SỰ tác ĐỘNG của HOÀN CẢNH đối với TÍNH CÁCH NHÂN vật TRONG một số SÁNG tác TRƯỚC CÁCH MẠNG của NHÀ văn NAM CAO - Pdf 31

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA HOÀN CẢNH ĐỐI VỚI
TÍNH CÁCH NHÂN VẬT
TRONG MỘT SỐ SÁNG TÁC TRƯỚC CÁCH
MẠNG CỦA NHÀ VĂN NAM CAO

N hiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, văn học hiện thực chỉ thực sự

xuất hiện tại Việt Nam vào những năm 30 của thế kỉ XX.( Muộn hơn so với thế
giới khoảng một trăm năm). Song ngay từ đầu những năm 30 và trong cả quá
trình vận động và phát triển, văn học hiện thực đã trưởng thành nhanh chóng và
thu được những thành tựu bề thế. Hàng loạt những cây bút lớn đầy tài năng của
văn học hiện thực đã thu hút và chiếm được tình cảm yêu mến của độc giả như
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao....
Đặc biệt là Nam Cao. Ông là đại biểu cuối cùng nhưng là đại biểu ưu tú, là đỉnh
cao của văn học hiện thực (1930 - 1945). Sự nghiệp mà Nam Cao để lại tuy
không đồ sộ nhưng luôn là một " Mẫu số vĩnh hằng", một " Gia tài lồ lộ mời gọi
" sự tìm tòi và khám phá. Nam Cao có được những thành công ấy bởi "Ông là
một trong số những nhà văn hiện thực phê phán có ý thức nhất về quan điểm
nghệ thuật của mình” và Nam Cao đã thực hiện triệt để quan điểm ấy trong các
sáng tác “Những quan điểm đó ít khi được phát biểu trực tiếp dưới dạng lí luận
mà thường bộc lộ qua sáng tác và hình tượng nghệ thuật của ông".(Trần Đăng
Suyền ). Trong hệ thống quan điểm nghệ thuật "tự giác, hoàn chỉnh, nhất quán
và tiến bộ" của nhà văn Nam Cao bước đầu đi vào một khía cạnh còn nhiều
khoảng trống trong nghiên cứu, đó là : "Sự tác động của hoàn cảnh đối với
tính cách nhân vật trong một số sáng tác trước Cách mạng của nhà văn Nam
Cao".
Một khâu có tính chất quyết định trong quá trình sáng tạo của nhà văn là
phải xây dựng được nhân vật cho tác phẩm của mình. Nếu không có nhân vật
coi như nhà văn đã thất bại. Vì vậy, M.Gorki có lần đã khuyên một nhà văn trẻ:
"Anh hãy bỏ nghề viết đi. Đấy không phải là việc của anh, có thể thấy rõ như
thế. Anh hoàn toàn không có khả năng miêu tả con người cho sinh động, mà


hiện của sự đổi thay trong tính cách nhân vật do sự tác động nặng nề của hoàn
cảnh. Trong số những sáng tác của Nam Cao, "Một bữa no" là một truyện ngắn
ám ảnh về sự đầu hàng của con người trước hoàn cảnh, vì hoàn cảnh mà đổi
thay tính cách và tệ hại hơn là đánh mất cả nhân cách con người. Truyện mở ra
bằng hoàn cảnh đáng thương, tội nghiệp của bà cái Tí. Bà lão rơi vào cảnh
nghèo đói cùng quẫn. Cái đói tích tụ, dồn đuổi, hành hạ, giày vò bà lão từng
ngày, kéo dài hàng tháng" Hơn ba tháng nay bà ăn toàn bánh đúc. Mới đầu còn
được ngày ba tấm, sau thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng
bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng". Song lòng tốt của
con người cũng có giới hạn nên mấy hôm nay bà phải chịu cảnh " nhịn đói".
Hoàn cảnh khốn cùng ấy tác động mạnh mẽ tới trí não, thái độ, hành động và
suy nghĩ của bà lão. Bà nghĩ ra một phương kế : đi xin một bữa ăn no để có thể
duy trì sự sống, cải thiện hoàn cảnh hiện tại. Bà lão đến nhà Phó Thụ - nơi đi ở
của đứa cháu gái. Trước những lời nhục mạ của Phó Thụ, bà lão " cúi đầu như
một con mẹ ăn cắp lúa bị tuần sương bắt được", bà nhẫn nhục như một kẻ phạm
tội, nhẫn nhục chịu đựng tất cả những lời tàn nhẫn, cay độc của mụ địa chủ keo
kiệt, nhẫn tâm và cạn tàu ráo máng. Bà hứng chiụ cả những tiếng quát tháo, ánh
mắt lườm nguýt để được một bữa cơm. Không đợi được mời, bà sà xuống mâm
cơm, tay bà run run so đũa, run run cất tiếng mời nhưng lời mời của bà chưa
phát ra hết khỏi cổ họng thì bị chặn đứng lại. Bà vẫn ăn : bà ăn vội ăn vàng, bà
ăn nhanh vì sợ người khác ăn hết. Bà già lóng ngóng, lập cập nên rớt cả mắm
ra ngoài. Mọi người đứng lên rồi bà vẫn còn ăn, còn cạo nồi sồn sột. Bà lão ăn
để thoả cơn đói khát lâu ngày, ăn không ý tứ, không nghĩ gì tới sĩ diện, tới danh
dự bản thân bởi bà nghĩ "Ăn chực thì còn danh giá gì nữa mà làm khách". Bà
lão khốn khổ chỉ vì miếng ăn, cái đói, vì hoàn cảnh mà để người khác nhục mạ,
khinh bỉ mình. Bản thân bà lão đã từ bỏ cả danh dự, lòng tự trọng để kiếm một
bữa no. Bà lão đâu biết rằng bà đã đánh đổi "nỗi khổ về vật chất lấy nỗi nhục về
tinh thần". Bà đã đánh mất nhân cách của một con người trước hoàn cảnh. Hiện
thực tàn nhẫn không dừng lại ở đó, một tháng sau bữa ăn no bà lão chết. Người

