PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TIẾN TỚI MẶT BẰNG PHÁP LÝ CHUNG CHO ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI TIẾN TỚI MẶT BẰNG PHÁP LÝ CHUNG CHO ĐẦU
TƯ TRONG NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Vũ Huyền Bảo
Linh
Lớp : Anh 11, K38 D
KTNT
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Vũ Chí
Lộc
Hà nội, năm 2003
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của
các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế Ngoại thương - Trường Đại học Ngoại
thương Hà nội, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn
PGS.TS Vũ Chí Lộc - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện bản khóa
luận này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế
Ngoại thương – Trường Đại học Ngoại thương Hà nội, đã dạy dỗ và giúp đỡ
tôi trong suốt bốn năm học tập; bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến các bạn cùng
lớp đã động viên, khích lệ tôi hoàn thành khóa luận này. Tuy nhiên, do thời
gian và trình độ có hạn, khóa luận này chắc chắn không tránh khỏi một số
thiếu sót.
Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các
bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2003.
Sinh viên thực hiện

2.4Đánh giá về sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam
4.1.1 Ưu điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài 51
4.1.2 Những hạn chế của pháp luật đầu tư nước ngoài 53
4.1.3 Nguyên nhân của những nhược điểm 55
CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẦU
TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
3.1Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam58
3.2Các nguyên tắc tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
3.3Giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 65
3.3.1 Giải pháp chung về sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài 65
3.3.2 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong từng
vấn đề cụ thể
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
LỜI NÓI ĐẦU
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi
mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thắng lợi quan
trọng trên nhiều lĩnh vực. Đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất
nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân ta và quốc tế đánh giá cao.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Nghiên cứu để tiến tới áp
dụng một khung pháp luật thống nhất chung cho doanh nghiệp trong nước và
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tạo mặt bằng pháp lý chung cho cả đầu
tư nước ngoài và đầu tư trong nước là một trong những quy luật khách quan của
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Theo lời của Thủ tướng Phan Văn Khải, thì
“..Cái chính là mặt bằng pháp luật, mặt bằng cơ chế chính sách”. Nếu không có
một “hành lang pháp lý” vững chắc, bảo đảm sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư
nước ngoài và đầu tư trong nước trong mọi quá trình của hoạt động đầu tư từ
khẩu tìm hiểu đầu tư đến khâu thành lập, triển khai, mở rộng hoặc thu hẹp và

1.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM
Trong đời sống xã hội, pháp luật luôn là một phương tiện quan trọng
không thể thay thế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tổ chức, quản lý đời sống xã
hội, bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển, phù hợp với những mục đích mà
Nhà nước và xã hội đặt ra. Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa X đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
25/12/2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, trong đó quy định: "Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân"; Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN ".
Quản lý kinh tế nói chung, quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
nói riêng, là chức năng cơ bản của Nhà nước ta trong điều kiện cụ thể hiện nay.
Để thực hiện chức năng này, chúng ta phải nhận thức đúng đắn các quy luật kinh tế
– xã hội khách quan, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước và các
điều kiện quốc tế, xây dựng chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, sử
dụng đồng bộ và hợp lý các công cụ kế hoạch, chính sách và các đòn bẩy kinh tế.
Trong hệ thống các công cụ và biện pháp quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, được thể hiện ở một số nội dung
sau đây:
Thứ nhất, để điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, Nhà nước có
thể và cần phải sử dụng nhiều công cụ, biện pháp và hình thức khác nhau như
chính sách, kế hoạch đầu tư trực tiếp nước ngoài, đòn bẩy kinh tế, pháp luật đầu tư
nước ngoài... Tuy nhiên, trong số các công cụ, biện pháp đó, pháp luật đầu tư
7
nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi lẽ với những đặc điểm riêng của
mình, pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà
nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô toàn xã hội.
Thứ hai, pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước, luôn luôn gắn liền với

