TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
[ \
VĂN THỊ HỒNG HOA
LỚP DH5C1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH NGỮ VĂN
Giảng viên hướng dẫn
TIÊU MINH ĐƯƠNG
LONG XUYÊN. 5/2008
VÀI NÉT VỀ NGUYỄN MINH
CHÂU (1930 – 1989)
Tên khai sinh: Nguyễn Minh Châu cũng là
bút danh, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930. Quê
gốc: làng Thôi, xã Quỳnh Hải, huyện Huỳnh Lưu,
tỉnh Nghệ An. Tốt nghiệp Thành Chung. Đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà
Trường Đại học An Giang, các phòng ban, khoa sư
phạm, đặc biệt là quý
thầy cô trong ngành Ngữ văn đã tận tình giúp đỡ, sẵn sàng hỗ trợ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu, đóng góp những ý kiến quý báu, cung cấp những tư liệu, tài liệu,
tri thức cần thiết để tôi nghiên cứu vấn đề đạt hiệu quả.
Thầy Tiêu Minh Đương đã quan tâm sâu sát và kịp thời hướng dẫn tôi giải
quyết những khó khăn bước đầu trong công việc mang tính chất mớ
i mẻ và lạ lẫm
này. Thầy đã tận tình giúp đỡ, động viên tôi về mặt tinh thần để tôi tự tin thực hiện
công trình trên cơ sở phát huy khả năng tìm tòi, học hỏi và sáng tạo. Có thể nói tôi
học được rất nhiều từ phía thầy về kinh nghiệm nghiên cứu một đề tài, các bước
thực hiện và trình bày theo khoa học và nhất là hứng thú, niềm say mê nghiên cứu
khoa học, thấy được ý nghĩa thật sự
của việc nghiên cứu.
Các bạn cùng khoá học đã nhiệt tình hợp tác, đóng góp, giúp đỡ, ủng hộ tôi
trong mọi thao tác, mọi bước hình thành khoá luận.
XIN NHẬN Ở TÔI LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH VÀ SÂU SẮC NHẤT!
Tuy nhiên với vốn kiến thức còn hạn chế của một sinh viên sắp ra trường,
chắc chắn khoá luận sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp quý báu của thầy cô và các b
ạn!
Long Xuyên. Tháng 5/ 2008
SV VĂN THỊ HỒNG HOA
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1
19
1 Tinh thần khẳng định phẩm chất tốt đẹp của con ng
ười 19
1.1 Ca ngợi con người giác ngộ lý tưởng biết làm chủ vận mệnh
mình
19
1.2 Phê phán những hành động giả trá, thiếu nhân tính
32
2 Tinh thần cảm thông về số phận và những nỗi đau khổ của
con người trong mỗi tác phẩm
41
2.1 Niềm trân trọng đối với con người
41
2.2 Niềm tin vào khả năng thức tỉnh và hướng thiện của mỗi con
người
56
C Phần k
ết luận 66
Tài liệu tham khảo 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tuấn Thành và Vũ Nguyễn (tuyển chọn). 2007. Truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu, tác phẩm và dư luận. NXB Văn học.
2. Đại học quốc gia, Trường viết văn Nguyễn Du, Tạp chí văn nghệ Quân đội.
1999. 50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng Tháng 8. NXB Đại học
quốc gia Hà Nội.
1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy. NXB Giáo dục.
18. Phạm Đăng Dư và Lê Lưu Oanh. 2002. Giáo trình lý luận văn học. Bộ giáo
dục và đào tạo, Đại học Huế, TT Đào tạo từ xa.
19. Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La
Khắc Hoà, Thành Thế Thái Bình. 2004. Lý luận văn học. NXB Gíao dục.
20.
Tôn Phương Lan (sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu). 2002. Nguyễn Minh
Châu, Trang giấy trước đèn. NXB khoa học xã hội.
21. Tôn Phương Lan. 2002. Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu. NXB
Khoa học xã hội.
22. Lý luận và phê bình văn học. 1996. Văn học và cuộc sống. NXB Lao động.
23. Vân Trang, Ngô Hoàng, Bảo Hương (sưu tầm và biên soạn). 1997. Văn học
1975-1985, tác phẩm và dư luận. NXB Hội nhà văn Hà Nội.
