1
MỞ ĐẦU
Kể từ năm 1987, khi Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
thông qua Luật đầu tư nước ngoài. Bằng đạo luật này một phạm trù kinh tế hoàn
toàn mới mẻ đã hình thành, phát triển và trở thành một bộ phận không thể tách
rời của nền kinh tế Việt Nam đương đại. Việt Nam chính thức mở cửa tiếp nhận
các khoản
đầu tư từ bên ngoài, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của
Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, từng bước khẳng định vị trí của
mình trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp một phần không nhỏ vào thành công
chung của công cuộc đổi mới đất nước.
Biểu hiện sinh động là trong những năm đầu, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào n
ước ta có tốc độ gia tăng rất cao. Kết quả thu được từ hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua khủng
hoảng kinh tế, bước sang giai đoạn tăng trưởng và duy trì được tốc độ tăng
trưởng cao hơn các quốc gia khác trong khu vực trong thời kỳ diễn ra khủng
hoảng tiền tệ ở khu vực châu Á. Bên cạ
nh đó, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
còn trực tiếp tạo ra việc làm cho hàng chục vạn lao động với mức thu nhập
không nhỏ. Song song với các hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài là hàng loạt các ngành nghề kinh tế khác cùng phát triển theo.
Tuy nhiên, những hạn chế của hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam không
phải là nhỏ. Con số thống kê cho thấy từ nă
m 1997 đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam liên tục giảm. Hoạt động của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài
đặt ra nhiều vấn đề phải xem xét lại về hình thức tổ chức và cách quản lý. Số doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thua lỗ chiếm tỷ lệ không nhỏ. Bên Việt Nam
trong một số liên doanh không những không tăng được tỷ lệ cổ phầ
CHƯƠNG I 3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ LỰA CHỌN
ĐỐI TÁC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm về đầu tư trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Hoạt động đầu tư là quá trình huy
động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản
xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của cá nhân và xã hội.
Trong một nền kinh tế đóng cửa, nguồn vốn đầu tư (VĐT) phát triển kinh tế chỉ
dựa vào huy động vốn trong nước bao gồm : Vốn tích luỹ từ ngân sách Nhà
nước, VĐT của các doanh nghiệp ; V
ốn tích luỹ, tiết kiệm trong dân là chủ yếu.
Trong nền kinh tế mở ngoài vốn trong nước còn có phần đóng góp quan trọng
của vốn nước ngoài.
Cùng với việc đóng góp vốn thông qua các hoạt động kinh tế, KTĐN còn giữ
một số chức năng quan trọng sau :
- Tham gia vào phân công lao động quốc tế ; Trao đổi mậu dịch quốc tế tạo cầu
nối giữa nền kinh tế trong nước và thế giớ
i.
- Thông qua hợp tác hóa, chuyên môn hóa và trao đổi mậu dịch đảm bảo sự
phát triển nhanh chóng và cân đối cho nền kinh tế quốc dân.
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các chính phủ và tổ chức quốc tế và Đầu
tư của tư nhân :
- Đầu tư của tư nhân được thực hiện dưới ba hình thức:
Đầu tư trực tiếp, đầu tư
gián tiếp và tín dụng thương mại.
- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn
lại và các khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài hạn vơí một số thời gian ân hạn
và lãi suất thấp) của chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hiệp quốc, các tổ
chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế (nh
ư WB, ADB, IMF ) dành 5
cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ
phát triển nêu trên được gọi chung là đối tác viện trợ nước ngoài.
Khóa luận này chỉ đề cập đến hình thức đầu tư trực tiếp của tư nhân, vì nó chiếm
tỷ trọng lớn và ngày càng được mở rộng về quy mô với nhiều cách thức thực
hiện đa dạng khác nhau. Ngoài ra, nếu xét góc độ lựa ch
ọn đối tác thì khu vực
đầu tư tư nhân cũng là nơi thu hút sự chú ý nhiều nhất vì các đối tác hết sức đa
dạng.