mà dựa vào đó các nhà đầu tư nước ngoài tìm được "sân chơi", các nhà quản lý
có phương tiện để điều khiển "cuộc chơi". Pháp luật đầu tư nước ngoài là mực
thước để phân định đúng, sai, kiểm nghiệm và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài cho phù hợp với nhu cầu xã hội.
Sự điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng pháp luật phải
bảo đảm cho hoạt động này vận động theo đúng những quy luật khách quan,
không thể áp đặt bằng ý chí chủ quan, duy ý chí. Bằng pháp luật, Nhà nước tạo
môi trường và hành lang pháp lý để những nhà đầu tư nước ngoài có thể tự chủ
sản xuất kinh doanh, tự bảo vệ lợi ích của mình, đồng thời không làm tổn hại đến
lợi ích của các chủ thể khác và toàn xã hội.
Thứ năm, trong việc điều chỉnh quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháp
luật quy định cho các bên tham gia một số quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định,
đồng thời thiết lập cơ chế đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó được
thực hiện. Vì vậy, khi tham gia vào các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài do
pháp luật điều chỉnh, các chủ thể phải có hành vi phù hợp với các yêu cầu của
pháp luật. Tuy nhiên, việc điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng
pháp luật, không chỉ tác động tới các hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ
đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà còn tác động đối với toàn xã hội nói chung.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT ĐẦU
TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài
Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài, cần làm rõ khái
niệm đầu tư, đầu tư nước ngoài, các hình thức, phương thức đầu tư nước ngoài,
9
đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước
ngoài.
1.2.1.1. Khái niệm đầu tư, đầu tư nước ngoài, hình thức, phương thức đầu
tư nước ngoài
 Khái niệm “đầu tư nước ngoài”
Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài, trước hết cần làm

Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 (sau đây gọi tắt là Điều lệ Đầu tư nước
ngoài năm 1977):
“ Được coi là đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam việc đưa vào sử dụng ở
Việt Nam những tài sản và vốn sau đây, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc
đổi mới trang bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
- Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ (gồm cả những thứ dùng cho việc thí
nghiệm), phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật… cần thiết cho mục đích nói trên;
- Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh, phương pháp
công nghệ, bí mật kỹ thuật (know - how), nhãn hiệu chế tạo…
- Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ, nếu phía Việt Nam thấy
cần thiết..”
Phân tích khái niệm trên cho thấy, không phải bất cứ sự vận động vốn (tư
bản) nào từ nước ngoài vào Việt Nam đều được coi là đầu tư nước ngoài, mà chỉ
những tài sản và vốn được quy định tại Điều 2 Điều lệ đầu tư nước ngoài, được
đưa vào sử dụng ở Việt Nam mới được coi là đầu tư nước ngoài.
Trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987,
khái niệm đầu tư nước ngoài đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2 như sau: "Đầu
tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp
thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên
doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này". Có thể
nói, với quy định mới này, khái niệm đầu tư nước ngoài đã được mở rộng hơn so
với khái niệm đầu tư nước ngoài trong Điều lệ đầu tư nước ngoài năm 1977.
Trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, khái niệm đầu tư được
hiểu theo một nghĩa rộng hơn: "là mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một
Bên do các công dân hoặc công ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay
11
gián tiếp, bao gồm các hình thức: một công ty hoặc một doanh nghiệp; cổ phần,
cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi nợ và các quyền lợi
đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác trong công ty; các quyền theo hợp

thu hút được nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác. Nhưng nếu chỉ chú
trọng nguồn vốn ODA, mà không tìm cách thu hút nguồn vốn FDI và các nguồn
vốn tín dụng khác, thì quốc gia đó sẽ không thể có khả năng để trả nợ vốn ODA.
 Hình thức đầu tư
Thực tiễn đầu tư nước ngoài của nhiều nước trên thế giới cho thấy, có rất
nhiều hình thức đầu tư phong phú như: hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, hình thức liên doanh, hình thức công ty cổ phần, công ty quản lý vốn, chi
nhánh công ty nước ngoài, hình thức gia công, lắp ráp...
Ở nước ta, đầu tư trực tiếp nước ngoài được pháp luật đầu tư nước ngoài
hiện hành quy định dưới ba hình thức:
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu
tư nước ngoài tự bỏ vốn thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh ở nước ta và có tư
cách pháp nhân của Việt Nam..
- Doanh nghiệp liên doanh là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước
ngoài và nhà đầu tư trong nước cùng góp vốn thành lập cơ sở sản xuất, kinh
doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là loại hình đầu tư, trong đó nhà đầu tư
nước ngoài và nhà đầu tư trong nước cùng bỏ vốn kinh doanh theo một hợp
đồng, mỗi bên giữ tư cách pháp nhân riêng, không thành lập pháp nhân mới.
 Phương thức đầu tư
Có thể hiểu phương thức đầu tư là cách tổ chức đưa vốn vào kinh doanh
của nhà đầu tư nước ngoài.
Pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định các phương thức sau:
- BOT (Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao) là phương thức,
trong đó nhà đầu tư nước ngoài ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, tự kinh doanh để thu hồi vốn,
13
lợi nhuận trong thời hạn nhất định, sau thời hạn đó chuyển giao công trình đó
cho Nhà nước Việt Nam.
- BTO (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) là phương thức,

