Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam - Pdf 27

Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại nông
nghiệp vẫn chiếm 70% lực lượng lao động của toàn xã hội và khoảng 14% GDP của
cả nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra
mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn
đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Vì vậy trong cơ cấu kinh
tế, công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GNP và trong lao động xã
hội. Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong
nhiều năm nữa. Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã
giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Những nông sản quan
trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà.
Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và sản
lượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật, giống,
phân bón v.v. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết định thường
xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại mặt hàng chiến lược hết
sức quan trọng.
Là một nước nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất lớn
(bình quân mỗi năm 8-9 triệu tấn). Tuy nhiên công nghiệp phân bón của Việt Nam
đang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và cung ứng được khoảng trên
5 triệu tấn, số còn lại phải dựa vào nhập khẩu từ bên ngoài.
Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ quan tác
động (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách ) nên việc nhập khẩu phân bón
của Việt Nam vừa qua diễn ra không được thuận lợi. Điều này đã làm cho Cung-
Cầu, giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn định: lúc sốt nóng, lúc sốt lạnh
gây không ít khó khăn cho nông dân và cho sản xuất nông nghiệp.
1
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Chính vì vậy, việc “Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của
Việt Nam” từ đó tìm ra các yếu tố cơ bản của thị trường phân bón như: cung, cầu,

Chúng tôi dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nghiên cứu tài liệu, phân tích đưa ra kết quả nghiên cứu, phân tích tình hình sản
xuất, nhập khẩu phân bón dựa trên kiến thức và tài liệu thu thập được.
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu là số liệu thứ cấp: các số liệu từ các luận án,
luận văn, sách báo, tạp chí và trên Internet.
Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp dự báo
3
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
Phân bón có vai trò khá quan trọng trong việc tăng năng suất, bảo vệ cây
trồng cũng như giúp cải tạo đất. Phân bón bao gồm một hay nhiều dưỡng chất cần
thiết cho cây được chia thành ba nhóm sau:
Đa lượng: là nhóm các dưỡng chất thiết yếu mà cây trồng cần nhiều bao gồm
Ni tơ (N), Phốt pho (P) và Ka li (K).
Trung lượng: là nhóm các dinh dưỡng khoáng thiết yếu mà cây trồng cần ở
mức trung bình bao gồm Can xi (Ca), Ma giê (Mg) và Lưu huỳnh (S).
Vi lượng: là nhóm dinh dưỡng khoáng thiết yếu cây trồng cần với lượng ít
như Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu)….
Tùy theo từng loại cây trồng cũng như từng loại đất sẽ có những sản phẩm
phân bón phù hợp. Theo nguồn gốc, phân bón được chia thành hai loại:
- Phân bón hữu cơ: loại phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp
chất hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, phân vi sinh, phân rác. Ưu điểm của loại
phân này là có thể tận dụng nguồn rác thải từ động vật hay cây trồng để sản xuất phân
bón và ít gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên khuyết điểm của
nó là giá thành cao và khi sử dụng phân hữu cơ cây không thể sử dụng ngay dưỡng

tỷ lệ thuận với số lượng phân hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ) bón
cho lúa. Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích trồng lúa toàn
thế giới chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng
lên 164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242%. Nhờ vậy đã
góp phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới. Ở nước ta, do chiến tranh kéo
dài, công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc
hậu. Chỉ đến sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều
kiện sử dụng phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn. Ví dụ năm
5
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
1974/1976 bình quân lượng phân hoá học (NPK) bón cho 1 ha canh tác mới chỉ có
43,3 kg/ha. Năm 1993-1994 sau khi cánh cửa sản xuất nông nghiệp được mở rộng,
lượng phân hoá học do nông dân sử dụng đã tăng lên đến 279 kg/ha canh tác. Số
lượng phân hoá học bón vào đã trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và
sản lượng cây trồng lên rất rõ, đặc biệt là cây lúa. Rõ ràng năng suất cây trồng phụ
thuộc rất chặt chẽ với lượng phân hoá học bón vào. Tuy nhiên không phải cứ bón
nhiều phân hoá học thì năng suất cây trồng cứ tăng lên mãi. Cây cối cũng như con
người phải được nuôi đủ chất, đúng cách và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt,
năng suất mới cao và ổn định được. Vì vậy phân chuyên dùng ra đời là để giúp
người trồng cây sử dụng phân bón được tiện lợi hơn.
2.2.2. Tình hình sử dụng phân bón của một số nước trên thế giới và khu vực
Đông Nam Á
Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân". Phân bón
đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân
loại trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón,
nhưng ngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước có sự chênh
lệch khá lớn. Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết
định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học
dinh dưỡng cho cây trồng quyết định. Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng
phân khoáng khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu

