương tiện dạy học và
hình thức tổ chức hoạt động của học sinh. Trên cơ sở nắm vững nội dung, giáo viên có
thể vận dụng linh hoạt các phương pháp một cách một cách nhuẫn nhuyễn để kích
thích mọi hoạt động của học sinh.
Quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học: Đổi mới PPDH là đưa các PPDH mới
vào nhà trường trên cơ sở kế thừa và phát huy mặt tích cực của các phương pháp
truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo, góp phần đáp
ứng những yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục và đào tạo.
Vậy đổi mới phương pháp dạy học sinh yếu phân môn Tiếng Việt là đưa các PPDH
mới vào dạy học trên cơ sở kế thừa và phát huy mặt tích cực của các phương pháp
truyền thống để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học sinh yếu kém, giúp các em học
tập có hiệu quả nắm bắt được kiến thức, kĩ năng kịp với chương trình, mục tiêu từng
cấp học.
Trong khi học phân môn Tiếng Việt có rất nhiều em không có tiến bộ và trở thành
học sinh yếu kém. Nguyên do có thể là do học sinh không có ham thích trong học tập.
Có thể do các em bị mất kiến thức và không theo kịp bài, dẫn đến càng học càng
không biết gì. Một khi đã bị mất kiến thức dẫn đến không hiểu bài thì học sinh không
có hứng thú học tập, sẽ không có khả năng học tập tốt và trở thành học sinh yếu kém.
Giúp đỡ cho học sinh yếu phân môn Tiếng Việt là giáo viên phải bổ xung được
những “lỗ hổng” kiến thức cho học sinh (chủ yếu là những kiến thức có trong sách
giáo khoa) để giành lại kiến thức mà các em chưa còn thiếu theo chương trình. Từ đó
học sinh có thể hòa nhập theo kịp với các bạn trong tiết học đang diễn ra trên lớp.
Giúp đỡ học sinh yếu kém học tập có tiến bộ hơn là giáo viên phải tạo được sự
hứng thú học tập ở các em.
1
TÊN SÁNG KIẾN: ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH YẾU Ở PHÂN MÔN
TIẾNG VIỆT.
NGƯỜI VIẾT: NGUYỄN HỒNG HÀ

sinh không đủ tiêu chuẩn lên lớp”. Việc dạy thật, thi thật, không chạy theo thành tích
2
thực hiện không đúng cách đã đẩy cho nhiều học sinh yếu phải bỏ học. Cũng là yếu tố
thúc đẩy chúng ta cần tạo ra một trường học không có học sinh yếu kém.
Qua những lý do trên tôi thấy việc Đổi mới phương pháp trong việc dạy học sinh
yếu kém phân môn Tiếng Việt trong nhà trường là điều nên bàn và nên làm nhất trong
tình hình hiện nay.
B : PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận :
+ Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học :
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học tâm sinh lý các em chưa ổn định, đang hình thành và
phát triển. Nên trong sự học tập, làm việc hàng ngày các em sẽ ít tập trung chú ý, nhất
là học tập phân môn Tiếng Việt với những bài tập làm văn khả năng dùng từ, diễn ý
chưa được tốt. Ở các em ý thức học tập chưa có, chưa hiểu rõ mục đích của việc học.
Các em đi học phần lớn là do sự bắt buộc của gia đình, chỉ một phần nhỏ là ham thích
đi học (vì đi học được cô khen, được điểm 10, được chơi cùng bạn vv…). Do đó ý thức
tự giác học tập của các em chưa có (với những em đi học vì sự bắt buộc của gia đình)
nên các em thiếu sự cần cù, sự cố gắng vượt qua khó khăn để học tập dễ sinh ra lười
biếng, ham chơi và dẫn đến học yếu, chán học và bỏ học…
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học tính tò mò phát triển, các em thường ham thích cái
mới, cái lạ. Dễ nhàm chán trong các hoạt động kéo dài, không thay đổi hình thức. Nếu
chúng ta những người làm công tác giáo dục biết quan tâm tạo sự ham thích cho các
em trong học tập, trong các hoạt động ở trường, lớp thì mới có động lực thúc đẩy việc
học, nâng cao được khả năng tiếp thu, và thực hành các kĩ năng, kĩ xảo mà chúng ta
cung cấp cho các em. Từ đó các em học tập có tiến bộ.
