PHÁT HUY DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ
SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG
Đảng Cộng sản Việt Namlà đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Từ khi ra đời, Đảng là tổ chức chính
trị duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Khi cách mạng thắng lợi, giành được chính
quyền, Đảng trở thành Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo xây dựng xã hội mới - xã hội do
nhân dân làm chủ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, trước hết Đảng phải là tấm gương thực
hành dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng
dân chủ”(1), trong Đảng “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý
kiến của mình” (2) Mặt khác, mỗi đảng viên bất cứ ở địa vị nào cũng phải làm gương dân
chủ.
1. Vấn đề thực hiện dân chủ trong Đảng
Trong thời kỳ lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống xâm lược, phải
hoạt động trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, Đảng đã động viên tinh thần trách nhiệm,
tính chủ động, sáng tạo của mỗi đảng viên từ Trung ương đến cơ sở để tổ chức, lãnh đạo
quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Lúc đó, ngoài lợi ích dân tộc, lợi ích
giai cấp, hầu như không ai nghĩ đến lợi ích cá nhân. Mọi cán bộ, đảng viên đều một lòng,
một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân nên quan hệ trong Đảng là bình đẳng, đoàn kết,
thống nhất. Dân chủ trong Đảng được phát huy, trở thành bài học kinh nghiệm thành công
và truyền thống quý báu của Đảng ta.
Khi trở thành Đảng cầm quyền, trong điều kiện xây dựng đất nước hòa bình, nhiều tổ chức
đảng và đảng viên được giao đảm nhiệm những cương vị lãnh đạo, chỉ huy, quản lý trong hệ
thống chính trị và bộ máy kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao , trở thành có quyền lực.
Cùng với sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, của giao lưu, hội nhập quốc tế,
của chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhất là sự chưa thường xuyên giữ vững và nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, sự buông lỏng quản lý, giáo dục
đảng viên của tổ chức đảng, sự thiếu rèn luyện, tu dưỡng của mỗi đảng viên, dẫn đến tình
trạng bao biện, quan liêu, gia trưởng, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức trong nhiều tổ
chức đảng và ở nhiều đảng viên, nhất là ở một số đảng viên có chức, có quyền. Ở một số
nơi, ý kiến của đảng viên không giữ cương vị lãnh đạo, chỉ huy chưa được quan tâm xem xét
đầy đủ, hoặc không được phản ánh lên cấp ủy cấp trên. Mặt khác, không ít đảng viên thiếu
thắn cấp ủy cấp trên, nhất là người đứng đầu. Trong sinh hoạt đảng, do những lý do khác
nhau, nhiều đảng viên không dám nói chính kiến của mình, ngại đấu tranh, phê bình khuyết
điểm của cán bộ đảng, chính quyền cấp trên và cả của đồng chí mình, né tránh các vấn đề
phức tạp. Tình trạng thiếu dân chủ thường đi đôi với hiện tượng quan liêu, gia trưởng, độc
đoán, chuyên quyền. Một số vụ việc tham nhũng lớn vừa qua, hầu như không một vụ nào
do tổ chức đảng và đảng viên tại chỗ phát hiện mà đều do đảng viên cấp dưới, quần chúng
hoặc cơ quan báo chí, cơ quan pháp luật phát hiện. Điều đó cho thấy sự yếu kém về sức
chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.
2. Những nội dung cơ bản của phát huy dân chủ trong Đảng
Từ lý luận và thực tiễn ở các nước xã hội chủ nghĩa, cũng như tình hình dân chủ trong Đảng
ta vừa qua, cho thấy phát huy dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng là yêu cầu cấp bách
để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nội dung cơ bản về phát huy
dân chủ trong Đảng hiện nay là:
Một là, dân chủ trong xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng.
Đường lối, chủ trương là vấn đề quan trọng nhất trong lãnh đạo của Đảng. Đường lối, chủ
trương đúng là nhân tố cơ bản bảo đảm cho cách mạng thắng lợi và sự vững mạnh của
Đảng. Đảng cần phải huy động được trước hết là trí tuệ của toàn Đảng, tiếp đó là sự đóng
góp của toàn dân vào việc xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng.
Khi nắm chính quyền, đường lối, chủ trương của Đảng được chuẩn bị theo quy trình đầy đủ
hơn, cấp ủy và cơ quan chuyên trách chuẩn bị, các tổ chức đảng và đông đảo đảng viên
tham gia ý kiến, nhiều đường lối, chủ trương còn được công khai tranh thủ ý kiến quần
chúng, sau đó mới đưa ra các hội nghị hoặc đại hội thảo luận, quyết nghị thành nghị quyết.