sản xuất được là nhờ vào kế hoạch nâng cấp nhà máy phân đạm Bắc Giang, xây
dựng 2 cụm chế biến phân đạm ở Bà Rịa-Vũng Tàu và ở Cà Mau mà có. Nếu được
như vậy lúc đó ta chỉ còn phải nhập thêm khoảng 500.000 tấn Urê và 300.000 tấn
phân Kali nữa là tạm đủ. Năm 2010, tổng khối lượng phân các loại cần có là 7,1
triệu tấn, một khối lượng phân khá lớn, trong lúc đó, hiện nay (năm 2003) ta mới sản
xuất được khoảng 1,5 triệu tấn phân đạm và lân. Còn số lượng 1,2 triệu tấn phân
NPK có được là nhờ vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập. Năm 2002, cả nước nhập
khẩu 2.833.907 tấn phân các loại (Urê, DAP, Kali, sunphát đạm). Nếu tính cả số
7
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
phân nhập bằng con đường tiểu ngạch thì năm 2002 số lượng phân nhập có khoảng
3 triệu tấn, nếu cộng thêm 1,5 triệu tấn sản xuất trong nước thì vẫn còn cần thêm 2,6
triệu tấn phân các loại nữa mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp. Công ty
Phân bón Bình Điền đang chuẩn bị xây dựng thêm 1 nhà máy sản xuất phân bón ở
tỉnh Long An với công suất 600.000 tấn phân NPK/năm, lúc đó Công ty có thể cung
cấp được khoảng 1/3 lượng phân NPK theo yêu cầu đặt ra. Như vậy cho đến nay, số
lượng phân hoá học dùng cho sản xuất nông nghiệp phần lớn là dựa vào nhập khẩu.
Nếu việc nâng cấp nhà máy phân đạm Bắc Giang cũng như việc xây dựng 2 cụm
chế biến phân đạm ở Bà Rịa-Vũng Tàu và Cà Mau thực hiện đúng theo kế hoạch thì
đến hết năm 2010 ta chỉ còn nhập khối lượng phân không nhiều lắm. Ngược lại, nếu
kế hoạch trên có trở ngại thì việc tiếp tục nhập phân hoá học với khối lượng lớn là
điều tất yếu. Tuy nhiên để việc sử dụng phân bón có hiệu quả, không có dư lượng
đạm quá mức cho phép, không gây ô nhiễm môi trường thì ngay bây giờ ta phải
trang bị cho người sản xuất những kiến thức khoa học cần thiết về tính chất 2 mặt
của phân bón, biết được nhu cầu phân bón của từng loại cây, từng giai đoạn sinh
trưởng của cây trên từng loại đất, từng mùa vụ để họ từ quản lý lấy nguồn tài
nguyên quí giá của họ mới có hiệu quả được.
2.2.4 Quá trình sản xuất phân bón của Việt Nam.
Trước những năm 1960, Nông nghiệp Việt Nam chỉ sử dụng phân hữu cơ và
phân chuồng để bón cho cây trồng; sau những năm 60 mới có sự chuyển hưởng kết