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học tâm sinh lý các em rất hiếu động, hay bắt chước, dễ
thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường, lớp. Đây là điều kiện tốt để giáo viên tạo
sự hứng thú cho các em. Nếu hàng ngày khi đến trường các em được thầy cô ân cần
chỉ bảo. Trong các tiết học Tiếng Việt các em được hoạt động nhóm, được thảo luận,

1. Mục đích :
- Nhằm đánh giá lại chất lượng giảng dạy học sinh yếu kém ở các trường tiểu học
trong những năm qua và hiện nay.
4
- Tìm ra những nguyên nhân tại sao việc hiện nay ở các trường còn có rất nhiều
học sinh yếu kém, và hiện tượng học sinh bỏ học vì học yếu vẫn còn.
- Đánh giá lại kết quả của việc cải tiến và đổi mới phương pháp phụ đạo giúp đỡ
học sinh yếu kém trong những năm gần đây. Việc phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém
có tác dụng như thế nào trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường.
- Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp giúp đỡ học sinh yếu
kém học tập có tiến bộ hơn, giúp học sinh ham thích học tập. Nhằm nâng cao chất
lượng học tập của học sinh hơn nữa.
2. Phương pháp :
+ Phương pháp lấy tư liệu :
Trong quá trình nghiên cứu cần rất nhiều ý kiến, thông tin, tư liệu. Các ý kiến từ
giáo viên giáo viên chủ nhiệm, hiệu trưởng, phụ huynh học sinh vv…Trong quá trình
làm công tác giảng dạy nhiều năm đã đúc kết được một số kinh nghiệm từ đồng nghiệp
là nền tảng giúp tôi nghiên cứu đề tài này.
+ Phương pháp học mà chơi, chơi mà học :
Đây là phương pháp giúp học sinh tham gia nhiều vào các hoạt động nhóm và tập
thể, giúp các em có hứng thú trong học tập, từ đó bớt rụt rè, e thẹn và có thêm tự tin.
+ Phương pháp đàm thoại :
Đây là phương pháp nhằm tiếp thu ý kiến của phụ huynh, học sinh, của giáo viên
chủ nhiệm. Đối với học sinh khi chúng ta trò chuyện trực tiếp với các em tạo cho các
em sự gần gũi, thương yêu, Từ đó các em nói lên tâm tư tình cảm của mình về sự học
tập, từ đó hiểu được nguyên nhân vì sao các em học yếu. Sàng lọc học sinh thành
nhiều cấp độ nhận thức và nắm bắt được cụ thể các học sinh yếu kém.
+ Phương pháp xử lý thông tin :
Hàng ngày tôi kịp thời xử lý các thông tin, kết quả thu thập được trong quá trình
nghiên cứu nhằm loại bỏ các biện pháp không thích hợp, đi sâu các biện pháp có tác

học sinh học tập tốt tiếp thu những kiến thức trong học tập và muốn như vậy thì học
sinh không thể là học sinh yếu kém.
6
+ Có phải chăng ở các trường tiểu học trường nào càng tổ chức nhiều phong trào,
những cuộc thi, vui chơi khi đó các em được tiếp xúc nhiều với môi trường sinh hoạt
tập thể, Giáo viên biết đổi mới hình thức, phương pháp dạy học, tỏ thái độ quan tâm,
gần gũi, thân thiện với học sinh thì học sinh trường đó ham thích đến trường hơn, học
tập tích cực hơn và việc học sinh bỏ học giữa chừng do học yếu kém sẽ không có?
+ Có phải hiện nay đa số phụ huynh đều quan tâm đến sự phát triển toàn diện của
con em mình, luôn mong muốn con em mình hơn người, muốn con mình là học sinh
giỏi, khá nhưng làm thế nào để phát huy hết khả năng của con em họ? Đặc biệt là làm
sao cho con em mình không phải là học sinh yếu kém thì chưa có kinh nghiệm! Do đó
người làm công tác giáo dục cần biết truyền đạt kinh nghiệm đến cho phụ huynh để
cùng nhau phối hợp phát huy tối đa chất lượng giáo dục. Và có phải đó là phương
pháp chia sẽ gánh nặng giáo dục của nhà trường cho phụ huynh, nhằm thực hiện tốt
chủ trương “xã hội hoá giáo dục” tất cả vì tương lai con em chúng ta?
