Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị lãnh
đạo mọi mặt ở cơ sở, là nơi tiết thu truyền bá và tổ chức thực hiện cụ thể hóa
các chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nớc vào
cuộc sống, là nơi phản ánh những vấn đề cuộc sống đã đặt ra thành nghị
quyết, đờng lối, chính sách pháp luật. Vì vậy tổ chức cơ sở đảng mạnh thì
Đảng mới mạnh. Nhận thức điều đó, từ ngày thành lập Đảng đến nay, Đảng
NDCM Lào luôn thờng xuyên quan tâm chăm lo xây dựng đảng, củng cố tổ
chức cơ sở đảng và xác định đó là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng
Đảng. TCCSĐ có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức thực hiện
thắng lợi đờng lối của Đảng ở cơ sở. Vì vậy, coi trọng xây dựng và nâng cao
năng lực lãnh đạo (NLLĐ) và sức chiến đấu (SCĐ) của TCCSĐ là nội dung cơ
bản, là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng
của các Đảng Cộng sản cũng nh Đảng Nhân dân cách mạng (ĐNDCM) Lào.
Chủ tịch Cay-sỏn-phổm-vi-hản đã cho rằng: Đảng ủy cơ sở là đội tiên
phong trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, thực hiện đờng lối , chính sách của Đảng
Những năm qua, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ chính
trị của Đảng nhân dân cách mạng Lào (1998) Về củng cố xây dựng tổ
chức cở đảng vững mạnh, trong sạch và biết lãnh đạo toàn diện, Chỉ thị số
65/BTCTW của Ban tổ chức Trung ơng về Nội dung và tiêu chí xây dụng tổ
chức cơ sở đảng vững mạnh, trong sạch và biết lãnh đạo toàn diện ở cơ sở,
nhiều đảng bộ cơ sở và chi bộ đảng ở khu nông thôn đẫ lãnh đạo thực hiện
đạt hiệu quả trong nhiệm vu phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, phát triển ngành nghề, xóa đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng,
phát huy dân chủ, thực hiện công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị -
xã hội, đợc nhân dân đồng tình ủng hộ.
Tuy nhiên, chất lợng của tổ chức cơ sở đảng không đồng đều, không
ít cơ sở các vùng, khu vực, nhất là ở nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa
còn yếu kém, lúng túng trong lãnh đạo, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân, các cơ sở đó cha làm tốt nhiệm vụ tự đổi mới, tự chỉnh đốn, cha
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Khái quát đợc những quan điểm cơ bản về
vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng nông thôn huyện Th pang thoong, tỉnh Sa vẳn na
kht trong những năm qua. Từ đó xác định rõ nguyên nhân yếu kém và rút ra
một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng.
2
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng nông thôn huyện Thà
pang thoong, tỉnh Sa vn na kht trong xu thế hội nhập hiện nay.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
- Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng nông
thôn huyện Th pang thoong, tỉnh Sa vn na kht.
- Thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2010
4. Phơng pháp nghiên cứu:
- Đề tài này đợc thực hiện theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin;
t tởng Hồ Chí Minh,t tng ca Cay-xn-Phụm-Vi-Hn, quan điểm, chủ tr-
ơng, đờng lối, chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào.
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng kết hợp các phơng pháp khác nh: Phơng
pháp khảo sát, điều tra xã hội học, kết hợp phơng pháp lôgíc và lịch sử, ph-
ơng pháp thống kê và tổng hợp
5. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, luận văn đợc chia làm ba chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức cơ sở Đảng, về năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
Chơng 2: Thực trạng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ
sở đảng nông thôn huyện Thà pang thoong, tỉnh Sa vn na kht.
Chơng 3: Phơng hớng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn huyện Th
pang thoong, tỉnh Sa vn na kht trong giai đoạn hiện nay.
- TCCS cú t 30 ng viờn chớnh thc tr lờn lp ng b c s, cú
cỏc chi b trc thuc ng y.