nghệ tiếp xúc đơn sang tiếp xúc kép để tăng hiệu suất chuyển hóa SO
2
nhằm đảm
bảo vấn đề môi trường; tăng cường đầu tư chiều sâu để nâng cao khả năng điều
khiển tự động hóa của các dây chuyền sản xuất, sử dụng các loại xúc tác chuyển hóa
SO
2
có độ bền, độ hoạt hóa cao của các công ty Monsanto hoặc Haldor Topsoe. Về
phân lân nung chảy, công suất sản xuất của các nhà máy được nâng dần lên đạt mức
500.000 tấn/năm. Đây là sản phẩm theo công nghệ và thiết bị hoàn toàn của Việt
Nam. Chúng ta có đủ năng lực về thiết kế, chế tạo, lắp đặt các thiết bị và chuyển
giao công nghệ sản xuất phân lân nung chảy.
9
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Về phân phức hợp, trong giai đoạn 2000 - 2005, chúng ta đầu tư xây dựng
nhà máy sản xuất DAP tại Hải Phòng, công suất 330.000 tấn/năm. Nhà máy này
được đi vào hoạt động từ 4/2009. Vào tháng 3/2009 nhà máy sản xuất phân bón cao
cấp DAP số 2 được xây dựng tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, có công suất
330.000 tấn/năm (bằng công suất Nhà máy DAP số 1 Ðình Vũ- Hải Phòng). Việc
xây dựng nhà máy tại nơi cung cấp nguyên liệu quặng apatít Cam Ðường sẽ giảm
chi phí vận tải, chủ động nguồn nguyên liệu, giải quyết việc làm cho khoảng 600 lao
động địa phương. Dự kiến nhà máy sẽ đi vào hoạt động từ năm 2012.
Hiện nay ở các nước phát triển lượng phân bón hóa học sử dung có xu hướng
giảm xuống thay vào đó là các loại phân vi sinh để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên thì
ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, phân vô cơ vẫn được sử dụng khá
nhiều nhờ vào ưu thế về chi phí và những hiệu quả nhanh chóng tác động lên cây
trồng. Do lượng sử dụng nhiều nên các loại phân chứa các nguyên tố đa lượng
chiếm hầu như toàn bộ lượng phân bón sử dụng và cũng được đề cập nhiều nhất khi
nói về ngành phân bón. Trong nhóm phân đa lượng, phân đạm có lượng sử dụng cao
nhất, kế đến là phân lân, cuối cùng là phân kali. Mặc dù xét về mức độ cần thiết, cây

Phòng), mới đưa vào hoạt động bảo đảm đáp ứng đủ nhu cầu phân bón DAP trong
nước ( mỗi năm khoảng 700.000 tấn), không phải nhập khẩu từ bên ngoài.
3.1.2 Khả năng phát triển nguồn phân bón sản xuất trong nước
Phân đạm có thể sản xuất từ hai nguồn nguyên liệu là than đá và khí thiên
nhiên. Việt Nam đang có thế mạnh ở cả hai nguồn nguyên liệu này nhờ đó phân urê
11
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
sản xuất trong nước thường rẻ hơn giá thế giới. Tuy nhiên, nếu so sánh hai nguồn
nguyên liệu cho sản xuất phân đạm hiện nay, khí thiên nhiên đang có ưu thế hơn
than đá về cả chi phí cũng như nguồn cung.
Do chi phí khai thác than đang có xu hướng tăng mạnh nên giá nguyên liệu
than vì thế cũng tăng theo. Hơn nữa than đá cũng là nguồn nguyên liệu đầu vào cho
sản xuất của ngành điện, xi măng và giấy nên sẽ dẫn đến tình hình cạnh tranh
nguyên liệu với những ngành trên cộng thêm thách thức về an ninh năng lượng quốc
gia cũng làm hạn chế nguồn cung loại năng lượng này.
Phân lân, hai yếu tố đầu vào quan trọng cho sản xuất phân lân trong nước
hiện nay là quặng apatit (nguyên liệu) và than cốc (nhiên liệu). Mỏ Apatit Lào Cai là
mỏ có trữ lượng quặng Apatit rất lớn và duy nhất tại Việt Nam, cung cấp gần như
toàn bộ quặng apatit làm nguyên liệu cho sản xuất phân lân. Trữ lượng lớn tuy nhiên
các Công ty sản xuất phân lân thường bị thiếu nguyên liệu do công suất tuyển quặng
của đơn vị khai thác cũng như khả năng vận chuyển quặng đến các nhà máy quá
yếu. Còn nguồn nhiên liệu than cốc cho sản xuất phân bón trước đây đều phải nhập
khẩu nhưng nay đã được thay thế bằng than antraxit nội địa. Nhìn chung, các yếu tố
đầu vào cho sản xuất phân lân Việt Nam đều có khả năng cung cấp đủ cho nhu cầu
sản xuất.
Phân Kali, hiện tại ở Việt Nam không có mỏ khai thác Kali nên nước ta phải
nhập khẩu toàn bộ loại phân này.
Phân DAP là một loại phân tổng hợp của phân lân và phân đạm. Phân DAP
cũng được sản xuất từ quặng apatit. Từ trước đến nay, phân DAP vẫn được nhập
khẩu 100%. Hiện nay nước ta đã xây dựng được 2 nhà máy sản xuất phân DAP ở