Có phải việc học sinh học yếu kém phân môn Tiếng Việt là do những nguyên nhân
sau:
+ Do trường chưa ra trường, lớp chưa ra lớp, lớp không đủ ánh sáng, nóng bức, bàn
ghế không thích hợp, nhà vệ sinh hôi thối hoặc không có. Sân trường không sạch sẽ,
mưa sình lầy đọng nước, nắng bụi bay mất vệ sinh…Trường thiếu cây xanh, bóng mát,
thiếu chỗ học sinh vui chơi.
+ Do giáo viên ứng xử không sư phạm: Còn mắng chửi, đánh đập, dùng hình phạt
mà thiếu sự động viên khích lệ học sinh. Giáo viên chưa chăm lo đến học sinh yếu
kém, còn để các em bên lề lớp học
+ Do học sinh mất căn bản về kiên thức nên lên lớp không hiểu bài, giáo viên
không giảng dạy kiến thức vừa sức với các em, để các em yếu bên ngoài giờ học.
+ Do hình thức, phương pháp dạy học của giáo viên không đổi mới. Giáo viên vẫn
dạy theo cách xưa kia thầy nói, trò nghe và ghi chép. Chỉ có tiết hội giảng, dự giờ mới
có đồ dùng dạy học, mới có học nhóm, trò chơi, dạy máy…

hợp lí, sáng tạo để dạy học sinh
yếu, không gây được hứng thú
học tập ở học sinh.
Chọn nguyên nhân thứ tư để can
thiệp.
Bước 2 : Thiết kế
giải pháp thay thế.
Từ 01/10/2011 đến
20/10/2011
- Phương pháp dạy học bằng
tình thương ;
- Phương pháp giúp học sinh
yếu học tích cực ;
- Phương pháp giao việc cho
cho học sinh yếu kém ;
- Phương pháp dạy học sinh
yếu theo nhóm đối tượng ;
- Phương pháp giảm độ khó
của câu hỏi phù hợp với học
Đưa ra các phương pháp trên
cho giáo viên thực hành
8
sinh yếu ;
- Phương pháp dạy theo trình
độ của học sinh ;
- Phương pháp tổ chức hoạt
động ngoài giờ lên lớp ;
- Phương pháp thư giản (vui
chơi) trong các tiết học.
Từ 21/10/2011 đến

-Rút ra bài học kinh nghiệm.
Và viết đề tài.
Tác giả
CHƯƠNG III : THỰC NGHIỆM NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng và những mâu thuẫn:
Trường tiểu học Kim Đồng cũng như một phần lớn các trường trong huyện
Xuyên Mộc, là trường thuộc vùng nông thôn, dân trí còn thấp, số hộ nghèo còn nhiều,
nhiều người dân còn mù chữ, học sinh dân tộc ít người lại đông chiếm 10% số học
sinh toàn trường. Trong cuộc sống hàng ngày các em còn phải phụ giúp cha mẹ công
việc gia đình, đi nương, rẫy…. Trình độ học sinh trong một lớp không đồng đều : Số
9
em giỏi thì rất ít, em yếu thì nhiều. Việc giáo dục con cái phụ huynh thường khoán
trắng cho nhà trường. Hoặc là giáo dục không đúng phương pháp làm ảnh hưởng
nhiều đến cách học của các em. Trong nhiều năm qua có rất nhiều em trong trường
học yếu kém phân môn Tiếng Việt mà giáo viên cũng chưa có một phương pháp đúng
để dạy các em. Nên tình trạng học sinh yếu phân Môn Tiếng Việt vẫn tồn tại nhiều. Do
học yếu kém nên các em không thích đến trường, tới lớp (các em đi học vì sự bắt buộc
của gia đình, vì sợ bố mẹ cho ăn đòn nhiều hơn tự nguyện đến trường). Nhiều em rất
run sợ khi gặp thầy cô, thụ động trong giờ học, thiếu sự ham học, làm cho các em
không phát huy hết được khả năng học tập của mình.
