Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Gooc ki viết: “Sức mạnh giàu có của một dân tộc không phải là ở
chỗ nhiều đất đai, rừng, gia súc và các loại quặng quý mà ở số lượng và
chất lượng những con người có học thức, ở sự nhạy bén năng động và khả
năng sáng tạo của trí tuệ”. Sức mạnh trí tuệ có thể giúp cá nhân con người
trở nên tự tin hơn, độc lập hơn và có khả năng giải quyết được những vấn
đề đầy thách thức mà cuộc sống vốn dĩ luôn ẩn chứa. Giáo dục là biện pháp
hữu hiệu nhằm tăng cường sức mạnh cho mỗi cá nhân. Không có quốc gia
tiên tiến nào trên thế giới, để đạt tới những thành tựu kinh tế xã hội như
ngày nay, mà không có sự đầu tư vào giáo dục. ở nước ta tầm quan trọng
của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế xã hội đã được Đảng và Nhà
nước xác định rất rõ. Đảng ta đặt con người ở vị trí trung tâm, con người
vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Nghị quyết trung ương
4, khoá VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: “…Cùng với khoa học
và công nghệ, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng câo dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, và coi “Giáo dục và đào tạo là
chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai”. Nghị quyết trung ương 2, khoá
VIII của Đảng, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và hội nghị
trung ương 6 khoá IX đã khẳng định: “ phát triển giáo dục - đào tạo là một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy, nguồn lực con người – yếu tố cơ
bản phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Giáo dục tiểu học được coi là bậc học nền tảng, nền móng cho ngôi
nhà giáo dục, và tất nhiên chúng ta sẽ không thể xây lên được những ngôi
nhà cao, đẹp, chắc chắn, bền vững trên một nền móng yếu ớt. Giáo dục tiểu
học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ về các kĩ năng cơ
1
bản để học sinh tiếp tục học lên. Quản lí trường tiểu học, một vấn đề nhạy
cảm mang dấu ấn đặc trưng của quá trình lao động sư phạm, mà người hiệu
Các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường
tiểu học.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường
tiểu học huyện Tam Đảo đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song
trong quá trình thực hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế. Hiệu quả giáo dục có
thể được nâng lên nếu người hiệu trưởng thực hiện đồng bộ, sáng tạo các
biện pháp quản lí hoạt động dạy học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quản lí hoạt động dạy học của
hiệu trưởng trường tiểu học.
5.2. Nghiên cứu thực trạng về các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của
hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
5.3. Hoàn thiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của huyện Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu biện pháp quản lí hoạt động dạy học của
hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc trong giai
đoạn từ 2005 đến 2010.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
- Phương pháp hệ thống hoá lí thuyết
- Phương pháp mô hình hoá lí thuyết
- Phương pháp giả thuyết
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
3
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Đảm bảo định mức lao động với các giáo viên.
- Giúp đỡ thiết thực và cụ thể để cho các giáo viên hoàn thành tốt các
trách nhiệm của mình.
Từ các nguyên tắc chung đó các tác giả đã nhấn mạnh các vai trò
quản lí trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn
cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo việc quản lí dạy và học là
nhiệm vụ trung tâm của nhà trường”. Đặc biệt với sự tâm huyết của mình
đối với công tác giáo dục, các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng phải là
người “luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lí dạy và học (theo
nghĩa rộng) với sự quản lí các quá trình bộ phận. Hoạt động dạy học của
5
các bộ môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy học nhằm làm
cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh trọn vẹn”.
- Biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho giáo viên và bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng tiềm lực giảng dạy cho đội ngũ giáo
viên cũng là một bộ phận được tác giả Nguyễn Văn Lê chú trọng trong các
biện pháp quản lí của hiệu trưởng [21; 5].
- Tác giả Nguyễn Thị ẩn đánh giá cao công tác thi đua và khen
thưởng trong quá trình quản lí. Bởi thi đua là động lực cho mọi thành viên
phát huy hết khả năng, trí tuệ ,động viên lẫn nhau dạy thật tốt, học thật tốt,
làm cho chất lượng và hiệu quả giáo dục ngày một nâng cao hơn [1; 3]
Tác giả Lê Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thanh cũng đã nhấn mạnh
trong tài liệu “Giáo dục tiểu học – Những vấn đề đặt ra ở các nước trong
khu vực Châu á - Thái Bình Dương” như sau: “Các nhà quản lí làm công
tác giáo dục phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng điều hành và
quản lí của mình để qua đó tác động một cách có hiệu quả vào quá trình cải
tiến chất lượng ở các khâu, các biện pháp của hệ thống giáo dục ở cấp vi
mô cũng như vĩ mô” [33]
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học, từ lâu đã được các nhà
nghiên cứu trong nước quan tâm. ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác
nói chung của một cấp học, chưa có đề tài nào đề cập tới các BPQLHĐDH
của hiệu trưởng tiểu học miền núi. Việc chỉ ra những BPQLHĐDH của
hiệu trưởng trường tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ở huyện Tam
Đảo – Vĩnh Phúc, chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong
luận văn này.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lí
Quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, nó xuất hiện từ khi
con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ
7
không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, nó là một yếu tố cần
thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung.