1.1.2. Khái niệm đầu tư trực tiếp trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức đầu tư quốc tế được hiểu trên
nhiều giác độ khác nhau:
- Xét trên khía cạnh về quyền sở hữu: FDI là một loại hình củ
a ĐTNN được
thực hiện khi quyền sử dụng gắn liền với quyền sở hữu tài sản đầu tư.
- Xét trên khía cạnh cán cân thanh toán : FDI thường được định nghĩa là phần
tăng thêm trên giá trị sổ sách của lượng đầu tư ròng ở một quốc gia được thực
hiện bởi các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời các nhà đầu tư này cũng chính là
Với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Nhà nước thu được ngay tiền
thuê đất, giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ VĐT, tập trung thu
hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những lĩnh vực khuyến khích xuất
khẩu, đào tạo được nguồn nhân lực cho tương lai.
Đặc trưng cơ bản của hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (HĐHTKD)
Hình thức HĐHTKD giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn do các bên đối tác
cùng góp vốn, có thể sử dụng công nghệ sẵn có của bên tham gia, đồng thời tạo
ra thị trường mới. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn có ưu điểm là tạo được
tính chủ động và nắm được quyền điều hành dự án do việc tổ chức được giao
cho một bên đối tác.
Các hình thức đầu tư nước ngoài tr
ực tiếp khác
Đối với nhiều nước đang phát triển trên thế giới, FDI dưới dạng các hợp đồng xây
dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh
doanh (BTO) hoặc hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) cũng khá phổ biển.
Dạng đầu tư này thường áp dụng cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hỏi số 7
vốn lớn như xây dựng nhà máy điện, các công trình đường bộ Ở Việt Nam dạng
đầu tư này còn chưa nhiều.
Có thể nói mỗi hình thức đầu tư có những điểm hấp dẫn riêng đối với các nhà
đầu tư. Tuy nhiên, cũng bộc lộ các điểm hạn chế của mình. Vì vậy, việc đa dạng
hoá các hình thức đầu tư sẽ góp phần đáng kể vào vi
ệc tăng khả năng thu hút
FDI về cả số lượng cũng như chất lượng.
Dòng FDI trên phạm vi toàn thế giới
Sau một thập kỷ tăng liên tục, dòng vốn FDI bắt đầu đi xuống trên phạm vi toàn
thế giới. Theo đánh giá của các tổ chức nghiên cứu kinh tế quốc tế, dưới tác
Châu Á - Thái Bình Dương 96 100 144 125
Nam, Đông và Đông Nam Á 86 96 137 120
Trung và Đông Âu (bao gồm cả các nước
thuộc Liên bang Nam Tư cũ)
22 25 27 27
(Ghi chú : (1) Dựa trên cơ sở số liệu của 51 nước thu hút FDI chủ yếu ; (2) Bao
gồm cả các nước thuộc Liên bang Nam Tư cũ ; (3) Nếu tính cả Nam Phi, lượng
FDI vào khu vực này sẽ là năm 1998 : 8 ; 1999 : 10 ; 2000 : 9 ; 2001 : 11) –
Nguồn UNCTAD, World Investment Report – 2001.
Nhìn vào bảng trên ta thấy, lượng FDI vào các nước công nghiệp phát triển giảm
đáng kể, trong khi luồng vốn FDI vào khu vực Trung và Đông Âu tiếp tục ổn
định ở mức 27 tỷ USD và tăng đôi chút ở Châu Phi.
Các nước đang phát triể
n cũng chịu tác động chung, nhưng mức tụt giảm là
không đáng kể (6% so với 49% suy giảm của các nước phát triển) rơi từ mức
240 tỷ USD của năm 2000 xuống còn 225 tỷ USD trong năm 2001, giảm 15 tỷ
USD. Song xét về tổng thể, tỷ phần vốn FDI mà các nước đang phát triển nhận
được trong năm 2001 lại tăng lên tới 30%, cao hơn cả tỷ lệ mà các nước này tiếp
nhận được vào n
ăm 1998 (27%). Biểu đồ 1: Sự phân bố luồng vốn FDI tại các nước đang phát triển
050100150
Trung & §«ng
©u
Ch©u ¸ & Th¸i
B×nh D−¬ng
Mü Latinh &
Caribe
- Nguồn FDI cũng ngày càng mở rộng và gia tăng do có sự phát triển liên tục
của nền kinh tế thế giới. Làn sóng hợp nhất công ty thành các công ty khổng lồ
tạo ra hàng ngàn tỷ USD qua các hợp đồng hợp nhất. Các công ty đa qu
ốc gia
tiếp tục mở rộng mạng lưới sản xuất của họ.