Việc phụ đạo giúp đỡ học sinh yếu kém trong phân môn Tiếng Việt tuy đã được
giáo viên và nhà trường quan tâm nhưng sự tiến bộ của các em vẫn chưa cao. Trong
giảng dạy giáo viên chi tập trung giảng dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng. Dạy chung
cho cả lớp chưa có thời gian giúp đỡ học sinh yếu Tiếng Việt. Còn để học sinh yếu bên
lề lớp học, làm cho học sinh yếu càng yếu hơn.
Cơ sở vật chất nhà trường đã được bảo đảm chuẩn nhà trường, chưa có đầy đủ đồ
dùng dạy học. Việc sử dụng đồ dùng chưa thật sự có hiệu quả. Giáo viên còn lo kinh tế
gia đình thiếu thời gian chăm lo đến dạy học sinh yếu.
2. Các biện pháp giải quyết vấn đề :
Hiện nay việc học sinh học yếu phân môn Tiếng Việt yếu ở các trường rất nhiều,

sự học hành của con cái. Phó mặc mọi việc cho nhà trường. Dẫn đến các em không có
ý thức tự giác trong học tập.
- Do trong gia đình có sự thay đổi lớn như: bố mẹ li dị, hay cãi vã đánh nhau, gia
đình tan vỡ vv… Làm cho trẻ bị thay đổi về tâm lí dẫn đến chán học…
- Một số cha mẹ quá nuông chìu con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học sinh lười
học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi hay đi du lịch ) cha mẹ cũng đồng ý cho
phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần căn
bản và rồi yếu kém!
- Một số nguyên nhân khác…
Qua đó ta thấy nguyên nhân làm cho học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt rất đa
dạng. Nên việc giúp đỡ cho học sinh yếu kếm học tốt hơn cũng rất đa dạng và đầy khó
khăn…
11
Để đổi mới phương pháp dạy học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt thì việc đầu
tiên nhà trường luôn quan tâm đến việc tạo sự hứng thú cho học sinh trong học tập, tạo
sự ham thích trong học tập, ham thích được đi đến trường.
Và trong việc giúp đỡ học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt học tập có kết quả
giáo viên cần chú ý những phương pháp, biện pháp sau:
2.1 Xác định nguyên nhân, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém:
Ngay từ đầu năm học giáo viên phải thống kê được số lượng học sinh yếu kém và
có nguy cơ trở thành học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt ở lớp mình. Phải tìm ra
những nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém đó ở học sinh. Phân loại học sinh yếu kém
theo những nguyên nhân chủ yếu và có kế hoạch giúp đỡ thích hợp với từng loại. VD:
Học sinh yếu kém vì mất kiến thức căn bản từ lớp dưới… học sinh yếu kém vì ham
chơi với bạn xấu, ham chơi game… học sinh học yếu vì hoàn cảnh gia đình.
Từ đó giáo viên có kế hoạch giảng dạy thích hợp, giải quyết sự yếu kém của học
sinh từ những nguyên nhân trên. VD: Học sinh yếu vì mất kiến thức từ lớp dưới thì tổ
chức phụ đạo cho các em lấy lại kiến thức, học sinh yếu vì ham chơi thì giáo viên và
gia đình quản lí các em tốt hơn, tổ chức các hình thức dạy học sinh động để các em
ham thích học tập… học sinh học yếu vì hoàn cảnh gia đình thì giáo viên phối hợp với

câu truyện vui kể cho các em, hay pha một vài câu hài hước để học sinh cảm thấy
thoải mái Một tiết học mà học sinh hoạt động vui vẻ, có tiếng cười sẽ có hiệu quả
hơn những tiết học mà học sinh quá nghiêm túc.
Để các em yếu mạnh dạn hơn thì giáo viên phải biết yêu thương, gần gũi, tạo sự
thân tình để các em hòa đồng vào môi trường học tập ở trường lớp. Để từ đó các em có
ấn tượng tốt với trường lớp, thầy cô mà ham thích học tập.