củng cố địa vị và lợi ích của Nhà nước và công dân trong mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Chúng có thể thay đổi tùy theo từng
giai đoạn lịch sử cụ thể, phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị và các điều
kiện chính trị, xã hội khác.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:
- Quan hệ giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam mà đại diện là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Quan hệ giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với Nhà nước
thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Quan hệ hợp tác kinh doanh, liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với
nhà đầu tư trong nước.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các tổ chức, cá
nhân nước ngoài.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước
ngoài, nhà đầu tư trong nước với người lao động.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước
ngoài, nhà đầu tư trong nước với các cơ quan tài phán trong nước và quốc tế.
- Các quan hệ khác.
Dấu hiệu đặc trưng có tính chất bắt buộc của các quan hệ xã hội thuộc đối
tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là yếu tố nước ngoài. Các quan
hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác như Luật Dân sự,
Luật Thương mại, Luật Kinh tế... có thể cũng có yếu tố nước ngoài, nhưng
không có tính chất bắt buộc như quan hệ đầu tư nước ngoài.
15
 Về phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài
Xét dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, phương pháp
điều chỉnh của pháp luật được hiểu là tổng hợp những cách thức tác động của

các tổ chức, cá nhân nước ngoài...; các quy phạm định nghĩa về các khái niệm cơ
bản trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam như "Bên nước ngoài",
"Bên Việt Nam", "Đầu tư nước ngoài", "Xí nghiệp liên doanh"...
Phần riêng của pháp luật đầu tư nước ngoài bao gồm các nhóm quy phạm
điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài cụ thể, nói cách khác là các quy định về:
- Những quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.
- Những quy định về hình thức đầu tư, phương thức đầu tư.
- Những quy định về đất đai, xây dựng, lao động.
- Những quy định về thuế, ngân hàng, tài chính, kế toán, thống kê.
- Những quy định về chuyển giao công nghệ, sở hữu công nghiệp.
- Những quy định về Hải quan, xuất nhập khẩu.
- Những quy định về hợp đồng kinh tế, trọng tài, xử lý tranh chấp.
1.2.2. Đặc trưng cơ bản của pháp luật đầu tư nước ngoài
Từ khái niệm pháp luật đầu tư nước ngoài đã được trình bày ở trên và qua
nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật đầu tư nước ngoài hiện hành, có thể
rút ra những đặc trưng cơ bản như sau:
1.2.2.1. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật đầu tư nước ngoài
có một số quy phạm pháp luật đầu tiên hướng tới nền kinh tế thị trường
Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 ra đời vào năm 1977, chỉ sau hai
năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là thời điểm nhân dân ta
mới bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, cơ chế quản lý tập
trung, quan liêu, bao cấp đang rất thịnh hành và nền kinh tế về cơ bản chỉ có hai
thành phần là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể. Trong bối cảnh đó, Điều lệ Đầu
tư nước ngoài năm 1977 là văn bản pháp lý đầu tiên trong hệ thống pháp luật của
Việt Nam tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Trong Điều lệ
này, Nhà nước ta đã khuyến khích, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào mọi lĩnh vực
17
của nền kinh tế, trừ những ngành bị cấm. Điều đó thể hiện chủ trương cởi mở, đa
dạng hóa các lĩnh vực đầu tư của nước ta. Như vậy, xét dưới góc độ lý luận, có thể
khẳng định, công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà nước khởi xướng chính thức được