24. Văn học và tuổi trẻ, số 8/ 2001.
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
A Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài
1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1
3 Phạm vi nghiên cứu
2
4 Phương pháp nghiên cứu
2
5 Mục đích nghiên cứu
3
6 Cấu trúc luận văn
3
7 Đóng góp của khoá luận
9
2.2 Niềm tin vào khả năng thức tỉnh và hướng thiện của mỗi con người
10
C Phần k
ết luận 10
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mỗi sáng tác văn học đều bắt nguồn từ đời sống, mà “cái thiện và cái ác gắn
liền với những hiện tượng trong đời sống, từ tâm trạng đến hành động của con
người và cũng là đối tượng phản ánh, sáng tạo trong nghệ thuật” [6; 33-34]. Nói
như thế có nghĩa là trong quá trình tiếp xúc hiện thực hai mặt tồn tại trong tương
quan đó, nhà văn chiêm nghiệm và nhận ra “trong con người đ
ang sống lẫn lộn
người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ” [12; 133], từ đó
hình thành nên cảm hứng, nguồn động lực thôi thúc họ phản ánh vào tác phẩm.
Bằng nhãn quan nghệ sĩ, họ luôn cúi xuống những số phận, những con người ở mọi
tầng lớp từ nhiều góc độ để tìm tòi, phát hiện ra “chất người” bị hoà vào những bề
bộn, ngổn ngang của cuộc sống, để từ đó họ lên tiếng ngợi ca hoặc phê phán nhằm
khẳng định những chân giá trị, những phẩm chất tốt đẹp nơi con người.
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn trưởng thành trong thời kì kháng chiến
chống Mỹ và đặc biệt ông là nhà văn đi tiên phong ở thời kì đổi mới. Ông sớm nhận
ra được trong mỗi con người luôn tồn tại hai mặt thi
ện – ác. Vì thế, sau năm 1975,
khi đất nước được giải phóng, Nguyễn Minh Châu đã thẳng thắn soi rọi vào thực tế
chiến tranh, ông đã phát hiện ra đằng sau những con người cao cả, “thánh nhân” ấy
là những thói nhỏ nhen, ích kỷ, tham sống sợ chết. Ông nhìn thấy được nỗi ân hận,
day dứt đến tột cùng của họ về những lỗi lầm trước đây khi đang sống thật với lòng
mình, đang nhìn th
chọn đề tài này như một sự say mê tìm tòi, phát hiện và chứng minh điều tác giả đã
khẳng định.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề mà đề tài thực hiện đã có rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu. Tuy
nhiên, các nhà nghiên cứu đã tiếp cận từ các góc độ khác nhau nhưng nhìn chung,
dường như sự tập trung không phải là xâu chuỗi toàn bộ sáng tác của nhà văn mà
điểm dừng trên từng tác phẩm riêng lẻ vì thế chưa khái quát thành một hệ thống.
Trước hết, xuất phát từ lập trường Xã hội học
Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hoàn
đi sâu vào truyện ngắn “Bức tranh” để đi
sâu khai thác “cuộc đấu tranh nội tâm với khát vọng tìm tòi và phục hiện ánh sáng
nhân tính trong khả năng tự thức tỉnh của “con người bên trong con người”
(Bakhtin)” [15;
143]. Tác giả đi vào những trạng huống tâm lý nhân vật phức tạp với
diễn biến đa chiều, những hình thức nghệ thuật đặc sắc nhằm thể hiện tư tuởng chủ
đề của tác phẩm là khát vọng thức tỉnh lương tâm, hướng tới cái đẹp của sự hoàn
thiện nhân cách trong cuộc sống .
Cũng từ góc độ này, N.I.Niculin trong “Nguyễn Minh Châu và sáng tác của
anh” đã thấy được qua truy
ện vừa “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”. Sự lo
lắng của nhà văn, khát vọng bảo vệ tất cả những gì tích cực, đẩy lùi cái ác, đã bộc lộ
rõ rệt trong cuốn sách mới này của anh. Ngay ở đây anh vẫn giữ một niềm tin không
chút dao động vào cái đẹp tâm hồn của con người. Ở các truyện ngắn như “Bức
tranh”, “con người bị phán xét bởi lương tâm mình, không gì khe khắt và công bằng
hơn s
ự phán xét này” [15; 291].