- Sự phân bổ FDI giữa các quốc gia và khu vực có sự thay đổi liên tục là do
chiến lược thu hút đầu tư của mỗi nước trong từng thời kỳ khác nhau, do kết quả
của các cuộc cải cách kinh tế, do chính sách FDI, do cải thiện môi trường đầu tư, 10
do sự ổn định về chính trị - xã hội, do hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn VĐT ở
mỗi nước.
- Sự vận động của các nguồn FDI chịu ảnh hưởng rất lớn của xu hướng khu
vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế, và sự ổn định của thị trường chứng khoán
quốc tế.
1.2. KHÁI NIỆM VÀ CÁC TIÊU CHÍ VỀ LỰA CHỌN ĐỐ
I TÁC ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Khái niệm
Lựa chọn đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài là một quá trình nghiên cứu, sàng
lọc và tuyển chọn một trong nhiều nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tìm ra
được đối tác phù hợp với các tiêu chí, chỉ tiêu và mục đích của dự án cũng như
của nước nhận đầu tư.
1.2.2 Các tiêu chí về lựa chọn đố
i tác đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tác FDI
Mục tiêu của việc lựa chọn đối tác FDI được qui định bởi mục tiêu chung của
hoạt động FDI cũng như của việc khai thác, thu hút các nguồn vốn đầu tư từ bên
ngoài.
Trên cơ sở phân tích các năng lực này của nhà ĐTNN mà bên Việt Nam có thể
tiến hành lựa chọn. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là năng lực đó được thể hiện, được
đánh giá, được xác định như thế nào, bằng những chỉ
tiêu kinh tế - kỹ thuật nào.
Nói chung, thời kỳ đầu việc lựa chọn đối tác FDI đối với chúng ta còn nhiều bỡ
ngỡ, nặng về cảm tính, mang tính bị động, nói cụ thể hơn là còn thiếu tiêu chuẩn
rõ ràng và thống nhất. Điều đó được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Chúng ta chưa xác định và đề ra những tiêu chuẩn cần thiết đối với đối tác
FDI. Khi còn ít đối tác nướ
c ngoài đến tìm hiểu và ra quyết định đầu tư tại Việt
Nam, chúng ta không đặt vấn đề lựa chọn, chỉ cần xuất hiện đối tác là đã sẵn
sàng đi tới quyết định hợp tác đầu tư. Như vậy là chạy theo số lượng đối tác,
thiếu sự xem xét, nghiên cứu, lựa chọn một cách nghiêm túc. Giai đoạn 1993 -
1996, khi bước sang thời kỳ bùng nổ của hoạt động FDI t
ại Việt Nam, số lượng 12
các đối tác FDI đến Việt Nam ngày càng nhiều hơn, tính chất đa dạng hơn, khả
năng kinh doanh phong phú và khác biệt nhau nhiều hơn, điều đó tất yếu dẫn
đến yêu cầu phải lựa chọn đối tác. Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm và chưa
được chuẩn bị trước nên việc lựa chọn đối tác diễn ra một cách tự phát, thiếu
hướng dẫn cụ thể và rõ ràng. Tiêu chuẩn lựa chọn
đối tác lúc này đã được đặt ra
nhưng chưa có cơ sở khoa học đầy đủ, tùy thuộc vào khả năng hiểu biết và trình
độ cán bộ ở mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi địa phương. Từ 1997 đến nay, hoạt động
FDI vào Việt Nam bị suy giảm rõ rệt do những yếu tố khách quan và chủ quan,
số lượng đối tác đến Việt Nam ngày càng giảm xuống. Như vậy, qua hơn 10 năm
triể
n khai hoạt động FDI tại Việt Nam chúng ta vẫn chưa đạt được sự chuẩn xác
- Tổ chức thu thập thông tin về đối tác FDI bằng nhiều hình thức khác nhau, qua
nhiều kênh khác nhau, cả trực tiếp và gián tiếp, thí dụ thông qua các cơ quan
thương vụ, các văn phòng đại diện, các tổ chức nghiên cứu thị trường. Nhìn
chung, các cơ quan có chức năng chuyên môn về tổ chức hoạt động ĐTNN tiến
hành các hoạt động thu thập thông tin này mang tính hệ thống và cập nhật hơn.