Con người trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển với những hình thái
xã hội khác nhau thì cũng có bấy nhiêu kiểu quản lí. Quản lí vừa là biện pháp
hành chính, vừa là nghệ thuật, sau này khi khoa học phát triển, quản lí thành
khoa học ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
K. Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào
được thực hiện ở một quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất
định đến sự quản lí. Quản lí xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và
hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ
phận riêng rẽ của nó”. [20; 9]. Như vậy, bản chất của quản lí là một loại lao
động để điều khiển lao động. Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao
động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lí càng có vai trò quan trọng.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm về quản lí dưới các
góc độ khác nhau:
Các nhà nghiên cứu lí luận liên bang Nga cho rằng: Quản lí một hệ
thống xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động (của chủ thể quản lí) vào
hệ thống, chủ yếu là vào con người, nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế
– xã hội nhất định.[ 20; 9]
Hoặc: “Quản lí là tính toán sử dụng hợp lí các nguồn lực (nhân lực,
những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản
lí mong muốn” [ 15; 225]
Theo tác giả Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm: “Quản lí là tác
động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp
hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động. [4]
Từ những định nghĩa trên ta rút ra một số điều khái quát là:
- Quản lí là hoạt động tất yếu của những hệ thống có tổ chức, chủ
yếu là tập thể người (nhóm).
9
- Quản lí bao giờ cũng hướng đích: có mục tiêu, có tổ chức, có các
tác động tương ứng phù hợp nhằm hướng dẫn điều khiển những đối tượng
quản lí để đạt tới những mục tiêu định sẵn.
- Quản lí bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các
thành phần.
+ Chủ thể quản lí (người quản lí, tổ chức quản lí) đề ra mục tiêu dẫn
dắt điều khiển các đối tượng quản lí để đạt tới mục tiêu đã định sẵn.
Khách thể quản lí (đối tượng quản lí) con người (được tổ chức thành
một tập thể, một xã hội …); thế giới vô sinh (các trang thiết bị kĩ thuật), thế
giới hữu sinh (vật nuôi, cây trồng…).
- Cơ chế quản lí: Những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản lí
được thực hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lí và khách thể
quản lí được vận hành điều chỉnh.
- Mục tiêu chung: Cho cả đối tượng quản lí và chủ thể quản lí là căn
cứ để chủ thể quản lí tạo ra các hoạt động quản lí.
* Quản lí là khoa học, là nghệ thuật sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu
quả cao nhất mà chi phí thấp nhất.
* Quản lí tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lí và khách thể quản
lí. Chủ thể quản lí tạo ra các tác động quản lí, còn khách thể quản lí tạo ra
các sản phẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hoá mục tiêu đã định và thoả
mãn mục đích của nhà quản lí.
bộ hệ thống được quản lí.
1.2.2. Quản lí hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học
Trong quản lí nhà trường, quản lí hoạt động dạy học là nhiệm vụ
hàng đầu. Quản lí hoạt động dạy học là quản lí các hiệu quả thành tố cấu
trúc của hoạt động dạy học, cần phải tạo điều kiện và tác động cho sự cộng
tác tối ưu giữa giáo viên và học sinh, nhằm xác định đúng mục tiêu, lựa
chọn nội dung chương trình thích hợp, thực hiện đúng kế hoạch, áp dụng
hài hoà các phương pháp, tận dụng các phương tiện và điều kiện có tổ chức
linh hoạt các hình thức dạy học, tìm ra phương tiện kiểm tra - đánh giá kết
11
quả dạy học đáng tin cậy. Để quản lí hoạt động dạy học có hiệu quả cần
tuyệt đối chú ý đến những vấn đề cơ bản sau:
+ Chỉ đạo nội dung chương trình dạy học: Nội dung chương trình
dạy học thường xuyên được cụ thể hoá bằng môi trường dạy học trong từng
bộ môn, thông qua nôi dung đó mà người học sinh tiếp tục hoàn thiện, phát
triển những năng lực trí tuệ và nhân cách của mình theo mục tiêu đó.
+ Quản lí việc sử dụng sách giáo khoa là pháp chế trong quản lí tài
liệu, hướng dẫn dạy và học. Tính linh hoạt trong quản lí nội dung, trong
trình dạy học thể hiện ở chỗ tinh giản, mở rộng, bổ sung những nôi dung
đặc thù trong phạm vi cần thiết đối với từng loại trường.
+ Chỉ đạo hoạt động dạy học trên lớp: Chỉ đạo phương hướng chính
trị tư tưởng bài giảng, vì phương hướng chính trị của bài giảng là yếu tố
hàng đầu góp phần hình thành sự phát triển nhân cách người học.