Thứ hai, từ góc độ nội dung tư tưởng
Các tác giả tìm hiểu cảm hứng ngợi ca và phê phán nhưng chỉ trong một vài tác
phẩm riêng lẻ.
Còn Hoàng Ngọc Hiến có trải cái nhìn từ truyện “Bức tranh” đến “Phiên chợ
Giát”. Ở “Bức tranh” tác giả chú ý đến quá trình tự nhận thức của người ho
ạ sĩ. Còn
trong “Phiên chợ Giát” thì chú ý quan hệ giữa Bò Khoang và lão Khúng ở con người
nông dân là quan hệ “lẫn lộn bò và người”, “hai mà một, một mà hai”.
Đỗ Đức Hiểu thì tìm hiểu tác phẩm Phiên chợ Giát như “là một tâm trạng lớn,
là những cảm xúc và những suy tư sâu thẳm, một văn bản đa thanh, một tác phẩm
nghệ thuật mở, một bức tranh lạ lùng, tức là Phiên chợ Giát có một tầm cỡ lớ
n” [3;
250].
Tôn Phương Lan đi vào tìm hiểu cảm hứng nhân đạo ở tư tưởng nghệ thuật,
quan niệm về hiện thực và con người, tìm hiểu về nhân vật, tình huống và điểm nhìn
trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu.
Hoàng Thi Văn thì đi sâu vào cảm hứng nhân đạo mang tính tập trung, cụ thể là
hai truyện ngắn “Cỏ lau và Phiên chợ Giát” và nhấn mạnh ở nhân vật Lự
c và lão
Khúng về cuộc đời cũng như những trăn trở của họ. Hoàng Thi Văn nhận ra, nhà
văn Nguyễn Minh Châu bằng tấm lòng ưu ái đối với cuộc đời nên cảm hứng tư
tưởng thể hiện ở hai sắc thái vừa ngợi ca, vừa phê phán. Tinh thần ngợi ca đã “khắc
hoạ hình ảnh người lính với nét đẹp đời thường, thái độ lặng lẽ chấp nhậ
n những
thiệt thòi, mất mát, tâm trạng dằn vặt, trăn trở, tự vấn mình về một lỗi lầm trong
quá khứ” [10; 55]. Một tình yêu duy nhất thuỷ chung mang theo suốt cuộc đời- đó
chính là vẻ đẹp trong tâm hồn và trong cuộc đời sống tinh thần của người chiến sĩ.
Và tác giả đã tìm hiểu lão Khúng, hình ảnh người nông dân với những dòng hồi
tưởng, những giây phút đấu tranh tâm trạng đan xen trong ông. Tác giả nhậ
n ra ngòi
bút của Nguyễn Minh Châu giàu lòng yêu thương, sáng tác với ý thức “đi tìm cái
hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người, miêu tả với tất cả sự đa dạng,
phong phú, tiềm ẩn bên trong vẻ ngoài mộc mạc, chất phác muôn đời của người
từng khía cạnh làm nên đặc điểm nổi bật cho t
ừng tác phẩm. Vì thế, để kết quả
nghiên cứu đạt hiệu quả tốt nhất, chúng tôi sử dụng hệ thống phương pháp
Trước hết, cơ sở không thể thiếu được cho nghiên cứu là lập trường duy vật
biện chứng. Tức là tinh thần của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy
vật lịch sử là cơ sở để chúng tôi tiến hành xác lập mọ
i tiếp cận đối tượng nghiên
cứu.
Khi đi vào nghiên cứu cụ thể thì việc phân tích là một trong những phương
pháp chủ yếu. Cụ thể, để làm rõ cho việc lý giải cảm hứng nhân đạo trong một số
sáng tác của nhà văn thì việc phân tích hình tượng nghệ thuật trong từng tác phẩm là
điều không thể thiếu trong nghiên cứu. Tuy nhiên, như đã nói, với số lượng chín tác
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 5
phẩm mà chúng tôi xem như một chỉnh thể thống nhất thì việc phân tích ở đây là
phân tích – hệ thống.
Tất nhiên, tính hệ thống không chỉ dừng lại sự xâu kết, mà còn góp phần cho
chúng tôi lý giải trong một chỉnh thể thống nhất đó ở hai bình diện là cảm hứng ngợi
ca và cảm hứng phê phán. Có thể nói, phương pháp phân tích - hệ thống là cơ sở có
nhiều ưu điểm cho chúng tôi nghiên cứu cảm hứ
ng nhân đạo trong một số sáng tác
của nhà văn Nguyễn Minh Châu .
