MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đối với một dân tộc ngay từ thuở hồng hoang dựng nước và giữ nước
đã luôn phải đương đầu với các cuộc chinh phạt của ngoại bang thì việc văn
học đặc biệt lưu tâm tới đề tài chiến tranh cũng là điều dễ hiểu. Hiện thực đấu
tranh chống ngoại xâm đã trở thành đối tượng khám phá và phản ánh của văn
học như một tất yếu. Và 30 năm không ngừng tiếng bom, tiếng súng chống
thực dân Pháp, đế quốc Mĩ vừa qua của cả dân tộc đã trở thành mảng hiện thực
phong phú, có sức hấp dẫn không ít người cầm bút. Họ viết về chiến tranh ngay
khi cuộc chiến còn đang diễn ra, họ viết về chiến tranh cả khi tiếng súng đã
lắng lại và vòng nguyệt quế đã được đặt trên đầu người chiến thắng. Có thể nói,
trong sự phát triển 50 năm của văn học hiện đại Việt Nam, mảng văn học về đề
tài chiến tranh với nhiều thể loại: thơ ca, truyện ngắn, truyện vừa, kịch, kí, tiểu
thuyết… chiếm vị trí rất quan trọng cả về số lượng lẫn chất lượng. Tiểu thuyết
dường như đã phát huy được lợi thế về dung lượng khi tiếp cận mảng hiện thực
trải dàn trên một không gian rộng lớn kéo dài từ Bắc tới Nam, từ cao nguyên
tới đồng bằng, gắn với khoảng thời gian 30 năm không hề ngắn ngủi. Trước
1975 phải kể đến Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Sống mãi với thủ đô
(Nguyễn Huy Tưởng), Hòn đất (Anh Đức), Gia đình má Bảy (Phan Tứ), Dấu
chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Chiến sĩ (Nguyễn Khải), Vùng trời
(Hữu Mai)…Sau 1975 các tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn tiếp tục ra mắt
công chúng: Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Đất trắng (Nguyễn
Trọng Oánh), Năm 1975 họ đã sống như thế, Chim én bay (Nguyễn Trí Huân),
Nắng đồng bằng, Ba lần và một lần, Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc (Chu
Lai), Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh),
Chuyện làng Cuội (Lê Lựu)… Ở những tiểu thuyết này, chiến tranh dù được
1
đề cập đến trực tiếp hay gián tiếp thì vẫn hướng tới mục đích tái hiện một thời
kì lịch sử đầy sóng gió của dân tộc trong một cái nhìn mới từ cuộc sống hiện tại
sau ngày giải phóng. Người viết luận văn chọn đối tượng nghiên cứu là tiểu
thuyết viết về chiến tranh trước hết bởi đề tài chiến tranh là một đề tài lớn, đầy
ngợi ca lãng mạn mà thay vào đó, những góc khuất đen tối, đau thương của
hiện thực bắt đầu được bày lên trang viết của các cây bút sau 1975. Tuy
nhiên, sự biến đổi cảm hứng sáng tác từ một đề tài lớn như vậy lại chưa được
một công trình qui mô nào nghiên cứu. Hầu hết các công trình nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở cấp độ bài báo, tham luận hoặc ý kiến, nhận định… Ở đây,
các phương diện biểu hiện của cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết về chiến
tranh sau chiến tranh chưa được đề cập đến đầy đủ trong tính hệ thống. Giới
hạn của một bài viết nhỏ buộc người viết chỉ có thể khảo sát sự biểu hiện đó ở
một vài phương diện nhất định, ví dụ: hướng tiếp cận hiện thực, số phận con
người, nghệ thuật xây dựng tình huống kịch… Với đề tài "Cảm hứng bi kịch
trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975", người viết
luận văn mong muốn có thể đem đến cho bạn đọc một cái nhìn có tính hệ
thống về mảng văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh với các đặc điểm
cơ bản và những biến đổi nội tại đặc trưng của nó.