Trong nhiều thời kỳ cách mạng, kể cả thời kỳ đổi mới, có những vấn đề từ thực tiễn mà tổ
chức đảng, và đảng viên cơ sở sáng tạo ra những cách thức mới có hiệu quả để khắc phục
khó khăn, đưa cách mạng tiến lên. Trung ương Đảng đã tôn trọng, tiếp thu những sáng kiến
đó, hoàn thiện thành đường lối, chủ trương chung của Đảng. Nhờ vậy, từ khi ra đời đến nay,
đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng của Đảng ta đều đúng đắn; những sai lầm,
khuyết điểm được nhanh chóng phát hiện và sửa chữa.
Hiện nay, nước ta là một nước chậm phát triển, đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt ra cần được giải quyết mà chưa có tiền lệ trên
trong bối cảnh quốc tế hiện nay. Nếu không thường xuyên học tập nâng cao trình độ sẽ trở
thành lạc hậu trước sự tiến nhanh của khoa học, chẳng những sẽ không lãnh đạo được quần
chúng mà lại “chạy sau” quần chúng.
Ba là, dân chủ trong sinh hoạt đảng.
Sinh hoạt đảng là một hoạt động thường xuyên và rất quan trọng của Đảng. Mọi đường lối,
chủ trương, tổ chức thực hiện, tổng kết rút ra kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng, xây dựng
bản thân Đảng, đấu tranh với các thế lực chống Đảng… đều từ trong sinh hoạt đảng. Sinh
hoạt dân chủ, chất lượng cao sẽ làm cho Đảng mạnh. Trong Đảng, mọi đảng viên, bất kỳ
cương vị gì đều bình đẳng, không có đẳng cấp trong Đảng, không có đảng viên cấp trên,
đảng viên cấp dưới. Vì thế, dân chủ trong sinh hoạt đảng là điều tất yếu và có ý nghĩa quyết
định dân chủ trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta. Kế thừa và phát triển truyền thống dân
chủ nội bộ trước yêu cầu mới, Điều lệ của Đảng được các Đại hội thông qua đều quy định cụ
thể nguyên tắc tập trung dân chủ cùng những nội dung cơ bản của nguyên tắc đó. Đảng
cũng có những quy chế, quy định… về tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX đã ra “Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư khóa IX” quy định trách nhiệm và quyền hạn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung
ương, bao gồm cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; trách nhiệm và quyền hạn của
Bộ Chính trị; trách nhiệm và quyền hạn của Ban Bí thư và Thường trực Ban Bí thư; trách
nhiệm và quyền hạn của Tổng Bí thư. Quy chế cũng xác định chế độ làm việc và phương
pháp công tác của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Các ban của Đảng
cũng đều có quy chế riêng xác định chức năng, nhiệm vụ của cơ quan mình. Ban Tổ chức
các cấp của Đảng có nhiều hướng dẫn về tổ chức, sinh hoạt của các tổ chức đảng trong từng
thời kỳ, từng lĩnh vực hoạt động. Trong đó quy định rõ phải bảo đảm cho mọi đảng viên thực
hiện quyền dân chủ thảo luận xây dựng đường lối, chính sách của đảng; ứng cử, bầu cử các
cơ quan lãnh đạo; giám sát, kiểm tra hoạt động của cấp ủy, được phê bình, chất vấn về
hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức. Đảng viên được
trình bày quan điểm, ý kiến của mình trong tổ chức, được bảo lưu ý kiến và kiến nghị với cơ
quan có trách nhiệm của Đảng. Mọi cấp ủy viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý
kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết định của cấp ủy… Đó là những quy định
nhằm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng.
chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ
phải được thực hiện theo đúng điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên
tắc khác như tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất trong Đảng. Cơ quan lãnh đạo
phải nắm vững quyền chỉ đạo tập trung, điều hành thống nhất, đó là lãnh đạo tập thể. Tăng
cường sự lãnh đạo tập thể phải trên cơ sở và đi đôi với mở rộng dân chủ. Trong sinh hoạt
đảng, mọi ý kiến khác nhau cần được thảo luận dân chủ, thẳng thắn và quyết định tập thể.