Ngoài ra, trong quá trình phân tích, lý giải thì việc so sánh cũng là điều rất cần
thiết. Vì có so sánh mới làm sáng rõ được đối tượng nghiên cứu. Đó là đi vào so
sánh ngang giữa các tác phẩm để nhận biết các tác phẩm có những điểm gì giống và
khác nhau về loại hình nhân vật, có nhiều bước chúng tôi so sánh với các tác phẩm
ngoài giới hạn đề tài.Văn học phản ánh chân thật hiện thực
đời sống nên chúng tôi
đã đặt tác phẩm vào mối tương quan với xã hội bên ngoài, từ đó rút ra hiện thực mà
tác giả phản ánh vào tác phẩm.
sau 1975 (từ trang 19 đến 67).
Ở chương này chúng tôi tìm hiểu:
1. Tinh thần khẳng định phẩm chất tốt đẹp của con người
1.1. Ca ngợi con người giác ngộ lý tưởng biết làm chủ vận mệnh mình.
Ca ngợi những người lính với những mất mát, hy sinh thầm lặng
trong cuộc đời, ca ngợi những người phụ nữ vớ
i phẩm chất thuỷ chung, suốt đời
chịu thương chịu khó vì chồng vì con.
1.2. Phê phán những hành động giả trá thiếu nhân tính
Lên án những hành vi vô nhân tính của những con người vì vật chất
mà tha hoá. Cũng như phê phán phút giây lầm lạc của những con người chưa vượt
qua “cái tôi” của mình.
2. Tinh thần cảm thông về số phận và những nỗi đau khổ của con người
2.1. Niềm trân trọng đối vớ
i con người.
Ở phần này, chúng tôi đi sâu phân tích từng số phận, nỗi đau khổ,
bất hạnh và niềm hạnh phúc thật sự cũng như khát vọng của con người trong tác
phẩm.
2.2. Niềm tin vào khả năng thức tỉnh và hướng thiện của mỗi người.
Thông qua quá trình phản tỉnh của con người trong tác phẩm, khẳng
định niềm tin của tác giả vào phẩm chất tốt đẹp của con ng
ười dù trong bất kỳ hoàn
cảnh nào cũng muốn vượt lên số phận để hoàn thiện bản thân.
7. ĐÓNG GÓP CỦA KHOÁ LUẬN
Nghiên cứu cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu
sau 1975, trước hết giúp cho chúng tôi có điều kiện hiểu rõ về bình diện tư tưởng
trong sáng tác của nhà văn để góp phần trang bị kĩ hơn cho mình về mặt kiến thức
để giúp cho nghề nghiệp sau này.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu có vị trí khá đặc biệt của nền văn học Việt Nam
sau 1975, vì thế nghiên cứu cảm hứng nhân đạo trong một s
quen làm việc”. Như
thế không có cảm hứng mà miễn cưỡng viết, chẳng qua là tập
thói quen. Và chính đó là con đường động não, tích luỹ sẽ tạo cảm hứng thật sự.
Cho nên tuy có nhanh chậm, cao thấp, kéo dài hoặc chóng tan khác nhau, nhưng
sáng tác văn học nghệ thuật không thể không có cảm hứng. Viết văn là gan ruột, tâm
huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thực sự tràn đầy trong lòng, không thể cho ra những
sản phẩm của một tâm hồ
n bằng lặng, vô vị, miễn cưỡng.
Cảm hứng là một trạng thái tâm lí căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự
căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đạt đến sự hài hoà, kết
tinh, sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục
tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng. Cảm hứng ch
ỉ có thể là kết
quả bất ngờ của việc thai nghén lâu dài, suy tư, cấu tứ, tưởng tượng trước đó.
Traixcapxki đã nói chí lí rằng “cảm hứng là một khách quan không ưa thăm đến kẻ
lười”. Sinle nói “cái mà uổng công suốt mấy tuần liền, thì được giải quyết trong ba
ngày nhờ một tia nắng dịu; song rõ ràng là sự thường xuyên của tôi đã chuẩn bị cho
bước tiến triển đ
ó”. Bôđơlơ cũng nói “Cảm hứng là nghị lực, là sự phấn khởi mang
tính chất trí tuệ và là khả năng nương giữ cái sức mạnh trong trạng thái kích thích”.