Từ các lí do chọn đề tài trên đây, người viết hi vọng qua luận văn "Cảm
hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975"
có thể giúp người đọc xác lập một số đặc điểm cơ bản của văn học viết về
chiến tranh sau 1975 trong sự đối sánh với văn học giai đoạn trước đó; đưa ra
những kiến giải giúp người đọc phần nào hiểu rõ quy luật vận động nội tại
của văn chương nói chung và văn học về chiến tranh nói riêng; từ đó khẳng
3
định các giá trị nhân bản bền vững vốn là kết tinh của mảng văn học viết về
chiến tranh trong những năm tháng hoà bình này.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Sau chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc ta đã mở
sang một trang mới. Khi tiếng bom, tiếng súng đã lắng xuống thì cuộc sống
thời bình mở ra với vô số những biến động của đời thường. Trước những đổi
thay đó của môi trường sống, văn học tự thân cũng xuất hiện nhu cầu đổi mới.
Được cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của Đại hội Đảng VI, các cây bút sau 1975
đã có nhiều nỗ lực lao động nghệ thuật, tạo được những lối đi mới táo bạo,
(1990), "Ăn mày dĩ vãng" (1994)….đã mở ra những bình diện đổi mới đa
dạng, phong phú, nhiều vẻ của mảng văn học chiến tranh mà sự đổi mới cảm
hứng sáng tác là một bình diện tiêu biểu.
Cũng như nhiều bình diện đổi mới khác của văn học sau 1975 nói chung
và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng, sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác đã
gây nhiều sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu, phê bình. Tuy nhiên các
công trình nghiên cứu về sự chuyển hướng cảm hứng sáng tạo này mới chỉ
dừng lại trong giới hạn của bài báo, tham luận hay ý kiến, nhận định nhân các
hội thảo bàn về văn học viết về chiến tranh. Ngoài các bài báo được đăng tải
trên các tạp chí quen thuộc như Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ, Tạp chí Văn
học, đáng chú ý phải nói đến các tham luận được trình bày trong hội thảo "50
năm Văn học Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám" do khoa Ngữ Văn- Đại
học Sư phạm, khoa Ngữ Văn- Đại học Tổng hợp cùng với trường viết văn
Nguyễn Du và tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 3-
6-1995. 44 báo cáo, tham luận của các nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu
văn học có tên tuổi như: Chu Lai, Xuân Thiều, Đinh Xuân Dũng, Lã Nguyên,
5
Nguyễn Văn Long, Vương Trí Nhàn… đã bàn luận đến nhiều vấn đề của tiểu
thuyết viết về chiến tranh sau 1975 ở cả phương diện tích cực và tiêu cực
nhưng cơ bản vẫn đặc biệt lưu tâm đến sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác
của nhà văn. Năm 1990, tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh
được trao giải thưởng Hội nhà văn đã dấy lên một làn sóng tranh luận với nhiều
ý kiến khen- chê. Ngày 24-8-1991, tuần báo Văn nghệ tổ chức thảo luận về tiểu
thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh với sự góp mặt tham dự của:
Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc, Vũ Quần Phương, Chu Lai, Từ Sơn... Ngoài các
ý kiến được đăng tải trên báo chí, các tham luận được trình bày trong các hội
thảo, vấn đề cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 cũng
được đề cập tới rải rác trong các công trình nghiên cứu về văn xuôi giai đoạn
này, tiêu biểu có thể kể đến luận án "Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật
sau 1975" của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình. Qua các công trình nghiên cứu của
hùng, trước đây viết về cái tích cực, lúc này viết về cái tiêu cực (…). Không
nên cho rằng viết về cái tiêu cực mới là viết về sự thật, mới là "dám" viết sự
thật"[69.172]. Nhận xét về hướng khám phá hiện thực của tiểu thuyết chiến
tranh nói riêng và văn xuôi viết về chiến tranh sau 1975 nói chung, Xuân
Thiều một mặt khẳng định: "đã có những nét mới trong cách nhìn nhận
đánh giá hiện thực trong chiến tranh trung thực hơn, mạnh dạn hơn", song
mặt khác cũng thừa nhận: "bên cạnh những quan điểm đổi mới đích thực
lành mạnh đã xuất hiện những quan điểm cực đoan, mà nguy hại nhất là
quan điểm phủ định quá khứ (…), vẽ lên những khung cảnh ảm đạm giả
tạo, nặn lên những nhân vật trong chiến tranh như những con thú nhằm
khơi dậy sự uỷ mị, chán ngán"[69.145]. Cũng một quan điểm như vậy, Hồ
Phương nhận định rằng nhiều tác giả hôm nay "không hề né tránh tất cả sự
7
tàn khốc của chiến cuộc tranh. Viết về những nội dung tàn khốc ấy, các tác
giả có ước muốn qua đó có thể làm rõ hơn, sống động hơn sức chịu đựng,
lòng hi sinh của con người, cũng như làm cho cái giá và ý nghĩa của chiến
thắng được thấy rõ hơn(…). Viết về sự tàn khốc của chiến tranh là điều cần
phải làm, nhưng viết như thế nào để không là mờ mất tính chất của cuộc
kháng chiến ấy, để cuối cùng người đọc có thể chỉ thấy toàn chuyện chết
chóc, ghê sợ và muốn chối bỏ"[69.153]
Bên cạnh các ý kiến khái quát, mang tính nhận định chung về hướng
tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn xuôi sau 1975 nói chung và tiểu thuyết
nói riêng, giới nghiên cứu phê bình cũng thể hiện những đáng giá, nhận định
cụ thể ở nhiều tác phẩm. Điều này được thể hiện trong các cuộc tranh luận
khá sôi nổi xung quanh các tiểu thuyết: "Đất trắng" (Nguyễn Trọng Oánh),
"Ăn mày dĩ vãng", "Vòng tròn bội bạc"(Chu Lai), "Thân phận của tình yêu"
(Bảo Ninh)… Với việc phản ánh một cuộc chiến tranh đầy khốc liệt, tổn thất
và những mầm mống của những dao động, phản bội đã xuất hiện ở một số
nhân vật có cấp bậc cao, ngay từ khi mới ra mắt bạn đọc, "Đất trắng" (1977)
của Nguyễn Trọng Oánh đã vấp phải luồng sóng phê phán mạnh mẽ. Tuy
Với cách nhìn hiện thực chiến tranh đậm màu sắc bi kịch của nhà văn, xung
quanh tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" đã nổ ra nhiều cuộc tranh luận
gay gắt với những ý kiến khen chê khá quyết liệt. Trong cuộc thảo luận về
"Thân phận của tình yêu" do báo Văn nghệ tổ chức ngày 24/8/1991, Giáo sư
Trần Đình Sử cho rằng Bảo Ninh "đã lộn trái cuộc chiến tranh ra để ta được
nhìn vào cái phía trong bị che khuất" [72]. Đồng tình với Trần Đình Sử
trong việc ủng hộ hướng khám phá, tiếp cận hiện thực của Bảo Ninh, nhà văn
Nguyên Ngọc khẳng định tác phẩm "là sự nghiền ngẫm về chiến thắng; nó
9
chỉ cho chúng ta biết rằng chúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mỹ
với cái giá ghê gớm biết chừng nào" [72]. Theo Nguyên Ngọc, miêu tả chiến
tranh bằng cảm hứng bi kịch, chỉ ra những thảm cảnh đau thương, bi đát do
chiến tranh mang lại, nhà văn muốn cất lên tiếng nói thống thiết: "phải sống
sao hôm nay cho xứng đáng với quá khứ từng quá thiêng liêng và đau đớn
như vậy". Đối lập với các ý kiến đồng tình, ủng hộ Bảo Ninh – Từ Sơn cho
rằng: "Âm hưởng của tác phẩm còn đậm chất bi, âm hưởng hùng còn bị
chìm lấp đâu đó, chưa tạo nên đầy đủ nét bi hùng của một thời đã qua"[72].