.
Việc pháp luật đầu tư nước ngoài "vượt trước" hoạt động đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam không phải là hiện tượng trái quy luật. Theo quan điểm của
triết học Mác - Lênin, cơ sở hạ tầng có mối quan hệ biện chứng với kiến trúc
thượng tầng và trong một số trường hợp nhất định, pháp luật có thể "vượt trước",
thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội. Mặt khác, nếu xem xét nền kinh tế
nước ta dưới góc độ là một bộ phận của nền kinh tế khu vực và trên thế giới, thì
hoạt động đầu tư nước ngoài đã tồn tại từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới với
các mức độ khác nhau. Như vậy, pháp luật về đầu tư nước ngoài và hoạt động
đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là cái có sau so với nhiều nước trên thế giới và
đương nhiên bị chi phối bởi quá trình quốc tế hóa nền kinh tế của các nước. Đây
có thể coi là vấn đề hợp quy luật trong tiến trình hội nhập của nước ta vào đời
sống kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới.
1.2.2.3. Pháp luật đầu tư nước ngoài có một số chủ thể đặc thù
Pháp luật đầu tư nước ngoài điều chỉnh quan hệ đầu tư nước ngoài, trong
đó ít nhất một bên là cá nhân, tổ chức kinh tế hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam
và bên kia là tổ chức, cá nhân nước ngoài. Tổ chức kinh tế Việt Nam được hiểu
là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập, tổ chức và
hoạt động theo các quy định của pháp luật Việt Nam; cơ quan nhà nước ở đây là
cơ quan được Chính phủ ủy quyền ký kết với các cá nhân, tổ chức nước ngoài
thực hiện các hợp đồng BOT, BT, BTO; tổ chức, cá nhân nước ngoài là các tổ
chức kinh tế nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài tham gia quan hệ đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.
Chủ thể của quan hệ pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gồm có:
1) Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.
2) Các nhà đầu tư nước ngoài tham gia quan hệ đầu tư nước ngoài tại Việt
1
Xem: TS. Ho ng Phà ước Hiệp (1996), Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước
ngo i tà ại Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ luật học, H Nà ội
19

1.2.2.4. Pháp luật đầu tư nước ngoài có bộ phận cấu thành là một số
lượng lớn các điều ước quốc tế có liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài
mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
Khác với các ngành luật khác, pháp luật đầu tư nước ngoài có bộ phận cấu
thành là một số lượng lớn các điều ước quốc tế như Hiệp định khung về khu vực
đầu tư ASEAN, 41 Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư,
34 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa
kỳ... Việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế hai bên và nhiều bên được
tiến hành theo các quy định của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện các
điều ước quốc tế. Các ngành luật khác cũng có thể có một bộ phận cấu thành là
các điều ước quốc tế, nhưng không nhiều hoặc phong phú như Luật Đầu tư nước
ngoài. Ví dụ: Luật Tố tụng hình sự có các điều ước quốc tế song phương về
tương trợ tư pháp hoặc hẹp hơn là về dẫn độ tội phạm. Nhưng trong lĩnh vực
này, Việt Nam tham gia với số lượng rất ít, chủ yếu là ký kết với các nước
XHCN trước đây.
Trong pháp luật đầu tư nước ngoài, các quy phạm trong các điều ước quốc
tế tham gia điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của chủ thể các quan hệ pháp luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài coi các điều ước quốc tế
là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Đây
có thể nói là một nét đặc thù của pháp luật đầu tư nước ngoài, bởi lẽ tham gia
điều chỉnh các quan hệ xã hội của các ngành luật khác có thể có các quy phạm
được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập,
nhưng số lượng của chúng không nhiều và phổ biến như ở pháp luật đầu tư nước
ngoài.
1.2.3. Vai trò của pháp luật Đầu tư nước ngoài
Trong xã hội chủ nghĩa, pháp luật giữ vai trò quan trọng. Pháp luật là
phương tiện thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo
của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội. Pháp luật là
phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thực hiện các chức
21