- Nhng trng hp sau õy, cp y cp di phi bỏo cỏo v c
cp y cp trờn trc tip ng ý mi c thc hin:
+ Lp ng b c s trong n v c s cha d 30 n viờn chớnh thc.
+ Lp chi b trc thuc ng y c s hn 30 ng viờn chớnh thc.
+ Lp ng b b phn trc thuc ng y c s.
1.2. Quan im ca ch ngha Mỏc Lờnin, t tng H Chớ Minh v t
tng tch Cay-Xn-Phụm-Vi-Hn v v trớ vai trũ t chc c s ng
C. Mác và Ph-Ăngghen là những ngời đầu tiên tham gia sáng lập
chính Đảng cộng sản. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do Mác và
Ăngghen khởi thảo và đợc xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Đức năm 1848,
Mác và Ăng ghen đã viết: Giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất,
tiến bộ nhất, có sứ mệnh giải phóng giai cấp và nhân dân lao động khỏi áp
bức, bóc lột bất công, xây dựng chế độ xã hội văn minh, tiến bộ; nhng giai
cấp công nhân chỉ có thể thực hiện đợc sứ mệnh lịch sử của mình khi tự nó
thành lập ra đợc chính Đảng độc lập của giai cấp công nhân và đối lập với
các kiểu chính Đảng t sản khác.
Theo Mác và ăngghen, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân phát
triển đến một trình độ nhất định thì cần có một tổ chức để tập hợp, lãnh đạo
5
cuộc đấu tranh, tổ chức đó là Đảng. Sự ra đời của Đảng cộng sản là nhằm
thống nhất và lãnh đạo lực lợng đấu tranh, bảo đảm sức mạnh có tổ chức để
chiến thắng. Đảng ra đời là đòi hỏi tất yếu của lịch sử, là sản phẩm của cuộc
đấu tranh giai cấp. Đảng là một tổ chức chặt chẽ nhất, thống nhất cả về chính
trị, t tởng và tổ chức. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng phải đợc bầu cử một
cách dân chủ và họ có thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành đợc nhiệm vụ
tổ chức giao. Mọi thành viên trong Đảng đều đợc bình đẳng, tự do thảo luận
những vấn đề sinh hoạt, tranh luận trong khuôn khổ tổ chức.
Khi xác định vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong hệ thống tổ chức bộ
1
(1)
C.Mác và Ph-Ăng ghen : Toàn tập, tập 7, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 tr 398
1
- V.I.Lê Nin toàn tập Nxb tiến bộ Mat X cơ va1979, tr 217
2
- V.I.Lê Nin toàn tập, tập 41. Nxb tiến bộ, Mat x cơ va1977, tr 232, 233
6
xã hội mới, bảo đảm sự thống nhất từ Ban chấp hành Trung ơng đến từng chi
bộ và mỗi đảng viên. Đây cũng là nguyên tắc cơ bản để phân biệt chính
Đảng Cộng sản chân chính với các kiểu chính Đảng cơ hội, cải lơng, vô
chính phủ.
Trong cuộc đấu tranh để xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công
nhân, V.I Lênin hết sức coi trọng chăm lo xây dựng các tiểu tổ công nhân
dân chủ - xã hội, phát triển những tiểu tổ đó trở thành những chi bộ cơ sở
trong các nhà máy, công xởng, khu dân c của Đảng Bôn Sê Vích Nga. Khi
cách mạng thắng lợi. Đứng trớc những nhiệm vụ nặng nề, phức tạp của Đảng
cầm quyền, tổ chức cơ sở Đảng không ngừng tăng lên về số lợng và đa dạng
về nội dung hoạt động, V.I Lênin xác định rõ hơn vai trò của các tổ chức cơ
sở đảng, Ngời nhấn mạnh :"Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và
với Trung ơng Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn cho nhau, phải làm công
tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao
động. Những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ đó
mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng
lao động một cách có hệ thống để lãnh đạo và qua đó rèn luyện bản
thân Đảng ".