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 8
Dẫn luận nghiên cứu văn học (G. N. Pospelov (chủ biên))
Sự lý giải đánh giá sâu sắc và chân thực – lịch sử đối với các tính cách được mô
tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư
tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn.
Ngay các triết gia cổ Hy Lạp và sau này là Hegel và Belinsky đều đã dùng từ
“cảm hứng” (tiếng Hy Lạp cổ
: pathos – một tình cảm sâu sắc, nồng nàn) để chỉ
trạng thái phấn hưng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc
Chủ nghĩa nhân đạo theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu như Trần
Thanh Đạm, Hoàng Ngọc Hiến đã hướng vào lý giải văn học
Trước hết, theo Trần Thanh Đạm [22; 23] quan niệm
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 9
Nói đến chủ nghĩa nhân đạo là trước hết nói đến lòng thương người, sự mẫn
cảm trước nỗi khổ đau, bất hạnh của đồng loại, sự quan tâm, mưu cầu điều tốt, điều
lành, niềm hạnh phúc cho người vốn dễ dàng bất hạnh hơn là hạnh phúc. Chủ nghĩa
nhân đạo là thái độ đạo đức đối với con người như là đố
i tượng của tình thương yêu.
Nếu chủ nghĩa nhân bản thiên về sự thấu hiểu, thông cảm phần thể xác của con
người thì chủ nghĩa nhân đạo chú tâm hơn phần đạo lý của nó. Chủ nghĩa nhân đạo
chân chính không chỉ thương xót hay thương yêu mà còn quý trọng và đòi hỏi. Con
người không phải là thần thánh nhưng con người phải vươn lên thế giới của thần
thánh, xa dần thế giới của loài vậ
t càng nhiều càng tốt. Nói như ai, con người phải
dần dần bớt phần “con” mà thêm phần “người”. Chủ nghĩa nhân bản xác lập cái
chân, chủ nghĩa nhân đạo khuyến khích cái thiện. Nhưng con người xứng đáng với
vị thể và danh hiệu loài người, không chỉ sống thực, sống tốt mà còn sống đẹp; cái
đẹp chân chính bao gồm cả cái thực và cái tốt bên trong. Đây là lĩnh vực của chủ
nghĩa nhân văn, giang s
ơn của văn hóa, văn chương, nghệ thuật (nghĩa của chữ
“văn” là đẹp, vẻ đẹp, cái đẹp). Chủ nghĩa nhân văn cũng là chủ nghĩa nhân bản, chủ
nghĩa nhân đạo là tri thức và đạo đức về con người trong cái biểu hiện về văn hóa,
nghệ thuật, là hình thái tổng hợp và sáng tạo của cả ba nhân tố.
Hoàng Ngọc Hiến trong “Những ngả đường vào văn họ
c” thì xem xét nội dung
này rất cụ thể, theo ông
Trong các biểu hiện đa dạng của lý tưởng nhân văn tiến bộ trong lịch sử văn
học Việt Nam có hai cảm hứng nhân văn đáng được chú ý. Cảm hứng thứ nhất là
quý trọng trước hết vì mỗi người là một nhân cách rất riêng, không ai thay thế được.
Định nghĩa của Hêgel về tình thương bao hàm một nghịch lý “quên mình đi
chính là làm ch
ủ bản thân mình, hơn nữa, quên mình đi, đó là lần đầu tiên tìm được
bản thân mình và làm chủ được bản thân mình”. “Thương người”- đúng theo cách
hiểu của Hegel về tình thương – là nguyên tắc xả thân. Còn “thương mình”, mặt nào
đó, có thể xem là nguyên tắc vị kỉ. Quan hệ “thương người – thương mình” nằm
trong mối quan hệ giữa nguyên tắc xả thân và nguyên tắc vị kỉ. Có những việc làm
rõ ràng có lợi cho cá nhân, có những suy tính cá nhân nhưng không thể quy là ích kỉ
được. Ngược lại, có những hành động đóng góp lớn cho tập thể nhưng xét về động
cơ thì không đơn thuần chỉ có sự xả thân.