Giáo viên phải biết gần gũi tâm sự, với trò chuyện với những học sinh yếu đặc biệt
những em nhút nhát. Hỏi các em về chuyện gia đình, về chuyện học hành, để các em
cảm thấy thân thiện với giáo viên hơn và qua đó giáo viên sẽ hiểu được nguyên nhân
vì sao các em học yếu, hiểu về tâm tư tình cảm, hoàn cảnh các em để có biện pháp dục
tốt hơn.
Ví dụ : Nhà em ở đâu? Bố mẹ làm gì ? Hôm nay ai chở em đi học? Hôm nay em có
hiểu bài không? Có cần cô giúp gì không vv
13
- Nhiều khi chỉ một câu nói, một cử chỉ của thầy cô mà thay đổi cả cuộc đời các
em. Làm cho các em thấy thầy cô luôn quan tâm đến mình, không ghét bỏ mình và các
em thêm gần gũi, yêu mến thầy cô, tự tin vào bản thân mình (Như một lời khen hay
một lời khuyến kích, động viên, một cử chỉ thân mật). Đối với những em còn thiếu tự
tin thì giáo viên nên tìm lấy một ưu điểm nào đó của các em để khen ngợi động viên.
Hãy luôn khen học sinh, cố tìm ưu điểm dù nhỏ nhất để khen.
Ví dụ : Như “Bài Tập làm văn của em hôm nay chữ viết đã tiến bộ nhiều! Cần cố
gắng hơn nữa!”. Hay “ Chà hôm nay bài từ ngữ em đã trình bày rất tốt”. “Hôm nay
em đọc bài í vấp hơn tuần trước rồi đó” Vừa tạo cho các em sự cố gắng, nhưng lại
tạo cho các em có thêm một chút tự tin vào bản thân mình. Từ đó các em không còn ác
cảm với trường lớp, thầy cô, với việc học hành.
Ngoài ra cuối học kì cần phải tổ chức khen thưởng cho các em học yếu mà học tập
có tiến bộ. Nhằm động viên các em có thêm hứng thú trong học tập, tránh tình trạng
chỉ khen thưởng cho học sinh khá, giỏi
2.3 Phương pháp giúp học sinh yếu học tích cực ;
Chúng ta luôn biết học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt trước lớp hay rụt rè

Nhưng khi kêu một số em giỏi khá tìm từ trước và kêu những em yếu lên sau thì gần
như tất cả các em đều tìm và trả lời được.
2.4 Phương pháp giao việc cho học sinh yếu kém.
Để học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt học tập có kết quả chúng ta cần cho học
sinh thấy các em luôn được thầy cô tin tưởng, thương yêu, được làm việc có ích cho
trường, lớp thầy cô bằng cách giao việc cho các em làm.
Giáo viên thường xuyên tìm những việc nhỏ, thích hợp hàng ngày ở lớp để giao
các em làm. Đặc biệt những học sinh yếu lại có tính nhút nhát, rụt rè để các em mạnh
dạn, gần gũi thầy cô hơn. Và các em này sẽ rất vui, rất tự hào và cảm thấy mình đã làm
việc có ích và từ đó học tập được tốt hơn.
Ví dụ : Nhờ các em cắt dán khẩu hiệu trong những ngày đại hội, thông báo họp
sao đỏ…. Nhờ tưới cây, khiêng bàn ghế, chuyển thông báo vv…Làm cho các em thêm
gần gũi với thầy cô và cảm thấy mình được thầy cô tin tưởng giao phó nhiệm vụ trước
15
lớp từ đó các em có thêm chút tự tin vào bản thân mình, gần gũi trường, lớp hơn. Ham
học và cố gắng học tập hơn
Đặt biệt là những học sinh học yếu vì ham chơi, vì không chịu học thì chúng ta cần
làm cho các em này yêu thích trường lớp, rồi mới yêu thích học tập.