1
Bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và phát huy vai
trò chủ động, sáng tạo của mỗi tổ chức Đảng ở cơ sở là hai mặt của một vấn
đốn Đảng, quan tâm xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng. Khi nói chuyện ở các
lớp huấn luyện Đảng viên mới, Người thường căn dặn: "Để hoạt động cách
mạng, thực hiện nhiệm vụ đường lối của Đảng, mỗi Đảng viên phải hoạt
động trong một tổ chức cơ sở của Đảng, cho nên các cô, các chú phải hiểu
rõ vai trò và nhiệm vụ của chi bộ, cố gắng góp phần của mình vào việc xây
dựng chi bộ "bốn tốt". Phải hiểu về quyền hạn nhiệm vụ của mình đối với
Đảng, không đi theo đường lối quần chúng của Đảng thì sẽ mắc bệnh quan
liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng"
(1,2)
. Người còn chỉ rõ: "Để lãnh đạo
cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do có nhiều chi bộ tốt, chi bộ
tốt là do nhiều đảng viên tốt"
(2)
.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vai trò chi bộ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã phân tích: "Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan. Bởi vậy
nhiệm vụ của chi bộ là làm sao cho toàn thể nhân viên đều cố gắng thực
hiện đầy đủ chính sách của Đảng, của Chính phủ và hết lòng phục sự nhân
dân. Giải thích cho mọi người thấu hiểu chính sách của Đảng, của Chính
phủ. Khuyến khích mọi người đề nghị ý kiến để thực hiện đầy đủ những
chính sách ấy làm cho mọi người đều hiểu về nhiệm vụ vẻ vàng của mình,
(1,2)
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, Nxb Lao động. H, 2004, tr159, 137.
8
bất kỳ ở đơn vị nào, làm công việc gì đều vì nhân dân, vì Tổ quốc mà đấu
tranh, đều thi đua làm đúng những nghị quyết và kế hoạch của Đảng của
Chính phủ"
(1)
.
Chủ tịch Cay-Xỏn-Phôm-Vi-Hản đã hết sức quan tâm đến việc tổ
2
Bài phát ngôn của Chủ tịch Cay-xỏn-Phôm-Vi-Hản trong Đại hội tổ chức toàn quốc lần thứ 7,tr50.
9
sứ mệnh lịch sử có danh dự của mình trong lãnh đạo đất nước và xã hội Lào
tiến tiên theo hướng CNXH mà Đảng và Chủ tịch Cay- xỏn-Phôm-Vi-Hản
kính yêu đã xây dựng nền tảng để lại.
1.3.Quan điểm của ĐảngNhân dân cách mạng Lào về TCCSĐ và tỏ chức
cơ sở Đảng nông thôn.
Với sự thắng lợi thành lịch sử của quốc gia Lào vào ngày 02 tháng
12,năm 1975 đất nước Lào đã thiết lập Nước CHNDND Lào. Đảng trở
thành là người cầm quyền và tiếp tục lãnh đạo cách mạng Lào tiến lên
CNXH. Suốt quá trình lãnh đạo của mình, Đảng lấy việc xây dựng chi bộ
vững mạnh- biết lãnh đạo toàn diện gắn liền với xây dựng thôn bản, gắn với
cụm bản chiến đấu liên tục, xây dựng bản to, cụm bản phát triển. Chính vì
thế, Đảng mới làm tròn nhiệm vụ rất là danh dự vẻ vang trong sự nghiệp bảo
vệ và phát triển đất nước, giữ được độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh
thổ.Trong nghiệp đổi mới, do thấy được vai trò quan trọng của TCCSĐ
trong sự tăng cường vai trò và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện mới.
Đảng đã nhấn mạnh: TCCSĐ là nền tảng của Đảng và là yếu tố quyết định
sự lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng đã đánh giá:
“ khâu yếu kém nhất là trong hệ thống TCCSĐ là TCCSĐ nông thôn, do
nhiều tỉnh, nhiều địa phương xem nhẹ, bỏ qua không quan tâm đến việc xây
dựng cơ sở đảng. Trong cùng một thời điểm đó, kẻ thù đảng đọng viên nhân
dân rồi tuyên truyền méo mó, xuyên tạc chủ trương, đường lối của chúng ta,
đánh đấu gây sự không ổn định và khích động gây vấn đề phức tạp ở cơ sở
”
(2).