Còn các cơ quan khác,
đặc biệt ở cấp địa phương, thiếu điều kiện cần thiết cả về
phương pháp cũng như phương tiện tiếp cận thông tin và xử lý thông tin nên
phương thức tổ chức thu thập thông tin không đầy đủ, không kịp thời, mang tính
manh mún, chia cắt. Điều quan trọng đáng nói là việc chia xẻ thông tin giữa các
cơ quan hữu trách, giữa trung ương và địa phương, giữa ngành có chức năng
t
ổng hợp với ngành chuyên môn chưa được đặt ra một cách đúng mức, thiếu sự
đồng bộ và kết hợp giữa các đơn vị do đó không đảm bảo độ chuẩn xác.
- Tổ chức việc tiếp xúc tìm hiểu lẫn nhau giữa các nhà ĐTNN với các cơ quan,
tổ chức, doanh nghiệp trong nước về nhu cầu thu hút đầu tư của các ngành, các
cấp thông qua các hội nghị của các nhà đầu tư, giới thi
ệu danh mục dự án kêu
gọi ĐTNN. Ngay từ khi chủ trương đẩy mạnh thu hút vốn FDI được khẳng định
với việc ban hành Luật ĐTNN tại Việt Nam và các văn bản dưới luật, các cơ
quan chức năng ở trung ương và địa phương đã tổ chức các hội nghị chuyên đề
giới thiệu cho các nhà ĐTNN tìm hiểu về hệ thống luật pháp, chính sách, chủ
trương của Nhà n
ước ta nói chung và từng địa phương nói riêng. Đồng thời các
cơ quan chuyên môn đã tiến hành lập danh mục các dự án kêu gọi ĐTNN vào
Việt Nam nói chung và vào từng ngành nói riêng để giới thiệu rộng rãi với đông 14
đảo các nhà kinh doanh nước ngoài. Các hội nghị chuyên đề được tổ chức ở
đoàn nước ngoài đã, đang và sẽ có ý định vào Việt Nam tham gia hoạt động kinh 15
doanh dưới dạng góp vốn FDI theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
Phân loại đối tác FDI
Mỗi đối tác FDI có đặc điểm và sắc thái riêng biệt của công ty hay tập đoàn mà
họ làm đại diện. Việc phân loại các đối tác này có thể dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau như quốc tịch, nền văn hoá, loại hình công ty, hay theo lĩnh vực hoạt
động kinh doanh.
Thực tế cho thấy, các đối tác nước ngoài đến Việt Nam từ nhiều quốc gia khác
nhau, bằng nhiều con đường khác nhau. Các đối tác nước ngoài vào Việt Nam:
- Qua các cơ quan
đối ngoại của Việt Nam (thường loại đối tác này có đầy đủ
thông tin hơn về khả năng tài chính và năng lực thực sự của họ).
- Qua các văn phòng đại diện kinh tế thương mại, các văn phòng đại diện cho
các công ty nước ngoài tại Việt Nam.
- Qua môi giới, giới thiệu của các cá nhân ở trong nước, của Việt kiều, vv…
Tìm hiểu môi trường đầu tư, tìm kiếm các cơ h
ội đầu tư để thu lợi nhuận là mục
tiêu chung của các đối tác ĐTNN khi thâm nhập vào thị trường một nước. Trên
cơ sở luật pháp của Việt Nam và tuỳ theo tầm cỡ về qui mô, khả năng tài chính
cũng như ý đồ đầu tư của các đối tác nước ngoài mà họ sẽ có cách tiếp cận thị
trường Việt Nam một cách thích hợp nhất. Cũng trên cơ sở những thông tin
nghiên c
ứu về từng đối tác trong từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể mà phía Việt
Nam có được qua nhiều kênh thông tin khác nhau mà bên Việt Nam tiến hành
việc kiểm tra và lựa chọn đối tác đầu tư cho thích hợp.