VD: Có một học sinh cá biệt lớp 4 : học lực yếu, đến trường lại hay đánh bạn,
nghịch ngợm là học sinh lưu ban nhiều năm. Giáo viên chủ nhiệm liền phân cho em
đó làm sao đỏ. (nói rằng đây là nhiệm vụ rất quan trọng muốn làm tốt thì phải cố
gắng thể mình thật tốt). Chỉ trong vòng vài ngày em đó không còn nghịch phá nữa.
Đến trường ăn mặc gọn gàng và làm công tác sao đỏ rất tích cực. Và trong vòng một
tháng học lực của em đó đã chuyển biến từ học yếu chuyển lên trung bình và cuối năm
đã trở thành học sinh khá. Đó là do khi được phân công làm sao đỏ em đó thấy mình
được tôn trọng và cố gắng xứng đáng với sự tôn trọng đó, xứng đáng với nhiệm vụ
được giao nên đã tự giác sửa mình tốt hơn, cố gắng học tập tốt để các bạn, thầy cô
tôn trọng mình hơn.
Trong giảng dạy ở lớp cũng vậy giáo viên cũng phải biết giao cho các em học yếu
bài tập ở lớp cũng như về nhà, (nhằm giúp các em lấy lại kiến thức đã mất) lưu ý là ở

- Trong các tiết rèn và ôn giáo viên bắt buộc phải dạy theo từng nhóm đối tượng.
Vì không làm như thế thì các em yếu sẽ không nắm được kiến thức bài và giáo viên
cần tập trung nhiều thời gian cho việc rèn học sinh yếu hơn, với phương châm “Thà
trường không có học sinh giỏi còn hơn có một học sinh yếu” Trong khi dạy cần dành
nhiều thời gian tới học sinh yếu để giúp các em hiểu bài, nắm chắc kiến thức tại lớp,
lấy lại kiến thức cũ…
2.6 Phương pháp giảm độ khó của câu hỏi phù hợp với học sinh yếu
- Trong lớp học những em học yếu kém thường hay rụt rè, nhút nhát. Trong giờ
học không dám giơ tay phát biểu bài. Trong tiết học chỉ có khoảng 4 đến 5 em khá giỏi
thường xuyên giơ tay phát biểu còn lại đều thụ động ngồi im. Đó là vì những câu hỏi
giáo viên đưa ra quá khó, dạng phải suy luận nhiều khiến các em không biết đáp án
của mình đúng sai nên không dám trả lời. Từ đó các em thành thói quen không giơ tay
xây dựng bài nữa, đâm ra chán học và trở thành học sinh yếu kém. Do đó yêu cầu giáo
viên nên quan tâm đến các em yếu hay nhút nhát, không dám xung phong lên bảng.
Giáo viên phải tìm được câu hỏi dễ để gọi các em trả lời và sau đó cho cả lớp tuyên
17
dương để động viên các em. Phải biết đặt câu hỏi theo từng đối tượng, đối với học sinh
yếu tránh tình trạng câu hỏi quá khó, các em khó xác định đúng, sai, suy luận nhiều.
Làm cho các em ngập ngừng không mạnh dạn phát biểu. Yêu cầu giáo viên trong một
giờ học nên đổi một số câu hỏi trong sách thành những câu hỏi dạng trắc nghiệm, hay
câu hỏi có gợi ý để các em yếu dễ dàng trả lời.
VD: Trong tiết tập đọc lớp 5 bài “Lớp học trên đường” ta có thể thay đổi câu hỏi
3 “Tìm những chi tiết cho thấy Rê- mi là cậu bé rất hiếu học?” Bằng câu hỏi dạng
trắc nghiệm sau: “Các em hãy chọn đáp án a , b, c đúng với câu hỏi sau: Chi tiết cho
thấy Rê-mi là một cậu bé hiếu học là:
a. Lúc nào Rê-mi cũng đầy những miếng gỗ và không bao lâu đã thuộc tất cả các
chữ cái.
b. Rê-mi không dám sao nhãng một phút nào.
c. Cả hai ý trên đều đúng.