Vũ Quần Phương nhận thấy Bảo Ninh "đã đánh mất cái hào khí rất đẹp của
năm tháng ấy, có thể nó ấu trĩ nhưng nó có. Có cảm giác tác giả có những
điều không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan" [72]. Sau
cuộc hội thảo do báo Văn nghệ tổ chức, "Thân phận của tình yêu" vẫn tiếp
tục là tâm điểm chú ý của nhiều bài viết trên các tờ báo, tạp chí trong suốt một
thời gian dài. Đặt câu hỏi "Nghĩ gì khi đọc Thân phận của tình yêu" trên báo
Văn nghệ số 43/1991, Đỗ Văn Khang thẳng thắn cho rằng "lẽ ra không nên in
vội Thân phận của tình yêu". Hồ Phương tỏ ra khách quan hơn với nhận xét:
"Nỗi buồn chiến tranh xứng đáng là một sự khai mở, với văn phong, với cấu
trúc mới mẻ khác rất nhiều những tác phẩm về chiến tranh trước nó. Chỉ
đáng tiếc cái nhìn của tác giả về cuộc kháng chiến lại quá buồn bã và cũng
là đáng sợ hãi, kể cả cay đắng" [78]. Có thể nói, xuất bản năm 1991, tiểu
thuyết "Thân phận của tình yêu"đã gây "sốc" cho một bộ phận công chúng
tâm của phần lớn các nhà văn viết về chiến tranh là âm vang chiến tranh,
nghĩa là viết về số phận con người thời kì hậu chiến mà chiến tranh dù đã đi
qua vẫn để lại những dấu ấn khó quên, chiến tranh đã đưa đẩy họ tới
11
những nẻo bất ngờ, ở đấy có thể có niềm vui, nỗi buồn, có tình yêu thương
và lòng căm thù, có lòng dũng cảm và tính đớn hèn, có lòng trung thành và
những phút giây dao động" [69.140].
Như vậy, khi xem xét hệ thống nhân vật của tiểu thuyết chiến tranh sau
1975, giới nghiên cứu phê bình đều nhận thấy các cây bút thời kỳ này tỏ ra
đặc biệt quan tâm đến số phận con người. Ở đó những bi kịch cá nhân riêng tư
mà chiến tranh dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều để lại hậu quả đau lòng…
đã được nhà văn đề cập tới không ngần ngại. Phản ánh bộ mặt của chiến tranh
qua thân phận con người, tiểu thuyết chiến tranh thời kì hậu chiến cho thấy
dấu ấn của cảm hứng bi kịch không chỉ thể hiện qua bức tranh hiện thực toàn
cảnh mà còn thể hiện ngay trong cuộc đời cụ thể của mỗi nhân vật trong tác
phẩm.
Khảo sát các tiểu thuyết viết về chiến tranh hôm nay, các nhà phê bình
nhận thấy con người – nhân vật văn học đang trút bỏ "bộ cánh xã hội" của
mình để trở về với bản chất tự nhiên, gắn với những quan hệ đời thường và
những vui buồn giản dị của cuộc sống con người. Và vì thế âm hưởng ngợi ca
lãng mạn không còn vị thế thống trị trong nền văn học nước nhà như trước
đây. Điều này tác động đến sự thay đổi giọng điệu của văn học hôm nay nói
chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng. Hồ Phương cho rằng bên cạnh
giọng say sưa lãng mạn "văn học hôm nay đã có những giọng dung dị và
trầm tĩnh, có giọng thô mộc và dân dã, trong khi đó lại có những giọng rất
bỗ bã, suồng sã, và có cả những giọng sát phạt, góc cạnh…đã xuất hiện
những giọng buồn sâu lắng, lắm lúc đến cay đắng" [69.135].
Sơ lược qua một số ý kiến, nhận định trên đây của một số nhà nghiên
cứu, phê bình, người viết luận văn nhân thấy tiểu thuyết viết về chiến tranh
sau 1975 thực sự trở thành tâm điểm chú ý của công chúng, khuấy động đời
thực" đã có đủ độ lùi thời gian cần thiết để nghiền ngẫm lại hiện thực.
13
Thừa nhận tính tất yếu, khách quan của sự chuyển hướng cảm hứng
sáng tác trong văn học viết về chiến tranh sau 1975, các nhà nghiên cứu – phê
bình cũng đồng thời quan tâm đến nhiều phương diện biểu hiện khác nhau của
cảm hưng bi kịch. Bàn về các phương diện biểu hiện này, các ý kiến đánh giá,
phân tích tương đối thống nhất khi cho rằng cảm hứng bi kịch được thể hiện
thông qua toàn bộ chỉnh thể nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, từ cách
miêu tả hiện thực, quan niệm về con người cho tới nghệ thuật xây dựng tình
huống, bố trí không gian, thời gian, tạo dựng giọng điệu.