xạm màu gio, nó vằn ngang, vằn dọc không thứ tự biết bao nhiêu là sẹo, vết
mảnh chai của bao lần ăn vạ, kêu làng". Nhân tính, bản tính tốt đẹp trong con
người ngày càng rời xa Chí Phèo. Chí Phèo lúc nào cũng say, những cơn say
triền miên " cơn này tràn sang cơn khác, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc
say, thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chởi bới, doạ nạt trong lúc say".
Những cơn say đã tiêu huỷ đời sống ý thức của Chí Phèo, kích thích hành động
bản năng trong con người Chí. Khi say Chí sẵn sàng tàn ác, dã man ngay với cả
bản thân mình và đồng loại. Say rượu, Chí Phèo chửi bới, rạch mặt, ăn vạ, kêu
làng, tệ hại hơn Chí Phèo còn phá hoại cuộc sống vốn đã khốn khổ của dân làng
Vũ Đại" Hắn biết đâu hắn đã phá biết bao nhiêu cơ nghiệp, đập phá bao nhiêu
cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của bao người dân lương thiện. Hắn
đâu biết vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say. Hắn say thì
hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm". Chí Phèo trở thành nỗi sợ hãi của
dân làng Vũ Đại, người ta xa lánh, tuyệt giao với Chí Phèo, ngay đến hình thức
giao tiếp tồi tệ, hạ đẳng nhất là chửi nhau với Chí người ta cũng không ra lời
"Chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu". Chí bị đẩy hẳn sang thế giới
của loài vật, Chí Phèo trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Chí Phèo đã mất
hết nhân hình và nhân tính, Chí đã đem diện mạo, nhân tính, tính cách tốt đẹp
của mình - của một con người bán dần cho quỷ "không phải là mua đứt, bán
đoạn, cũng không phải là bán buôn, bán sỉ mà là bán dần, bán lẻ lấy dăm ba
hào chỉ hết sức rẻ mạt", Chí đã bán tất cả để có thể tồn tại. Chí Phèo là điển
hình sắc nét của Nam Cao về sự tha hoá tính cách trước hoàn cảnh.... Tha hoá
tính cách trước hoàn cảnh là hiện tượng khá phổ biến của người nông dân ở làng
quê Việt Nam trước cách mạng.
Không chỉ ở đề tài người nông dân mà khi viết về người trí thức tiểu tư
sản nghèo, Nam Cao cũng đã phát hiện ra sự tác động ghê gớm của gánh nặng
cơm áo, của hoàn cảnh tới tính cách của con người. Nhà văn Hộ trong truyện
ngắn Đời thừa của Nam Cao sau khi lập gia đình đã hoàn toàn thay đổi về tính
cách. Vì miếng cơm, manh áo của vợ con, Hộ phải lao vào kiếm tiền, phải ra
sức viết. Hộ viết vội, in vội " Những bài báo mà người ta đọc rồi quên ngay sau