Hoặc câu hỏi: “Trong câu văn tác giả đã dùng biện pháp tu từ gì?” Thành

môn toán… Trong những em yếu môn toán thì sự mất kiến thức cũng không giống
nhau, em yếu dạng toán đố, em yếu dạng toán hình… và mức độ yếu cũng khác
nhau… Vì vậy khi đã xác định được trình độ ở các em rồi thì giáo viên nên có kế
hoạch dạy theo trình độ từng em.
Ví dụ: Khi học sinh làm bài tập 35
x
8 = ? ở toán lớp 3, với bài này học sinh làm
không được thì chứng tỏ học sinh không thuộc bảng nhân 6. Vậy giáo viên yêu cầu
học sinh yếu có thể nhìn bảng nhân 8 để làm và sao đó yêu cầu em học bảng nhân 8
sau cho thuộc. Nếu không làm vậy thì học sinh yếu không thể làm bài được. Vì ở đây
các em biết cách làm nhưng không làm được vì không thuộc bảng nhân.
Để việc dạy theo trình độ từng em không ảnh hưởng chung cả lớp thì giáo viên nên
tiến hành vào tiết ôn hoặc tiết rèn. Hoặc khi giao bài về nhà cho các em. Còn các tiết
dạy học chính khóa thì giáo viên nên đến giúp đỡ từng em…
2.8 Phương pháp thư giản (vui chơi) trong các tiết học:
Trong học tập có rất nhiều môn học khô khan, nặng về kiến thức như toán, tập làm
văn, chính tả vv…Đối với học sinh thường không có hứng thú học những môn này
(trừ những em giỏi thì ham học vì có điểm cao). Như vậy để tạo được sự hứng thú,
ham thích việc học ở học sinh yếu giáo viên cần tăng cường các trò chơi, hình thức
19
học tập sinh động trong tiết học. Khi tổ chức một trò chơi thì học sinh yếu sẽ tham gia
hết mình và qua trò chơi giáo viên giúp học sinh nắm được kiến thức, hiểu được bài
hơn. Ngoài các trò chơi giáo viên cần tổ chức các hình thức học tập sinh động khác để
giúp học sinh yếu có hứng thú trong học tập như đóng kịch, phỏng vấn… Trong các
tiết ôn, tiết rèn giáo viên đều phải tổ chức giờ học sinh động, vui tươi như vậy mới
mang được hiệu quả cao. Nhiều hình thức học tập sinh động khi tổ chức không nên
cầu kì quá dẫn đến mất thời gian, tốn kém… giáo viên nên chọn các hình thức học tập
đơn giản nhưng mang hiệu quả cao…
Trong thời gian chuyển tiết giữa các môn học giáo viên cần phải dành từ 5-7 phút
cho học sinh vui chơi (chơi trò chơi, múa hát, kể chuyện, đóng kịch, thi đố…). Để tạo

2.10 Phối hợp với phụ huynh học sinh:
Học sinh học giỏi hay yếu trước hết phụ thuộc vào rất nhiều từ phía gia đình, gia
đình thiếu sự quan tâm trong việc giáo dục, chăm lo việc học hành của con em mình.
Thêm vào đó, những tác động xấu của môi trường xã hội đã lôi kéo các em như ham
chơi, đua đòi, nghe bạn bè xấu rủ rê, dẫn đến lơ là việc học hành, không có kiến thức
căn bản gây nên chán nản, bỏ học. Một gia đình êm ấm, hòa thuận, cha mẹ biết chăm
lo cho con cái, tạo điều kiện thuận lợi để con em học hành, biết giáo dục con ích lợi
của việc học thì học sinh sẽ học tốt hơn. Ví dụ: Một học sinh làm hư viết, không có
viết đến trường, học sinh đó sẽ sợ đi học vì không có viết không chép bài, làm bài
được, có thể sợ cô phạt. Nếu cha mẹ kịp thời mua viết cho con, yêu cầu con cẩn thận
hơn thì học sinh đó sẽ vui vẻ đi học. Nếu bố mẹ la mắng hoặc không mua viết thì sẽ
làm cho em đó đi học với tâm trạng lo sợ thầy cô la và có thể trốn học. Từ đó trở
thành học sinh yếu kém
Vậy nhà trường cần biết phối hợp với phụ huynh trong việc tạo sự ham thích cho
học sinh khi đến trường. Hiện nay một số phụ huynh không biết cách giáo dục con cái,
thường đánh đập, la mắng khi con em mình mắc phải một lỗi lầm nào đó ở trường lớp
(như bị điểm kém, đánh nhau với bạn), làm cho các em sợ sệt, ức chế khả năng học
tập, lao động ở các em, giảm đi niềm ham thích học tập. Do đó giáo viên chủ nhiệm
cần trao đổi, hướng dẫn phụ huynh nên tạo điều kiện tốt để cho để con em mình đến
trường (bảo đảm thời gian đến trường, sắm dụng cụ học tập, giúp con học ở nhà, cùng
21
vui chơi học tập với con em mình, nhắc nhở con cái giờ học…), khi giáo dục con em
nên nhẹ nhàng, cần cho các em hiểu việc đó đúng sai thay vì la mắng trừng phạt.