FDI được coi là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của cả các
Khi tiến hành lựa chọn đố
i tác FDI phải luôn chú ý đến sự tương thích giữa các
bên đối tác, đây không đơn thuần là chọn bên đối tác đáp ứng cao nhất các yêu
cầu đề ra, mà cần quan tâm đến sự thống nhất giữa các chỉ tiêu, mục đích hoạt
động kinh tế của bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Qua đó có thể xác định những
yêu cầu cụ thể trong việc lựa chọn đối tác FDI.
Sau khi đi vào hoạt động, các d
ự án đầu tư chịu sự chi phối bởi khuôn khổ luật
pháp của nước chủ nhà. Vì vậy, những tác động tiêu cực nếu có của các dự án
đầu tư nước ngoài đối với nước chủ nhà chỉ có thể nảy sinh do những yếu kém
trong lĩnh vực đàm phán cũng như quản lý và hoạch định chính sách của nước
chủ nhà. 17
Theo thống kê cho thấy khoảng 10 –20% số dự án FDI không được thực hiện do
một trong các nguyên nhân sau: bị rút giấy phép trước thời hạn, bán lại dự án,
không thực hiện đúng luật của nước sở tại, gây sức ép với bên đối tác của nước
nhận đầu tư về vốn, mục tiêu đầu tư không phù hợp với lợi ích của nước nhận
đầu tư…. Nguyên nhân của tình hình nói trên có nhiều loạ
i, trong đó có trách
nhiệm của đối tác nước ngoài, cụ thể là:
- Không chấp hành đúng các qui định pháp lý của nước sở tại.
- Mục tiêu đầu tư của một số đối tác nước ngoài có thể đưa đến thiệt hại cho lợi
ích cơ bản và lâu dài của nước sở tại.
- Không đủ năng lực về pháp lý, năng lực về tài chính, năng lực về công nghệ
.
Bởi vậy, để xác định được những đối tác cần thiết trong hàng loạt các nhà kinh
doanh nước ngoài đến khảo sát tại thị trường Việt Nam, qua đó chọn ra được các
đối tác đảm bảo đủ các yêu cầu cần thiết cho việc triển khai có hiệu quả dự án
được là khoảng 90 tỷ USD. Trong đó, Trung Quốc chiếm 50 tỷ USD vốn FDI.
các nhà kinh tế cho rằng, Trung Quốc thu hút nhiều FDI là nhằm để tăng năng
suất nhờ tậ
n dụng kinh nghiệm quản lý kết hợp với lợi thế nhân công rẻ và thị
trường nội địa tiềm năng. Kể từ năm 1993, Trung Quốc đã trở thành nước nhận
VĐT lớn nhất trong số các nước đang phát triển.
Có rất nhiều nhân tố dẫn tới sự gia tăng mạnh của FDI vào Trung Quốc :
- Một thị trường lớn, chi phí lao động rẻ.
- Môi trường đầ
u tư được cải thiện đáng kể: Ở phần lớn các tỉnh và thành phố,
các cơ quan chuyên trách đã được thành lập để cung cấp dịch vụ cho các doanh
nghiệp có VĐT nước ngoài, các thủ tục phê chuẩn đã được đơn giản hoá, và các
bộ luật, các sắc lệnh tương ứng đã được tăng cường hơn nữa.
- Cơ sở hạ tầng hợp lý, chính sách ưu tiên và ưu
đãi về thuế cũng như việc cho
phép các đặc khu kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc tự do hóa nền kinh
tế.