Dòng cảm hứng nhân văn thứ hai – không phổ biến như cảm hứng nhân văn
“tình thương” và gần gũi hơn với lý tưởng nhân văn cộng sản chủ nghĩa – trực tiếp
đặt yêu cầu phát triển năng lực của con người. Tuy không thậ
t nổi đậm, nhưng vẫn
có thể tìm thấy thấp thoáng cảm hứng này ở Nguyễn Trãi, Nam Cao. Có thể hiểu
được lí tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi qua bài thơ số 173 trong thơ chữ Nôm
“Quốc âm thi tập” của ông
Nên thợ nên thầy vì có học
No ăn no mặc bởi hay làm.
Ở đây tác giả đặt ra những vấn đề và những yêu cầu cơ bản nhất của cuộc sống
làm người: “làm” và “h
ọc”, “no ăn no mặc” và “nên thợ nên thầy”. Nói theo cách
diễn đạt của Mác, “no ăn no mặc” đó là “yêu cầu thoả mãn những nhu cầu bức thiết
nhất” và “nên thợ nên thầy” là yêu cầu phát triển các năng lực con người. Trong
dòng văn học hiện thực Việt Nam trước cách mạng, Nam Cao là tác giả có những
cảm hứng gần gũi hơn cả với lý tưởng nhân văn của chủ nghĩa cộng sản. Cả
m hứng
nhân văn này được bộc lộ trong những suy nghĩ day dứt của Thứ (trong “sống
(Bạch Đằng giang phú – Trương Hán Siêu)
Ca ngợi những con người anh hùng với những chiến công vang dội
Đánh một trận, sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận, tan tác chim muông.
……………
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay
(Bạch Đằng giang phú – Trương Hán Siêu)
và phê phán những thế lực xâm lược tàn bạo để khẳng định phẩm chất tốt đẹp của
con người. Rõ hơn có lẽ
không đâu bằng lời lên án trong “hùng văn thiên cổ” (Bình
ngô đại cáo)
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai hoạ.
Đọc câu văn mà nghe đau xót vô hạn như chính da thịt của người cầm bút bị
nướng, bị vùi.
Tiêu biểu nhất cho thời kì này là tác gia Nguyễn Trãi. Ông là người đầu tiên
đề xướng một khái niệm nhân đạo mới. Nhân đạo theo ông đúng với cái nghĩa của
nó không chỉ là thương người mà còn tin t
ưởng, tôn trọng ngợi ca, bảo vệ, phát
huy, phát triển con người chống mọi đều ngược lại. Ông đề cao sức mạnh của dân,
nhận thức họ ở tầm cao hơn, trân trọng, đề cao đúng tầm con người. Chính vì thế
mà Nguyễn Trãi không ngại mà cứ nêu, cũng trong bài Cáo, họ là manh lệ bốn
phương, họ là số đông trong nghĩa quân, vô hạn trung thành và anh dũng, ở lại
dưới cờ khi “quân không còn một lữ” t
ại Chí Linh là họ, diệt địch “sạch không
kình ngạc, tan tác chim muôn” là dưới lưỡi gươm họ tại Chi Lăng, Xương Giang
thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến. Nêu mạnh dạn như thế, đánh giá họ cao
như thế cho thấy ông rất quý trọng con người. Và cuối cùng tha cho giặc để khỏi
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
chùm thơ nói về nỗi đau kh
ổ của quần chúng lao động ở khía cạnh đói cơm rách áo.
Hai bài thơ đặc sắc nhất là “Thái Bình mại ca giả” và “Sở kiến hành”.