Khảo sát tình hình nghiên cứu cảm hứng bi kịch trong văn học chiến
tranh sau 1975, người viết luận văn nhận thấy đây là một vấn đề gây nhiều
tranh cãi. Chọn đề tài "Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu
viết về chiến tranh sau 1975, người viết không có ý định khuấy động lại
những tranh cãi mà chỉ muốn đưa ra quan điểm có tính cá nhân đồng thời cắt
nghĩa, lí giải trong tính hệ thống các đặc điểm khu biệt của một mảng văn học
mà ngay từ khi mới xuất hiện đã thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng.
Đây là điều mà không nhiều công trình nghiên cứu có quy mô đã làm được.
Vấn đề cảm hứng bi kịch trong văn học chiến tranh sau 1975 đã được các nhà
nghiên cứu đề cập tới từ rất sớm song khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo,
một cuộc thảo luận, trao đổi, chỉ cho phép người nghiên cứu dừng lại ở việc
nêu vấn đề chứ chưa thực sự nhìn nhận, xem xét, lí giải nó trong tính hệ
thống. Đóng góp của luận văn này chính là việc đặt cảm hứng bi kịch của văn
học chiến tranh sau 1975 trong sự vận động đổi mới của văn học dân tộc, xem
xét quá trình vận động, phát triển cũng như các phương diện biểu hiện của
nó…, từ đó đem đến cho người đọc cái nhìn toàn diện về vị trí của mảng văn
học này, đánh giá đúng những giá trị nhân văn, nhân bản cao đẹp vốn được ẩn
kín trong mạch ngầm, đằng sau những đau thương, bi kịch mà chiến tranh
mang lại.
14
các phương diện biểu hiện của nó:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Sử dụng phương pháp này, người viết
đặt văn học viết về chiến tranh sau 1975 nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong
sự so sánh với văn học và tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn trước, từ đó nhận ra
sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác của nhà văn được thể hiện trên nhiều bình
diện (quan niệm về hiện thực, về con người, tình huống, giọng điệu..)
- Phương pháp phân tích: Với phương pháp phân tích, người viết đã đi
sâu vào từng tác phẩm cụ thể, phân tích, thẩm bình từng chi tiết nghệ thuật... để
làm nổi bật tính bi kịch tiềm tàng trong mỗi nhân vật, mỗi tình tiết. Phương
pháp phân tích đã giúp người viết tiếp cận được với nhiều phương diện biểu
hiện khác nhau của cảm hứng bi kịch. Đây là một phương pháp cơ bản mà luận
văn đã sử dụng.
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng phương pháp tổng hợp, người viết
luận văn có được một cái nhìn toàn diện về mảng văn học mà luận văn quan
tâm nghiên cứu. Phương pháp này giúp người viết rút ra được những đặc
điểm cơ bản của cảm hứng bi kịch trong văn học chiến tranh sau 1975 cùng
các phương diện biểu hiện của nó.
IV.CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cảm hứng bi kịch trong cái nhìn về hiện thực.
Chương II: Mối quan hoài về số phận con người.
16
Chương III: Một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng bi kịch.
17
Chương 1
CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG CÁI NHÌN VỀ HIỆN THỰC.
I. GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ KHÁI NIỆM
Là cảm hứng xuất hiện trong một số lượng đông đảo các tác phẩm viết
về chiến tranh sau 1975, nghiên cứu cảm hứng bi kịch cần phải đặt nó trong
buồn thảm, cảm xúc thương đau, có tính thống thiết.
Bên cạnh sự tương đồng đó, cảm hứng bi kịch cũng có nhiều mối liên
hệ tương giao với khái niệm cái bi tuy không phải bao giờ chúng cũng trùng
khít với nhau. Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi – cái bi là "phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng có tính qui luật
của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh không
ngang sức giữa cái thiện với cái ác, cái mới với cái cũ, cái tiến bộ với cái
phản động... trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái trước.