Vì vậy, việc tập trung chỉnh đốn TCCSĐ là vấn đề cần thiết lấy TCCSĐ
thành nhiệm vụ trọng tâm và có ý nghĩa quyết định phương hướng chỉnh
đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược lâu dài và chủ yếu của Đảng mà các Nghị
nổi đã chứng minh: sự lãnh đạo của đảng là yêu tố quyết định sự thành công
và thắng lợi của cách mạng ở Lào. Song vào trong điều kiện mới đây, trước
sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình mà có cả cơ hội và thử thách đó
chế độ mới chúng ta sẽ tồn tại và phát triển đông đảo hay không cũng như
xây dựng đất nước theo hướng XHCN sẽ thành công hay không đó phải dựa
3
2.Tạp chí xây dựng Đảng, Học viện CT – HC QG Lào, tr 144.
11
vào Đảng ta ủng hộ vai trò và năng lực lãnh đạo được theo kịp với nhu cầu
đòi hỏi của tình hình chung cũng như sự phát triển hay không, có khả năng
làm lực lượng tiên tiến của Tổ quốc hay không? Điều đó chỉ ra rằng: Công
tác xây dựng Đảng là sự nghiệp to lớn, có ý nghĩa đến sống chết với sự
nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước Lào chúng ta.Nó còn nhấn mạnh về
công tác xây dựng đảng đặc biệt là việc tăng cường xây dựng cơ sở đảng
cho vững mạnh, chú trọng giáo dục tuyên huấn tư tưởng chính trị và theo
dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác cũng như trong đời
sống, rèn luyện đạo đức của đảng viên cho đông đảo và sâu sát; thực hiện
chế độ đánh giá phân loại cán bộ, đảng viên cho thường xuyên, tự phê bình
và phê bình lẫn nhau một cách mạnh dạn. Nghiên cứu đề ra quy định và cơ
chế về động viên quần chúng tham gia vào trong việc theo dõi, kiểm tra và
đóng góp ý kiến với đảng viên và có biện pháp phù hợp và kịp thời đưa ra
khỏi đảng đối với người bị suy thoái về phẩm chất đạo đức, tuyệt đối thực
hiện về công tác phát triển đảng lấy chất lượng là gốc, làm cho đội ngũ
của đảng gồm có người trẻ trung và có trình độ kiến thức, khả năng xuất
sắc từ các phong trào ngày càng nhiều.
- Tiếp tục chỉnh đốn cơ sở đảng vững mạnh bằng việc lấy xây dựng
chi bộ vững mạnh biết lãnh đạo toàn diện (VMTD) là công việc chủ yếu,
làm cho mọi cơ sở đảng có khả năng tập trung và phát triển sức mạnh của
mình, trong đó gồm cả các tổ chức mà dưới sự lãnh đạo của cơ sở đảng đó
vào làm tròn nhiệm vụ chính trị mà được giao cho, đồng thời chủ động đấu
dựng nội bộ Đảng trên địa bàn nông thôn. Tổ chức cơ sở Đảng nông thôn là
là người đại diện cho lập trường giai cấp công nhân ở nông thôn, hạt nhân
của khối đoàn kết trong nông dân và là khối liên minh công - nông
- trí ở nông thôn, là đơn vị chiến đấu cơ bản, tế bào của Đảng trên mặt trận
nông nghiệp và nông thôn mới.
- Tổ chức cơ sở ở Đảng nông thôn là “gốc rễ của Đảng” trong nông
dân, là cầu nối liền giữa Đảng với nông dân và nắm bắt kịp thời tâm tư,
13
nguyện vọng của họ phản ảnh với Đảng để Đảng đề ra đường lối, chủ
trương, chính sách phù hợp với nông dân, nông nghiệp, nông thôn. Đồng
thời tổ chức cơ sở Đảng nông thôn còn là nơi kiểm nghiệm, bổ sung, hoàn
thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
1.4. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng nông thôn
hiện nay
1.4.1. Quan niệm về năng lực, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng
Từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, cùng với đổi mới đất nước,
Đảng ta chủ trương đổi mới và chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ đảng
viên, xây dựng, củng cố và bảo vệ Đảng là cho Đảng luôn trong sạch, vững
mạnh, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới.