Thời kì 30-45, chủ nghĩa nhân đạo thấm nhuần trong các xu hướng văn học ở
cả bộ phận văn học công khai và không công khai nhưng nó lại có những biểu hiện
khác nhau. Nhìn chung các nhà văn đều hướng tới những con người bình thường,
hướng tới những người lao
động, những số phận đau khổ trong xã hội bằng một
tấm lòng cảm thông, một trái tim nhân hậu. Nhưng nếu các nhà văn lãng mạn, đặc
biệt là các tác giả của nhóm Tự lực văn đoàn quan tâm đến việc lên án lễ giáo
phong kiến hủ bại, đấu tranh của tình yêu tự do, cho hạnh phúc cá nhân của con
người qua cuộc đời nhân vật Mai trong “Nửa chừng xuân”, An trong “Gia đình”
của Khái Hưng hay Loan trong “Đoạn tuyệt” c
ủa Nhất Linh… Thì các nhà văn
hiện thực lại đi sâu vào nỗi khổ cùng cực của con người, đặc biệt là người nông
dân, dân nghèo thành thị, người trí thức nghèo…, phát hiện và tỏ ra yêu thương,
quý trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ, đồng thời thể hiện nỗi xót xa, đau đớn
trước tình trạng những kiếp người ấy phải sống mòn mỏi, vô nghĩa, quẩn quanh, bế
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 13
tắc trong một xã hội đói nghèo, tối tăm như Thứ trong “Sống mòn”, Hộ trong “Đời
thừa” (Nam Cao) mang bi kịch tinh thần của người trí thức bị “nợ áo cơm ghì sát
đất”.
Có thể nói, đến Nam Cao thì khái niệm nhân đạo đạt được sự hoàn chỉnh nhất.
Trước hết, ông quan niệm văn chương có một sứ mệnh hết sức quan trọng, nó vừa
đề cập đến những nỗi đau củ
a con người bằng niềm thông cảm, yêu thương đồng
thời nó cũng góp phần thêm sức mạnh nó giúp con người có thể vươn tới một cuộc
sống tốt đẹp hơn, một cuộc sống đầy lòng nhân ái, công bình “Chao ôi! Nghệ thuật
không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể
trưởng thành của quần chúng trong cách mạng.
Tình cảm gắn bó sâu sắc, máu thịt, niềm tự hào của con người Vi
ệt Nam với
Đảng, với Bác Hồ vĩ đại được các nhà thơ khẳng định, ngợi ca trong nhiều bài thơ
như “Tổ quốc bao giờ đẹp như thế này chăng?”, “Sao chiến thắng” của Chế Lan
Viên, “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, “Việt Nam máu và hoa” của
Tố Hữu, “Quê Hương” của Giang Nam, “Vàm Cỏ Đông” của Hoài Vũ… Đó là sự
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 14
khám phá về hình tượng tổ quốc cũng có nghĩa là khám phá dân tộc Việt Nam, con
người Việt Nam với những phẩm chất cao đẹp và bền vững.
Văn học Việt Nam giai đoạn này hầu như đều viết về đời sống chiến trường,
phản ánh được tính chất ác liệt, dữ dội, những hi sinh gian khổ của con người Việt
Nam trong chiến tranh. Họ đã phải sống trong những c
ảnh
Không có kính không phải vì không có kính
Bom giật, bom rung, kính vỡ mất rồi
(Bài ca về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Tôi với anh biết từng cơn nóng lạnh
Rét run người vầng trán đẫm mồ hôi
……………
Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá, chân không giầy
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
(Đồng chí – Chính Hữu)
Cố gắng ngợi ca vẻ đẹp của quê hương đất nước và vẻ đẹp con người Việt Nam
“Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
Chuyện kể rằng em cô gái mở đường
Để
cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương
Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hướng thù hứng lấy làn bom”
(Khoảng trời, hố bom - Lâm Thị Mỹ Dạ)
Hướng về đời sống hiện tại, phản ánh những đổi thay của đất nước và con
người trong công cuộc xây dựng cuộc sống m
ới, với những cuộc xung đột và cuộc
đấu tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội và thống nhất đất nước là đề tài thu hút
nhiều cây bút văn xuôi. Ở mảng đề tài này ta thấy Nguyễn Khải có cả tập truyện
ngắn “Mùa lạc” hay “Tầm nhìn xa”….