quyết) và phạm vi rộng (trên quy mô toàn quốc) của chức năng quản lý đầu tư,
Nhà nước không thể tham gia vào các hoạt động đầu tư cụ thể mà chỉ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư. Quá trình đó không thể
thực hiện được nếu không dựa vào pháp luật đầu tư nước ngoài. Chỉ có pháp luật
đầu tư nước ngoài với những tính chất đặc thù của nó mới là cơ sở để Nhà nước
hoàn thành được chức năng của nó trong lĩnh vực đầu tư.
Quá trình tổ chức và quản lý đầu tư ở Việt Nam trong những năm qua đã là
một thực tiễn sinh động khẳng định vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài. Tình
trạng thiếu các quy phạm pháp luật về đầu tư nước ngoài cũng như sự tồn tại quá
lâu những văn bản, những quy phạm pháp luật đầu tư của cơ chế tập trung, quan
liêu, bao cấp, đã làm giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, kìm hãm sự phát triển
của hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng, của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
1.2.3.3. Pháp luật đầu tư nước ngoài bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư
nước ngoài, đồng thời bảo hộ sản xuất trong nước
Nhằm khuyến khích, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Luật Đầu
tư nước ngoài năm 1987 và 1996 đã khẳng định quyền được tôn trọng và bảo vệ
của các nhà đầu tư nước ngoài và quy định một số ưu đãi hơn đối với đầu tư
trong nước. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước ta đã xác lập những
chế định bảo hộ và khuyến khích đầu tư nước ngoài rất rõ ràng.
Tuy nhiên, chúng ta khuyến khích đầu tư nước ngoài một phần là vì nhu
cầu phát triển sản xuất trong nước. Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định "Vốn
nước ngoài là quan trọng, vốn trong nước là quyết định". Do vậy, đi đôi với việc
khuyến khích, ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư trong nước chú
trọng bảo hộ sản xuất trong nước. Đây là nguyên tắc phát triển kinh tế của mọi
quốc gia, có chăng chỉ khác nhau về mức độ và nội dung bảo hộ mà thôi. Chính
bản thân sự xuất hiện của pháp luật đầu tư nước ngoài đã nói lên tư tưởng bảo hộ
sản xuất trong nước. Việc đề ra pháp luật đầu tư nước ngoài là nhằm quy định
một hành lang pháp lý riêng cho hoạt động đầu tư nước ngoài, để tách một số
hoạt động, cũng như một số ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài khỏi "sân
23

hóa, hình thành những nguyên tắc pháp lý xuyên suốt, chi phối sự vận hành của
cơ chế quản lý đầu tư cũng như đảm bảo sự phát triển có hiệu quả của các quan
hệ đầu tư. Để xây dựng một nền kinh tế thị trường, không thể bỏ qua các nguyên
tắc cơ bản như: tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do hình thành giá cả, khuyến
khích cạnh tranh. Một khi các nguyên tắc trên được thể chế hóa thành những
nguyên tắc pháp lý, thì nó trở thành những tiêu chí cho sự lựa chọn hệ thống các
giải pháp, công cụ để tác động lên hoạt động đầu tư, làm cho nó không thoát ly
trật tự hình mẫu mà nó đang vươn tới và đem lại những kết quả khả quan cho
hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ hai, pháp luật đầu tư nước ngoài xác lập môi trường an toàn cho sự
xuất hiện của các quan hệ đầu tư nước ngoài, đảm bảo cho các quan hệ đó được
điều chỉnh trong trật tự.
Đây là vấn đề mang tính quy luật, bởi lẽ sự hợp tác và mối quan hệ giữa
các tổ chức, cá nhân nước ngoài với nước ta chỉ có thể phát triển trong môi
trường chính trị, kinh tế, xã hội ổn định và có đủ độ tin cậy lẫn nhau. Đối với các
nhà đầu tư nước ngoài, thị trường đầu tư của họ rất rộng lớn trong phạm vi quốc
tế; quan hệ đầu tư ra nước ngoài của họ là quan hệ kinh doanh, mục đích của họ
là tìm kiếm lợi nhuận cao. Vì vậy, họ chỉ chấp nhận đầu tư vào đâu có lợi nhuận
thỏa đáng. Đảm bảo hoạt động đầu tư cho họ đồng nghĩa với đảm bảo cho họ có
đủ điều kiện để có lợi nhuận. Đó là môi trường đầu tư ổn định, độ rủi ro trong
kinh doanh không cao, thủ tục đầu tư đơn giản, thuận tiện.
Ở Việt Nam đã có môi trường pháp lý đáng tin cậy, và nhờ đó, các quan
hệ kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng đã mở
rộng, phát triển và đem lại hiệu quả đáng kể góp phần quan trọng và sự phát
triển xã hội.
1.2.3.5. Pháp luật đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy và phát triển mối
quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các quốc gia, dân tộc
Trong thời đại ngày nay, phạm vi các mối quan hệ bang giao giữa các
nước ngày càng lớn và tính chất các mối quan hệ đó ngày càng đa dạng. Cơ sở
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status