Lấy ví dụ về Nhật Bản, nước có số vốn FDI vào Trung Quốc lớn thứ ba, xếp sau
Hồng Kông & Macao, Mỹ. Trung Quốc đã căn cứ vào các mục tiêu sau để đưa
ra tiêu chuẩn lựa chọn Nhật Bản làm đối tác FDI: (1) Nhập khẩu công nghệ của
Nhật Bản; (2) Sử
dụng vốn của Nhật Bản; (3) Đáp ứng nhu cầu của thị trường 19
nội địa; (4) Sử dụng các kênh xuất khẩu của Nhật Bản; (5) Xuất khẩu hàng sang
Nhật Bản; (6) Sử dụng linh kiện của Nhật Bản.
Có thể nói, sự tiếp tục gia tăng của dòng vốn FDI vào Trung Quốc được quyết
định bởi quá trình tự do hóa kinh tế và cải cách cơ cấu ngành. Thêm vào đó là
việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của WTO.
trên thị trường nước ngoài.
(3) Những dự án tìm kiếm sự ủng hộ tài chính của các công ty trong nước.
(4) Những dự án tìm kiếm lợi nhuận chỉ dựa vào việc sử dụng đất.
Nói chung mức tham gia của tư bản nước ngoài thường không quá 50% trừ các
trường hợp sau:
(1) Dự án xuất khẩu, hoàn toàn không c
ạnh tranh với các công ty trong nước
trên thị trường nước ngoài.
(2) Các dự án cần nhiều công nghệ, tiến hành sản xuất hoặc thu hút sản xuất
để xuất khẩu hoặc tạo ra sản phẩm thay thế nhập khẩu.
(3) Các dự án góp phần hợp lý hoá cơ cấu công nghiệp trong nước.
(4) Các dự án từ một nước đầu tư còn ít nhưng được trông đợi sẽ tăng lên
trong tương lai.
(5) Những dự án của người Hàn Quốc sống ở nước ngoài.
(6) Những dự án thuộc khu xuất khẩu tự do.
Có thể nói các qui định này là quá khắt khe so với nhiều nước trong khu vực và
do vậy đã giới hạn đáng kể sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào Hàn
Quốc trong những năm này.
Năm 1980, chính phủ sửa lại Luật đầu tư theo hướng mở rộng hơ
n đối với tư
bản nước ngoài: cho phép tư bản nước ngoài được tham gia vào nhiều lĩnh vực
hơn và tỷ lệ vốn tham gia lớn hơn, cho phép xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
hoạt động ở nhiều lĩnh vực trước đây chưa được phép. Các biện pháp này được
đưa ra nhằm giảm bớt tình trạng thâm hụt của cán cân thanh toán và điều quan
trọng là nhằm nâng cao hơn nữa khả năng c
ạnh tranh của các công ty trong
nước, nâng cao hiệu quả và năng suất của các công ty đang được bảo hộ, thúc
đẩy sự phát triển của công nghệ và các ngành công nghiệp tinh xảo.
Ngoài ra, Hàn Quốc còn thực hiện chính sách tự do hoá thị trường chứng khoán.
Bãi bỏ hoàn toàn các hạn chế đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động 22
sáp nhập và mua lại (M&A) các công ty trong nước, áp dụng chế độ giao dịch
ngoại hối tự do kể từ 1/4/1999. Từng bước thực hiện mở cửa đối với thị trường
đất đai và bất động sản.
Có thể nói, sự đổi mới trong quan điểm đối với FDI của chính phủ Hàn Quốc và
các chính sách mới là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao tính hấp dẫn của
môi trường đầu t
ư ở nước này và đã góp phần quan trọng vào việc khôi phục
nhanh chóng nền kinh tế sau khủng hoảng.
1.4.3. Kinh nghiệm của Thái Lan
Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cùng với đổi mới kỹ thuật công nghệ
và đổi mới cơ cấu kinh tế, Thái Lan đã tập trung khai thác mọi nguồn vốn cả
trong nước lẫn nước ngoài, cả của người Thái, người Hoa cũng như của nhữ
ng
người thuộc quốc tịch khác, cả bằng hình thức vay vốn, nhận các nguồn viện trợ
và đầu tư trực tiếp.