- Về năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng
Năng lực lãnh đạo là năng lực nắm bắt thực tiễn, nhận thức quy luật
vận động của sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó đề ra chủ trương, đường lối,
chính sách sáng tạo, phù hợp với hiện tượng khách quan, năng lực tổ chức
thực hiện đường lối của Đảng, năng lực kiểm tra để phát hiện đúng sai trên
cơ sở đó tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách.
Năng lực lãnh đạo là tổng hợp hai mặt đức và tài của người lãnh đạo
với hai yếu tố: Năng lực hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện, nhằm đảm
bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao. Lênin nói "Muốn quản lý được tốt, thì
ngoài các tài thuyết phục còn cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn,
công nhân của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn Đảng,
toàn dân Việt Nam. Sinh thời, Người luôn quan tâm đặc biệt đến việc giáo
dục đội ngũ cán bộ, đảng viên xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất,
coi đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công.
15
Sc chin u ca t chc c s ng cũn l tớnh t chc cht ch, k
lut nghiờm minh. Bỏc H ó dy "ng ta tuy nhiu ngi, nhng khi tin
hnh thỡ nh mt ngi"
(1)
. Cũn l tinh thn tiờn phong gng mu, núi i
ụi vi lm ca tng cỏn b, ng viờn.
Túm li: Sc chin u ca ng l s on kt, thng nht v ý chớ
v hnh ng, thng nht v chớnh tr t tng, t chc trong ng da trờn
nn tng ch ngha Mỏc - Lờnin, t tng H Chớ Minh, s gn bú mt thit
gia ng vi qun chỳng nhõn dõn lao ng, thc hin nguyờn tc tp
trung dõn ch trong xõy dng v hot ng ca ng, ly t phờ bỡnh v
phờ bỡnh l quy lut phỏt trin ca ng.
Sc mnh ca t chc c s ng l s kt hp bin chng gia nng
lc lónh o v sc chin u ca t chc c s ng: nng lc lónh o v
sc chin u ca t chc c s ng l hai mt ca mt vn thng nht
trong cụng tỏc xõy dng ng, cú mi quan h cht ch vi nhau, tỏc ng,
thỳc y qua li ln nhau. Nng lc lónh o ca ng cng c nõng cao
bao nhiờu thỡ sc chin u ca ng cng c cng c v tng cng by
nhiờu.
1.4.2. Nõng cao nng lc, sc chin u ca t chc c s ng
nụng thụn hin nay l mt tt yu khỏch quan trong tình hình hiện nay
Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là nâng cao năng
lực cụ thể hoá chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà n-
ớc, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên thành chơng trình, kế hoạch, nghị quyết,
Đảng là nhiệm vụ cấp thiết của Đảng hiện nay, đối với các tổ chức cơ sở
Đảng ở nông thôn lại cùng đặc biệt quan trọng. Bởi vì:
- Nớc ta, trong điều kiện một nớc nông nghiệp lạc hậu, gần 80% dân
số sống ở nông thôn, thì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng khó
khăn và phức tạp. Vì vậy, tất yếu phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nói chung và của tổ chức cơ sở đảng nông
thôn cho ngang tâm yêu cầu nhiệm vụ mới ngày càng cao hơn.
- Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt
Nam "Diễn biến hoà bình". "bạo loạn lật đổ" làm cho nội bộ mất đoàn kết,
phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta.
- ở nông thôn, các tổ chức cơ sở đảng phải lãnh đạo ở địa bàn không
giống nhau; dân c đông, trình độ mọi mặt còn thấp, còn nhiều hủ tục lạc hậu,
nhiều thành phần kinh tế nhng lại thiếu đất, thiếu vốn sản xuất, khó khăn về
17
thị trờng, t tởng sản xuất nhỏ lẻ, hẹp hòi ích kỷ, cơ sở hạ tầng nông thôn thấp
kém. Đội ngũ cán bộ, đảng viên không đồng đều về độ tuổi, trình độ năng
lực và sức chiến đấu còn nhiều hạn chế.