2.3. Giai đoạn sau 1975
Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên cơ sở tinh thần nhân bản là nền tảng tư tưởng
và cảm hứng chủ đạo bao trùm của nền văn học từ sau 1975. Từ sau 1975, cuộc
sống dần trở lại với những quy luật bình thường của nó, con người trở về với muôn
mặt đời thường, phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề trong một giai đoạn có nhiề
u
biến động, đổi thay của xã hội. Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân,
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 16
đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi người và từng số phận. Văn học ngày càng đi tới một
quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người mà nền tảng triết học và hạt phân
cơ bản của quan niệm ấy là tư tưởng nhân bản. Văn xuôi có nhiều đổi mới về nghệ
thuật tự sự, từ sự thay đổi điểm nhìn trần thuật
đến xây dựng nhân vật, độc thoại nội
tâm và dòng ý thức, tính đa thanh và đa giọng điệu… Và những năm đầu của thời kì
đổi mới đã phát triển sôi nổi một khuynh hướng trong văn xuôi, có thể gọi là
khuynh hướng nhận thức lại. Để đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng sự thật, nhiều cây bút
tảo hôn”, nó đã khiến cho Giang Minh Sài trở thành con người sống phân thân thành
hai con người: một con người vui vẻ chấp nhận cuộc sống hiện tại vào ban ngày và
một con người đau đớn về tinh thần khi đêm về. Mà điều đáng nói ở đây là hai con
người ấy hình thành từ lúc Sài mới mười bốn tuổi. Mặc dù Sài thành công trên con
đường chính trị, nhưng anh không được miêu tả như một con người anh hùng mà là
một con người đau khổ vì chưa thoát khỏi sự trói buộc của ý thức hệ tư tưởng gia
trưởng, một ý thức hệ lâu nay bàng bạc trong đời số
ng tinh thần của xã hội nhưng
chưa được nhận dạng, một hệ tư tưởng hết sức phức tạp, có lúc nghiệt ngã đến tàn
bạo. Đến nay, với yêu cầu đổi mới của đất nước, Lê Lựu đã vạch trần mặt tiêu cực
của ý thức hệ này và thăng thắn đả kích thông qua sự thất bại trong đời sống tinh
thần của Sài, Sài đã thất b
ại trong đời sống riêng, phải chấp nhận sống cô đơn với
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 17
tình yêu của mình. Cuộc sống đầy bi kịch tinh thần, không có hạnh phúc của Sài là
hồi chuông báo động tình trạng xuống cấp và không còn phù hợp với thời kì đổi mới
này.
Gắn liền với sự thức tỉnh ý thức cá nhân là cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm
hiện thực và cố bày tỏ tư tưởng riêng trong việc đổi mới tư duy của nhà văn trong
sáng tạo nghệ thuật. Bởi thế trong văn họ
c xuất hiện nhiều đề tài, chủ đề mới với sự
nhìn nhận, khám phá con người ở nhiều vị thế, nhiều bình diện và tầng bậc khác
nhau trên nền tảng của tư tưởng chủ nghĩa nhân bản như một loạt tác phẩm “Nỗi
buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc
Trường, “Bến không chồng” của D
ương Hướng…”. Ta thấy, qua những nhân vật
trong “Bến không chồng” của Dương Hướng, là những con người luôn sống trong
sự phản tỉnh. Đó là Nguyễn Vạn với lần lầm lạc ở gần cuối cuộc đời, là Hạnh phút
giây sa ngã vì khát khao cuộc sống hạnh phúc, là Thuỷ vì thương chồng chấp nhận
được xa nhất ở chặng đầu này là Nguyễn Minh Châu với những truyện ngắn hướng
vào các vấn đề thế sự - đạo đức trong đời sống hằng ngày của con người (Bức tranh,
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Mùa trái cóc ở miền Nam, Cỏ lau, Cơn
giông…). Nguyễn Minh Châu với trách nhiệm phản ánh sự thật ở đời đ
ã tìm hiểu
Cảm hứng nhân đạo trong một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975
Văn Thị Hồng Hoa 18
mặt trái của chiến tranh. Nhìn lại đằng sau những chiến công, những thành tích của
những anh hùng trong kháng chiến để nhận ra những giây phút yếu lòng dẫn đến sự
sai lầm của những người lính một thời anh hùng. Song song đó, ông cũng lên án,
vạch trần những hành động giả trá, phi nhân tính của những con người không đủ
kiên định để vượt qua cám dỗ vật chất tầm thường đã đánh mất tính lương thiện
trong mình. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông phủ định mà nhằm khẳng định
phẩm chất của họ, nhằm chỉ ra họ cũng là những con người bình thường và những
chiến công của họ là những chiến công của người bình thường chứ không là của
“thánh nhân”. Và vì thế trên những trang viết càng nâng cao giá trị của họ, cho thấy
họ đã vượt lên những cái bình thường của con người để đấu tranh giành
độc lập và
thấy họ càng cao cả hơn. Họ trở thành thánh nhân trong chính hành động của họ.