so với giá nhập trung bình năm 2007. Trong đó, giá nhập trung bình về từ thị trường
Nga tăng tới 203,63% so với giá nhập khẩu trung bình năm 2007, đạt 450 USD/tấn;
Hàn Quốc tăng 103%, đạt 518 USD/tấn; Canada tăng 116,82%, đạt 568 USD/tấn;
Belarus tăng 135,92% đạt 578 USD/tấn; Trung Quốc tăng 72,95% so với giá nhập
ihẩu năm 2007, đạt 474 USD/tấn…
Thị trường nhập khẩu phân bón năm 2008
Năm 2008 So với năm 2007
Lượng (tấn) Trị giá (USD) % lượng % trị giá
Trung Quốc 1.517.100 719.621.549 -28,17 24,23
Nga 340.318 165.323.878 28,46 201,91
Nhật Bản 206.857 56.789.329 -26,30 36,53
Hàn Quốc 146.098 75.809.452 3,78 119,71
Canada 134.981 76.665.786 23,52 152,66
Đài Loan 112.340 35.452.058 -9,65 100,15
Belarus 135.247 71.539.477 -37,37 29,69
Ixraen 82.156 39.597.443 -49,93 -7,88
14
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Philippine 87.500 50.180.324 -42,80 12,61
Indonesia 67.903 13.814.245 2.594,56 3929,27
Ấn Độ 56.452 17.446.508 546,64 679,89
Singapore 55.548 32.899.385 -29,16 50,41
Qata 45.908 24.464.278 818,16 1504,21
Nauy 22.176 17.323.837 563,75 1617,54
Tunisia 20.405 28.021.553
Malaysia 17.353 7.595.790 -57,18 -36,56
Anh 13.598 4.337.792 21146,95 97247,21
Thái Lan 9.412 3.625.952 -33,72 66,95
Mỹ 7.570 870.754 -42,99 -76,07
Bỉ 7.429 4.870.845 -58,57 5,66

2008. Đáng chú ý, lượng nhập khẩu Urea từ một số thị trường mới như: Ukraina,
Inđônêxia, Nga, UAE, đều đạt mức cao lần lượt là: 176,6 ngàn tấn, 139 ngàn tấn, và
108,4 ngàn tấn, 97,4 ngàn tấn.
Nhập khẩu DAP cũng đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng, khi tăng tới 2,2 lần
về lượng, tuy nhiên do giá nhập khẩu của chủng loại này lại sụt giảm mạnh, tính ra
chỉ bằng 43,68% so với giá nhập về năm ngoái (tức là chưa bằng một nửa), đạt trung
bình 382 USD/tấn, nên mặc dù tăng mạnh về lượng nhưng kim ngạch nhập khẩu lại
giảm nhẹ 1,17%. Chủng loại này được nhập về chủ yếu từ: Trung Quốc, Mỹ, Hàn
Quốc…
Trong khi lượng nhập khẩu các chủng loại khác đều tăng mạnh, thì nhập khẩu
Kali lại sụt giảm đáng kể, cả năm đạt 466,8 ngàn tấn, trị giá 267,4 triệu USD giảm
23,87% về lượng và giảm 25,65% về trị giá so với năm 2008. Trong đó, nhập khẩu
từ Ixraen đạt 119,5 ngàn tấn, giá nhập khẩu trung bình 564 USD/tấn; Bêlarút đạt
78,9 ngàn tấn với giá nhập khẩu trung bình 581 USD/tấn; Nga đạt 52 ngàn tấn, giá
nhập khẩu trung bình 530 USD/tấn…
Chủng loại phân bón nhập khẩu năm 2009
Thị trường
Năm 2009 Năm 2009 so với năm 2008
Lượng (tấn) Trị giá (USD) % Lượng % Trị giá
Tổng 4.518.932 1.414.920 48,91 -3,92
Phân U rê 1.425.565 416.782 101,67 45,51
16
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Phân NPK 334.615 132.273 96,29 33,65
Phân DAP 980.622 374.332 126,07 -1,27
Phân SA 1.166.365 156.041 61,47 -15,33
Loại khác 481.772 278.824 -51,89 -46,77
(Nguồn tinthuongmai.vn)
Về thị trường nhập khẩu: Trong năm 2009, có tất cả 15 thị trường cung cấp
phân bón tới Việt Nam. Với lợi thế giá rẻ, lại thuận lợi về mặt địa lý nên Trung