Cùng với việc coi nông nghiệp là mặt trận quan trọng hàng đầu, Đảng
Nhân dân Cách mạng Lào luôn coi trọng nâng cao chất lợng tổ chức cơ sở
Đảng nông thôn là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết.
Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
Đảng khu vực nông thôn là nhiệm vụ tất yếu và cấp bách, cần đợc quan tâm
chú trọng đúng mức, kịp thời.
18
Chương 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG NÔNG THÔN HUYỆN THÀ PANG THOONG
TÌNH SA VẲN NA KHỆT
2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Thà Pang Thoong
tỉnh Sa vẳn na khệt
quý giá và các loại lâm thổ sản quý hiếm. Trong địa giới, lãnh thổ Thà Pang
Thoong có nhiều dầu mỏ như: mỏ đông đỏ, thiếc, sắt, Aigas, đá quý, carbon
và proteth. Ngoài ra còn có nhiều đồi núi, sông suối chảy qua như: Xê Băng
Hiêng, Xê Nune, Xê Pa Ạm, Xê pọng và Xê Kư. Các nguồn sông đó đều tạo
điều kiện thuận lợi và phù hợp cho việc xây dựng thụy lợi để phục vụ nhân
dân phát triển ngành nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi và du lịch Trong
địa bàn Thà Pang Thoong còn có nhiều nơi du lịch sinh thái mà chưa phát
triển làm điểm du lịch và nơi nghỉ mát đó là: Đồi núi Phu Thóc, Phu Tin
Tốc, Đan That, Thác Bong, Thác Kông, Hang Lông Phu Hổng và rừng Sy
Thuộn
…
2.1.2.Về kinh tế - xã hội:
Huyện Thà pang Thoong là một trong những huyện nông thôn được
thành lập các đơn vị công tác của Đảng và nhà nước theo các thôn bản,cụm
bản và khu phát triển nông thôn, vây, ở địa bàn nay không có xã, thị trấn,
hiện nay huyện có 42 thôn bản, có 9 cụm bản phát triểm, có 4 khu trong
điểm phát triển, trong đó có 1 khu trong điểm phát triển của tỉnh và 3 khu
trong điểm phát triển của huyện. Toàn huyện có dân số 34,888 người, trong
đó nữ 17,425 người. Huyện Thà Pang thoong gồm có 2 dân tộc anh em
như: Lào Lùm chiếm 41,63% và Lào Thơng chiếm 58,37%. Hai dân tộc đều
cùng sinh sống xen kẽ trong các thôn bản, làng, xóm và đều được phát huy
truyền thống tốt đẹp của mình. Đặc biệt là có sự đoàn kết, cần cù lao động
và cùng nhau xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước từng bước cho phát
triển, tiến bộ lên.Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
( năm 2006 ), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, VII ( năm 2010 )
và Nghị quyết Đại hội lần thứ IV, V( năm 2010) của Đảng bộ huyện. Huyện
20
ủy Thà Pang Thoong đã tập trung lãnh đạo các cấp ủy và chính quyền, Mặt
trận xây dụng Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức nghiên cứu, quán
triệt Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân xây dựng và
các cơ sở cụm bản và các bản từng bước khá nhiều lên. Mở rộng và xúc tiến
cho những nhà doanh nghiệp trong nước nhà và nước ngoài thành lập các
đơn vị sản xuất kinh doanh, toàn huyện có 02 chợ lớn là trung tâm buôn bán
trao đổi hàng hóa, việc lưu thông hàng hóa ngày càng thuận lợi hơn, đã có
127 đơn vị kinh doanh với vốn đầu tư 8,65 tỷ kíp so với những năm qua
tăng 22,66%,có thóc- gạo 2.299,5 tấn với trị giá 4,6 tỷ kíp, gia súc, vật nuôi
các loại có trị giá tới 28,65 tỷ kíp, khoáng sản có trị giá 675,5 triệu kíp và
các đồ tiêu dụng các có trị giá là 19,56 tỷ kíp.