Ngoài việc nâng cao nhận thức, điều quyết định bảo đảm thực hiện trong thực tế những nội
dung đó là phải có cơ chế đúng, có những quy định cụ thể và phải có tinh thần đấu tranh
kiên quyết để thực hiện các quy chế, quy định đó. Mọi cán bộ đảng viên có quyền tham gia
quyết định công việc của Đảng, được chất vấn, phê bình trong phạm vi tổ chức về hoạt
động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; quyền được thông tin, thảo luận, nêu ý kiến
riêng, được bảo lưu ý kiến và trình bày ý kiến trong tổ chức đảng. Tuy nhiên thiểu số phải
phục tùng đa số, khi Đảng đã có nghị quyết thì mỗi đảng viên phải nói và làm theo nghị
quyết. Trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở phải chấp hành nghiêm túc các quy định về chế
độ báo cáo, chế độ tự phê bình và phê bình. Các cơ quan được bầu phải chịu sự giám sát
của tổ chức và đảng viên, phải báo cáo hoạt động trước tổ chức đã bầu ra mình, thường
xuyên báo cáo tình hình và hoạt động của mình đến các tổ chức đảng cấp dưới và đảng
viên. Xây dựng quy trình, quy chế ra quyết định của Đảng, bảo đảm phát huy trí tuệ tập thể
thông qua các đại hội, hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu. Hoàn thiện quy chế bảo đảm
quyền kiểm tra , giám sát của tập thể đối với cá nhân, của tổ chức với tổ chức, của cá nhân
với cá nhân và tổ chức, quy chế về bảo lưu ý kiến và xem xét ý kiến bảo lưu.
- Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Tổng kết sự lãnh đạo trong quá trình đổi mới, Đảng ta khẳng định những thành tựu và yếu
kém đều bắt nguồn từ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Vì thế, Đảng đã quyết định mở
cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhân dịp kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng. Xây dựng Đảng phải đi đôi
với chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thường xuyên trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư
tưởng và tổ chức để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong mọi tình huống. Xây dựng,
chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh có phần là kết quả của việc phát huy dân chủ trong
Đảng, đó cũng là biểu hiện trình độ dân chủ trong Đảng. Nhưng điều quan trọng hơn, đây là
có chức, có quyền thì lơi lỏng tu dưỡng, mắc bệnh quan liêu, tham nhũng, hạch sách cấp
dưới và quần chúng nhân dân. Hiện tượng này cần được nhanh chóng khắc phục.
- Kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng trong Đảng
cũng như trong toàn xã hội.
Từ lý luận và thực tiễn phong trào cộng sản thế giới cũng như kinh nghiệm đảng cầm
quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội mấy chục năm qua ở nước ta, Đảng ta nhận định hiện
nay quan liêu, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, là một nguy cơ, thách thức đối với sự
sống còn của Đảng, của cách mạng nước ta. Đây là thủ phạm chính gây ra tình trạng mất
dân chủ trong Đảng. Các tổ chức đảng và đảng viên phải đi đầu, nêu gương chống quan
liêu, tham nhũng, lãng phí, chống đặc quyền, đặc lợi, hách dịch, cửa quyền. Đây là những tệ
nạn đang diễn ra gây bức xúc trong xã hội hiện nay. Phát huy dân chủ và chống quan liêu,
tham nhũng là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động, thúc đẩy lẫn nhau. Thực hiện tốt
việc chống quan liêu, tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi trong Đảng sẽ có tác động
quyết định đến việc chống quan liêu, tham nhũng, thực hành dân chủ, làm lành mạnh các
quan hệ xã hội. Vì thế, đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng là một nhiệm vụ
trọng tâm của công tác xây dựng Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, toàn thể cán bộ, đảng
viên phải coi đây là nhiệm vụ chính trị của mình trong công tác xây dựng Đảng.
Từ bản chất của Đảng và vai trò là Đảng cầm quyền, trước thực trạng và yêu cầu phát huy
dân chủ trong Đảng và trong xã hội hiện nay, vấn đề phát huy dân chủ trong Đảng phải
được nhận thức đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng. Các tổ chức đảng, cấp ủy các cấp, mọi đảng viên phải tự giác thực hiện
và kiên quyết đấu tranh với các tư tưởng, hành vi sai trái vi phạm dân chủ trong Đảng và cả
xã hội. Chỉ khi thực hiện tốt nhiệm vụ này mới giữ vững và củng cố vai trò lãnh đạo của
Đảng, lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc Việt Namxã hội chủ nghĩa.