Năm 2009 Năm 2009 so với năm 2008
Lượng
(tấn)
Trị giá
(USD)
%
Lượng
%
Trị giá
Trung Quốc 1.951.305 596.026 29,44 -17,21
Nga 394.840 110.201 14,10 -29,45
Hàn Quốc 355.073 72.904 119,66 -7,76
Philippin 294.260 115.085 265,43 152,60
Nhật Bản 191.137 25.746 -4,07 -53,27
Ucraina 189.306 55.137 12.520 9.325
Hoa Kỳ 154.712 62.033 13.851 2.087
Đài Loan 130.159 21.442 27,23 -28,07
Canada 101.755 60.847 -26,53 -23,17
Ấn Độ 40.742 17.542 133,13 86,22
(Nguồn tinthuongmai.vn)
3.2.3 Tình hình nhập khẩu phân bón 6 tháng đầu năm 2010
Theo số liệu thống kê, tháng 8/2010, Việt Nam đã nhập khẩu trên 315 nghìn
tấn phân bón các loại, đạt trị giá 109,9 triệu USD, tăng 41,36% về lượng và tăng
45,68% về trị giá so với tháng 7, nâng tổng lượng phân bón nhập khẩu trong 8 tháng
18
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
năm 2010 lên 1,9 nghìn tấn, trị giá trên 623 triệu USD giảm 31,94% về lượng và
giảm 32,22% về trị giá so với 8 tháng năm 2009.
Việt Nam đã nhập khẩu phân bón từ 13 thị trường trên thế giới trong 8 tháng
đầu năm 2010, trong đó có tới 7 thị trường giảm cả về lượng và trị giá (chiếm 53,8%

1.941.640 623.052.972 2.853.041 919.244.964 -31,94 -32,22
Trung Quốc 800.478 242.884.702 1.127.476 360.185.497 -29,00 -32,57
Nga 283.632 97.200.234 290.746 84.234.550 -2,45 +15,39
Canada 94.311 39.363.884 48.229 32.809.627 95,55 +19,98
Philippin 111.455 38.893.388 193.085 77.415.695 -42,28 -49,76
Hàn Quốc 81.087 21.402.424 198.212 42.378.987 -59,09 -49,50
Nhật Bản 130.234 18.515.245 95.502 13.143.879 +36,37 +40,87
Malaixia 54.719 16.410.127 15.372 4.964.214 +255,97 +230,57
Nauy 19.495 8.345.086 291 191.321 +6.599,31 +4.261,82
Đài Loan 43.205 7.737.299 83.754 13.800.279 -48,41 -43,93
Hoa Kỳ 7.988 5.471.544 129.149 52.101.675 -93,81 -89,50
Ấn Độ 4.090 3.429.004 29.394 12.502.402 -86,09 -72,57
Bỉ 4.589 2.529.526 2.159 1.688.514 +112,55 +49,81
Thái Lan 2.636 1.547.548 19.481 4.592.340 -86,47
(Nguồn tinthuongmai.vn)
3.2.2 Xu hướng phát triển của nguồn nhập khẩu phân bón vô cơ.
2.2.Vấn đề nhập khẩu phân bón:
2.3. Vấn đề tổ chức thị trường phân bón trong nước
2.4. Về quản lý nhà nước
IV. Kết luân và kiến nghị
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status