Đó là sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và sự bất tử về tinh thần
bằng nỗi đau và cái chết của nhân vật chính diện. Cái bi tạo một cảm xúc
thẩm mỹ phức hợp bao hàm cả nỗi đau xót, niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi
khủng khiếp. Cái bi thường đi liền với nỗi đau và cái chết, song bản thân nỗi
đau và cái chết chưa phải là cái bi. Chúng chỉ trở thành cái bi khi hướng tới
và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con người"[70.31]. Gắn cái bi
với nỗi buồn, với đau thương, mất mát – "nhưng là sự mất mát của lí tưởng,
của cái cao cả, cái đẹp", nhóm tác giả Phương Lựu, Lê Ngọc Trà, La Khắc
Hoà... khẳng định "cái bi rất gần gũi với cái cao cả"[71.160]. Không phải là
một phạm trù mỹ học mà là một trạng thái tình cảm mãnh liệt gắn liền với
một tư tưởng cụ thể của nhà văn nhằm tạo ra xúc cảm cho bạn đọc nhưng cảm
19
hứng bi kịch có sự tương đồng với cái bi ở chỗ "đi liền với nỗi đau và cái
chết", tạo ra "nỗi đau xót, niềm hân hoan và nỗi sợ hãi khủng khiếp". Cảm
hứng bi kịch vì thế được hiểu như là cái nhìn mang nỗi thương đau, mang
niềm xa xót, mang mối quan hoài thống thiết về hiện thực, về con người... Cái
buồn đau, xa xót ấy được cất lên từ chính những trái ngang, những oái oăm
phạm vào cõi thiêng liêng của cái đẹp, cái thiện. Cảm hứng bi kịch vì thế là
cảm hứng viết về nỗi buồn chứ không phải niềm vui, là nốt lặng trầm chứ
không phải khúc hoan ca.
Bàn về cái bi, Mác cho rằng "bản chất của cái bi là sự xung đột"- đó
là "xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không có khả năng
hứng này, dẫu là thoáng qua- như một tiên liệu cho những tìm tòi mạnh mẽ
hơn sau 1975. Ở "Dấu chân người lính" (1972), Nguyễn Minh Châu tỏ ra
quan tâm đến những bi kịch cá nhân riêng tư khi bộc lộ nỗi trăn trở về mối
tình éo le giữa Lượng- một chiến sĩ cách mạng với Xiêm- vợ của một nguỵ
quân Sài Gòn. Cuộc đời ông cụ Phang trong tiểu thuyết này cũng được miêu
tả gắn với bi kịch đau đớn, xót xa của một người cha có đứa con trai duy nhất
cầm súng trong hàng ngũ kẻ thù. Một số tiểu thuyết sáng tác ngay sau ngày
giải phóng cũng tỏ ra hết sức nhạy cảm khi chạm vào bi kịch cá nhân riêng tư
của con người vốn ít nhiều là hậu quả của chiến tranh. Nguyễn Trí Huân tái
hiện được không khí chiến trận hào hùng của cả dân tộc những năm đánh Mĩ
trong tiểu thuyết "Năm 1975 họ đã sống như thế" (1978) nhưng cũng ngay ở
tác phẩm này dấu ấn của cảm hứng bi kịch đã xuất hiện. Nhà văn ngoài việc
miêu tả con người với chức năng xã hội còn chú ý đến con người với tư cách
là một cá nhân, cá thể với những vấn đề riêng tư của mình. Bởi vậy nhiều
nhân vật trong tiểu thuyết được miêu tả trong những cảnh ngộ éo le riêng.