+ Chỉ đạo việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh: kiểm
tra, đánh giá là một khâu không thể thiếu được trong hoạt động dạy học.
Chỉ đạo việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm tác động
trực tiếp đến giáo viên để họ thực hiện đầy đủ và khoa học quá trình kiểm
tra, đánh giá trên cơ sở công bằng, khách quan nhằm thúc đẩy quá trình học
tập của học sinh và quá trình giảng dạy của giáo viên đáp ứng ngày càng
đầy đủ và vững chắc các yêu cầu do mục tiêu đã đề ra.
trì và bảo tồn những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích luỹ được, nó
thựuc hiện các chức năng xã hội hết sức quan trọng đó là chức năng kĩ
thuật sản xuất, chức năng chính trị xã hội, chức năng văn hoá tư tưởng. V.I
Lênin coi giáo dục là hiện tượng tất yếu và vĩnh hằng của xã hội loài người.
Vì ở đâu có con người thì ở đó có giáo dục, có dạy học, ở đâu còn con
người ở đó còn sự truyền đạt những kinh nghiệm của xã hội loài người và
như vậy giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó có con
đường quan trọng nhất là tổ chức dạy học, đó là con đường ngắn nhất để
chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm đã tích luỹ được của cả nhân loại. Hoạt
13
động dạy học sẽ cung cấp cho con người hệ thống kiến thức khoa học, bồi
dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kĩ năng thực tiễn nhằm nâng cao
trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hoá. Mục đích cuối cùng là hình
thành cho người học được trang bị những kiến thức mới tiếp thu một cách
năng động tự chủ, sáng tạo và vận dụng trong thực tế cuộc sống. Như vậy,
thực hiện được chức năng nâng cao dân trí cho toàn xã hội.
Dạy học được thực hiện trong môi trường thuận lợi là nhà trường.
Nội dung chương trình liên hoàn, phù hợp với từng lứa tuổi, thích ứng với
từng môi trường nghề nghiệp của địa phương. ở nhà trường phổ thông, đặc
biệt là trường tiểu học thì hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm, nó
giúp cho học sinh nắm vững kiến thức một cách có hệ thống qua hoạt động
dạy của thầy giáo. Theo Babanxky: chỉ có tác động qua lại giữa thầy và trò
thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học – nếu không có mối liên hệ tác
động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó. Theo
Đặng Vũ Hoạt thì: Hoạt động của thầy là hoạt động điều khiển,’.hoạt động
cuảt trò là hoạt động tự điều khiển của quá trình dạy.
Hoạt động dạy là hoạt động của thầy với vai trò là người tổ chức,
điều khiền chỉ đạo,hướng dẫn hoạt động nhận thức nói riêng và hoạt động
học tập của học sinh nói chung nhằm thực hiện các mục đích và nhiệm vụ
dạy học.Hoạt động học là quá trình nhận thức, đóng vai trò chủ động, tích
tổ chức giáo dục) nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập
với tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em, nơi diễn ra cuộc sống
thực của trẻ em và là nơi tạo cho trẻ em có hạnh phúc đi học.
Như vậy, với tư cách là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục
quốc dân, giáo dục tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ
xây dựng toàn bộ nền móng không những chỉ đạo cho giáo dục phổ thông
mà còn cho cả sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Điều 3 - luật phổ cập giáo dục tiểu học quy định mục tiêu của giáo
dục tiểu học là: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững
15
các kĩ năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên
nhiên, xã hội, con người, có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu
quý anh chị em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp
đỡ bạn bè, em nhỏ; yêu lao động, có kỉ luật, có nếp sống văn hoá; có thói
quen rèn luyện thân thể và giữ vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hoà
bình”
Trong điều 27 khoản (2) của luật giáo dục cũng đã ghi rõ: “Giáo dục
tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS” [ 24; 20].
Mục tiêu chung của giáo dục tiểu học trong giai đoạn mới là: “Xây
dựng cấp tiểu học lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển bền vững
và về cơ bản đạt trình độ tiến triển” [ 6; 21]
Như vậy, mục tiêu của giáo dục tiểu học đã khẳng định:
+ Phát triển toàn diện con người là mục tiêu chung và lâu dài của
giáo dục phát triển. Giáo dục tiểu học chỉ hình thành cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đó.
+ Con người phát triển toàn diện phải có đầy đủ các phẩm chất và
năng lực về đạo đức trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và phải có các khái niệm cơ
bản để tiếp tục học lên, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Trích đoạn Thực trạng hoạt động dạyhọc ở các trường tiểu học huyện Tam Đảo Thực trạng biện pháp quản lí hoạt động dạyhọc của hiệu trưởng tiểu học huyện Tam Đảo Đánh giá kết quả của các biện pháp quản lý hoạt động dạy của hiệu trưởng trường tiểu học Tam Đảo Chỉđạo xâydựng nền nếp dạyhọc Quản lý chương trình và kế hoạch dạyhọc.