Về việc đầu tư của nhà nước và các tổ chức quốc tế: Huyện cũng đã
thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của nhà nước và vốn đầu tư nước
ngoài.Năm 2009 thu được vốn 37,19 tỷ kíp; trong đó từ vốn nhà nước là
32,13 tỷ kíp, vốn nước ngoài là 9 dự án có trị giá 4,93 tỷ kíp và vốn của
nhân dân 125,34 triệu kíp. Tất cả số vốn đó đều được đầu tư vào lĩnh vực
kinh tế chiếm 89, 41% và vào lĩnh vực văn hóa – xã hội chiếm 10, 59%.
2.1.3. Về giáo dục, y tế, văn hóa và thông tin:
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngành giáo dục văn hóa, thông
tin cũng có bước phát triển đáng kể.
-Về giáo dục: Đã có bước phát triển cả số lượng và chất lượng khá
nhanh,các cấp ủy chính quyền đặc biệt quan tâm, coi việc giáo dục là nhiệm
vụ trọng tâm của phát triển nguồn nhân lực đặc biệt đã mở rộng xây dựng
các trường học từ cấp huyện xuống thôn bản, vùng sâu, vùng xa. Qua 5 năm
cho đến nay Thà Pang Thoong có 9 trường học mẫu giáo, có 70 trường
THPT, có 6 trường THCS và 02 trường THPT, tỷ lệ học sinh thi đỗ cấp1 là
95%, cấp2, 60% và cấp3, 100%. Đối với tỷ lệ người lớn 15- 40 tuổi biết
chữ chiếm 95%.
22
-Về công tác y tế: Mạng lưới y tế được phát triển rộng khắp, xây dựng các
trạm y tế, nước sạch và cán bộ đưa xuống vùng nông thôn bản, cụm bản.Các
cơ quan, tổ chức và đoàn thể đã tập trung vận động tuyên truyền bảo vệ và
giữ gìn sức khỏe, đồng thời thúc đẩy nhân dân tham gia phong trào vệ sinh –
an ninh nhân dân.
- Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được cấp ủy các
cấp thường xuyên quan tâm chỉ đạo và đạt kết quả.Thực hiện các chương
trình xây dựng Đảng, phát triển đảng viên nhất là chỉ đạo và thực hiện
chương trình xây dựng chi bộ đảng vững mạnh toàn diện gắn liên với xây
dựng bản và nhóm bản phát triển. Thực hiện cuộc sinh hoạt chính trị của
Đảng được thường xuyên và đi sâu rộng, tạo ra sự chuyển biến về ý thức tu
dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng
nhân dân. Vai trò của Mặt trận xây dựng Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
được nâng lên và từng bước được cải thiện đổi mới về nội dung, phương
thức hoạt động và lề lối làm việc, đã thu hút ngày càng nhiều hội viên, đoàn
viên tham gia sinh hoạt trong các tổ chức chính trị - xã hội.
Những kết quả đạt được đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, tạo tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn trong những năm tới.
Tuy nhiên so với nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông thôn trên địa bàn Thà Pang Thoong vẫn còn nhiều hạn chế là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hang năm tuy đã đạt được mức độ khá,
song chất lượng tăng trưởng chưa vững chắc; tốc độ chuyển dịch cơ cấu
kinh tế còn chậm, giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số sản xuất.Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất chưa đáp ứng nhu
cầu cho quá trình thực hiện CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn.Việc ứng
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều mặt hạn chế. Sản
xuất nông nghiệp hành hóa còn mang tính tự phát, chưa ổn định, khối lượng
thấp, phân tán, chất lượng chưa cao.Còn tốc độ phát triển giá trị sản xuất
công nghiệp –Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ khá cao, song chưa tạo ra
đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việc thu hút đầu tư vào ngành
24
công nghiệp và than lập doanh nghiệp mới còn hạn chế . Việc thực hiện
caie cách hành chính của một số cơ quan, đơn vị còn chưa kịp thời đổi mới