21
Mạc có nỗi đau khổ trong hạnh phúc riêng tư khi chồng đang lăn lộn ở chiến
trường miền Nam thì ở nhà vợ "ngang nhiên đi lại với một người đàn ông
khác, bất chấp dư luận, bất chấp sự lên án của cơ quan, bạn bè"[6.181]. Đối
với Duật, Phác nỗi đau lại đến từ phía người thân gia nhập vào hàng ngũ kẻ
thù, trở thành kẻ đối đầu bên kia chiến tuyến. Bên cạnh việc quan tâm đến
cảnh ngộ cá nhân, nhà văn đã tái hiện được một hiện thực chiến tranh trong
cái nhìn mới mẻ khi không ngần ngại nhắc đến những hi sinh, thương vong,
chết chóc, thậm chí cả những thất bại từ chính phía hàng ngũ cách mạng. Ở
tiểu thuyết "Đất trắng", Nguyễn Trọng Oánh lại đi theo một hướng khác-
không thể hiện cảm hứng bi kịch từ những cảnh ngộ cá nhân mà từ những
biểu hiện tiêu cực, đáng buồn ngay trong hàng ngũ những người lãnh đạo sư
đoàn. Tuy nhiên ở các sáng tác về chiến tranh trước 1975 và các sáng tác
ngay sau ngày giải phóng, cảm hứng bi kịch chưa trở thành cảm hứng chủ đạo
mà mới chỉ là những dự cảm, những tiên liệu có tính khơi gợi, mở đường cho
chí quật cường của đồng bào dân tộc thiểu số Bana, Êđê, Sơđăng... Bóng
chiến tranh được tái hiện từ những trận đánh đối đầu ác liệt rát lửa đạn bom;
từ những chiến dịch được chuẩn bị công phu hàng tháng trời; từ công tác
chuẩn bị sôi nổi, hăng hái cho một chiến dịch; từ không khí thi đua sản xuất
chuẩn bị sức người, sức của ở hậu phương để cung cấp cho tiền phương... Với
lợi thế về dung lượng, thể loại tiểu thuyết thực sự đã đáp ứng được tham vọng
bao quát hiện thực rộng lớn của nhà văn. Sự kiện, biến cố xuất hiện liên tiếp
là một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kì này. Sự dồn
nén một khối lượng lớn các sự kiện, biến cố trong tiểu thuyết đã phác hoạ
được bối cảnh không hề phẳng lặng yên bình của thời đại. Mở rộng phạm vi
phản ánh, tiểu thuyết viết về chiến tranh trước 1975 tạo được tầm vóc của
23
mình từ chính hiện thực miêu tả rộng lớn và hoành tráng đó. Dáng đứng hiên
ngang, tầm vóc kì vĩ, lớn lao của dân tộc thực tế cũng được tôn vinh từ chính
cái nền hiện thực ấy.
Đưa vào tiểu thuyết một bức tranh hiện thực phong phú, rộng lớn- văn
học thời kì này đã bứt khỏi giọng điệu buồn thương, sầu mộng của văn học
1930- 1945 để cất lên âm hưởng lãng mạn hào sảng, tươi vui. Do sự chi phối
của khuynh hướng sử thi như một đặc điểm bao trùm nền văn học thời kì
chiến tranh, tiểu thuyết giai đoạn 1945- 1975 nhìn chung không hướng tới
tính đa thanh mà chủ yếu hướng đến sự đồng nhất trong quan điểm của người
trần thuật, quan điểm của nhân vật chính với quan điểm của quần chúng để
tạo nên một giọng điệu chung. Bởi vậy cái tôi riêng tư của nhà văn hoà tan
trong cái ta cộng đồng, hơi thở của cá nhân hoà cùng hơi thở của dân tộc và
tiếng nói của văn học thời kì này đồng thời cũng là tiếng nói của cả dân tộc
"những buổi vui sao cả nước lên đường" (Chính Hữu). Với giọng điệu ngợi ca
lãng mạn, tiểu thuyết về chiến tranh trước 1975 đã phản ánh được cái xôn
xao, náo nức trong mỗi con người Việt Nam. Đối với họ, đường ra trận là
đường đẹp nhất và "những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả.
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn’’ (Chế Lan Viên). Tiểu thuyết "Dấu chân
tiểu thuyết trước 1975 đồng thời cũng xây dựng nên hàng loạt các mẫu hình lí
tưởng. Nhân vật của tiểu thuyết thời kì này không phải là những con người
bước ra từ cuộc sống bình thường. Chiến tranh là môi trường bất thường nên
đã sản sinh ra những con người cũng hết sức đặc biệt. Ở họ có sự kết tinh của
vẻ đẹp thời đại, của thế hệ và vì thế họ được xem như là hiện thân, là đại diện
của cộng đồng, của dân tộc. Sống trong thời đại "muôn người như một",
gương mặt cá nhân phản ánh khuôn mặt cộng đồng, vẻ đẹp cá nhân thắp sáng
25