Việc quan tâm đến bạn bè của con em cũng rất quan trọng. Chơi với bạn xấu trước
sau gì các em cũng nhiễm thói xấu. Phụ huynh chú ý đến những thời gian rảnh rỗi của
con em mình, cần biết các em đi đâu, chơi chỗ nào. Đừng cho các em quá nhiều thời
gian tự do một mình mà cha mẹ không biết. Cần liên lạc với giáo viên để biết tình hình
của con em mình, như có đến trường không? Có đi lao động không? Có hành vi gì cần
sửa chữa vv
Khi học sinh yếu kém phụ huynh cần giúp con em lấy lại niềm tin học tập nhận

C. KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác
Khi học sinh học yếu phân môn Tiếng Việt không những các em mất đi kiến thức
mà các em còn mất đi sự tự tin, tính năng động vì khả năng giao tiếp các em bị hạn
chế điều này ảnh hưởng đến cả cuộc sống sau này của các em. Nhiều em vì học yếu
mà bỏ học sau này sẽ không có công ăn việc làm tốt đẹp, năng suất lao động thấp
kém ảnh hưởng đến đời sống gia đình Do đó giúp đỡ học sinh yếu kém phân môn
Tiếng Việt học tập có tiến bộ là một công việc rất quan trọng ở nhà trường
Đổi mới phương pháp giáo dục học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt học tập có
tiến bộ là một trong những nhiệm vụ quan trong hiện nay. Nó đáp ứng được việc “học
thật thi thật”, việc “chạy theo thành tích” mà ngành giáo dục đang thực hiện.
Thật ra bất cứ hoạt động nào nhà trường cũng đều có tính giáo dục cao, đều giúp
cho học sinh ham thích học tập và học tập có tiến bộ. Trong một tiết dạy, trong buổi
lao động, buổi nói chuyện, một phong trào hoạt động của đội, của nhà trường đều cung
cấp kiến thức cho học sinh, đều có thể giúp đỡ học sinh yếu kém phân môn Tiếng Việt
tiến bộ hơn. Điều quan trọng là giáo viên có biết cách áp dụng để giúp đỡ học sinh yếu
kém hay không? Theo tôi phương pháp hay nhất là chúng ta hãy làm việc hết mình
luôn quan tâm đến các em và sáng tạo, tự đúc kết lại các kinh nghiệm cho bản thân để
năm sau làm tốt hơn năm trước. Việc giúp đỡ học sinh kém phân môn Tiếng Việt học
tập có tiến bộ là một công việc lâu dài và tiến hành thường xuyên. Nếu chúng ta chú
trọng đến nó sẽ mạng lại lớp ích rất lớn cho công tác giáo dục.
II. Bài học kinh nghiệm hướng phát triển
23
Để việc giúp đỡ học sinh yếu kém có kết quả hơn, theo tôi, chúng ta cần phải tiến
hành một số công việc sau:
1. Ngay từ đầu năm học, sau khi tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm, giáo viên
chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cần phối hợp phân tích, đánh giá kết quả đạt được của
học sinh để đưa ra các dự báo về học sinh yếu kém. Cần phải nhận diện học sinh yếu
kém, phát hiện các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém trước khi tìm các
biện pháp giúp đỡ các em.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status