Về hình thức đầu tư, để tạo điều kiện cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
Chính phủ Thái Lan đã áp dụng một số biện pháp sau:
- Bán dần các doanh nghiệp Nhà nước cho tư nhân. Đây là yếu tố góp phần đa
dạng hóa các lo
ại hình đầu tư FDI trên đất nước Thái Lan.
- Khuyến khích thành lập các liên doanh với các công ty của Mỹ, Nhật, công ty
của các nước Châu Á và các công ty của một số nước khác.
- Đầu tư vào thị trường chứng khoán thu hút được một khối lượng vốn nước
ngoài lớn nhất.
- Kể từ năm 1980, hình thức sở hữu 100% vốn nước ngoài cũng được Chính
trong phát triển kinh tế của Thái Lan với nhiều nước trong khu vực là rất hạn
chế. Vì thế, vào những năm 70, 80, trong nhãn quan của các nhà cầm quyền Thái
Lan, trong hợp tác đầu tư với bên ngoài (đặc biệt quan hệ kinh tế với Mỹ
, Nhật
Bản, EU) rõ ràng có lợi hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Ở đó Thái Lan
có thể nhận được kỹ thuật, công nghệ mới, có thể tiêu thụ được các hàng nông
sản và hàng công nghiệp chế biến với những ưu đãi thuế quan, qua đó có điều
kiện thuận lợi cho việc từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.
Hơn nữa, Mỹ
, Nhật Bản và Tây Âu là các thị trường tiêu thụ lớn các mặt hàng
thủy sản, cao su, dầu dừa, quặng đồng, quặng sắt … của Thái Lan, đồng thời là 24
thị trường cung cấp kỹ thuật, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp có hàm
lượng kỹ thuật cao cho Thái Lan.
Bước sang thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và khu vực thay đổi
nhiều và đã có tác động không nhỏ đến sự chuyển hướng của nền kinh tế Thái
Lan, trong đó có quan hệ với các nước ASEAN. Thái Lan đã chở thành một
nước công nghiệp. Bản thân sự phát triển bên trong nền kinh tế Thái Lan những
n
ăm 1990 khác nhiều so với thập kỷ 60, 70. Do đó, việc khai thác hết năng lực
sản xuất của nền kinh tế và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh là một
đòi hỏi bức xúc đối với việc gìn giữ những thị trường truyền thống, mở mang thị
trường mới nhằm tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng của Thái Lan.
Để tạo điều kiện thuậ
n lợi cho tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư trong khu
vực, ngay từ những ngày đầu thực hiện việc triển khai AFTA, Thái Lan đã liên
tục thực hiện hợp tác với các nước trong khu vực. Do có sự thuận lợi về điều
kiện địa lý, Thái Lan đã tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực trong
2.1.1.1. Về tình hình cấp giấy phép FDI
Về qui mô và nhịp độ thu hút vốn
Theo Bộ KH - ĐT, tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2002, Việt Nam có 3.669 dự
án có vốn FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 39,1 tỷ USD, trong
đó đã thực hiện được khoảng 20,7 tỷ USD. Trong số này, hình thức liên doanh
chiếm 1.089 dự án, với khoảng 19,69 tỷ USD vốn đăng ký và trên 10 tỷ USD
vốn thực hiện; hình thức 100% vốn ĐTNN chiếm 2.417 dự án, với hơn 14,2 tỷ
USD vốn đăng ký và hơn 6,7 tỷ
USD vốn thực hiện; hình thức HĐHTKD có
157 dự án, với hơn 3,8 tỷ USD vốn đăng ký và hơn 3,7 tỷ USD vốn thực hiện;
hình thức BOT có 6 dự án, với gần 1,333 tỷ USD vốn đăng ký và khoảng 216,9
triệu USD vốn thực hiện. (Xem bảng 2 – trang 31)
- Trong 3 năm đầu 1988 - 1990: Số dự án và số vốn đầu tư chưa nhiều (thời
gian này có thể coi là thời gian khởi động).
- Th
ời kỳ 1991 - 1995: Nhịp độ tăng trưởng nhanh, bình quân năm sau cao hơn