không còn thấy xấu hổ nữa...Lộ cứ chai lì, trâng tráo dần trên con đường làm
mõ. Rõ ràng, Lộ vốn là người có những tính cách tốt đẹp, bản chất của Lộ đâu
phải là trơ tráo, chai lì, đê tiện. Diễn biến tâm lí của Lộ, ý định bỏ nghề mõ để
bảo toàn danh dự đã cho thấy điều đó. Nhưng không làm mõ, Lộ không có mấy
sào vườn, cảnh nhà bi đát, vợ con đói khổ. Vì vậy mà Lộ đã chấp nhận hoàn
cảnh, dần phải thích ứng với hoàn cảnh, chấp nhận sự nhục mạ của dân làng,
người ta càng xúc phạm Lộ càng trơ trẽn, người ta càng làm nhục Lộ càng phải
tỏ ra không biết nhục. Lộ là nạn nhân khốn khổ của hoàn cảnh - của cái nghèo
nhưng khốn khổ hơn Lộ còn là nạn nhân của cái gọi là " lòng khinh trọng" của
người đời. Lòng khinh trọng của những người xung quanh đã đẩy Lộ đến đỉnh
điểm của sự tha hóa. Nhà văn Nam Cao đã kết luận về hiện thực đau xót này
trong câu văn ở gần cuối tác phẩm "Thì ra lòng khinh trọng của chúng ta ảnh
hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm". Bên cạnh bà cái Tí, anh
cu Lộ thì Chí Phèo là nạn nhân xót xa nhất của hoàn cảnh. Bản chất của Chí
Phèo hoàn toàn tốt đẹp. Khi làm canh điền cho nhà Lí Kiến, trước khi vào tù,
mặc dầu Chí không có chút tài sản nào" không nhà, không cửa, không tấc đất
cắm dùi", phải bán sức lao động để kiếm sống nhưng ở Chí có bao phẩm chất
đáng quý của người nông dân thuần hậu : Chí hiền lành, khoẻ mạnh. Có những
ước mơ đơn sơ, bình dị mà vô cùng chính đáng" chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ
dệt vải..". Anh cũng là người có lòng tự trọng, biết phân biệt đâu là tình yêu
chân chính, đâu là thói dâm đãng xấu xa " Bị bà ba Lí Kiến gọi lên bóp chân,
xoa bụng Chí chỉ thấy nhục hơn là thích". Nhưng hoàn cảnh mà Chí Phèo phải
đối mặt vô cùng khắc nghiệt, bao thế lực tàn ác dồn đuổi Chí Phèo nhằm tiêu
diệt tính cách tốt đẹp trong con người Anh. Khi Chí Phèo làm canh điền cho nhà
Lí Kiến bà ba Lí Kiến muốn chiếm đoạt sức lực và tuổi trẻ của Chí. Lí Kiến bóc
lột sức lao động, ghen tuông với tuổi trẻ của Chí Phèo nên đẩy Chí vào tù. Nhà
tù thực dân nhào nặn, bóp méo Chí khi Chí vào tù. Trở về làng sau bảy, tám
năm đi tù các thế lực tàn ác vẫn vây hãm Chí Phèo. Bá Kiến tiếp tục lợi dụng
biến Chí thành công cụ, thành tay sai trong việc đè nén, áp bức người dân lành
và trừng trị các phe cánh đối địch không cho Chí phèo cơ hội quay trở lại với

tình thương... Nhưng rồi anh cũng đã không trụ vững trước hoàn cảnh, để những
tính cách tốt đẹp của mình phôi pha trước hoàn cảnh....
Tất cả những nhân vật ấy, từ người nông dân cho đến người trí thức, họ
đều chịu những tác động, những áp lực ghê gớm của hoàn cảnh sống. Trước
hoàn cảnh họ không còn là mình nữa. Đó là hiện thực đau xót của cuộc sống
con người những năm trước Cách mạng. Hiện thực ấy được Nam Cao phản ánh,
mô tả một cách tỉ mĩ, kĩ lưỡng, sâu sắc giúp người đọc có những hình dung cụ
thể, thấm thía về sự nghiệt ngã, tàn ác của hoàn cảnh đối với tính cách nhân vật,
con người. Với nhà văn Nam Cao, khi phản ánh, phân tích, lí giải hiện thực, ông
đã cố " đóng cũi sắt tình cảm" của mình để viết những trang văn khách quan,
lạnh lùng, tỉnh táo nhưng kì thực đằng sau mỗi câu chữ ấy là một nỗi niềm xót
xa, thương cảm tận đáy lòng của nhà văn với con người. Đó chính là lí do khiến
phần lớn cuộc đời cầm bút của mình, Nam Cao luôn băn khoăn, day dứt về vấn
đề tính cách, sự xói mòn nhân cách của con người. Và vấn đề này trở thành một
chủ đề ám ảnh trong sáng tác của Nam Cao.
Cái nhìn hiện thực của Nam Cao không chỉ có chiều rộng mà còn có
chiều sâu. Vì vậy, hoàn cảnh quyết định tính cách các nhân vật trong sáng tác
7


của Nam Cao trước Cách mạng còn là hoàn cảnh rộng, hoàn cảnh xã hội.
Nhà văn đặt ra vấn đề hoàn cảnh nhỏ hẹp liên quan đến hoàn cảnh rộng, cái vi
mô liên quan đến cái vĩ mô. Nạn nhân của hoàn cảnh gia đình, làng quê, trường
học... thực chất là nạn nhân của xã hội. Xã hội Việt Nam những năm 19301945 nói chung và nông thôn Việt Nam nói riêng xơ xác tiêu điều, sự nghèo đói,
bất công, tàn ác" ngấm sâu khắp cơ thể xã hội ", lan đến từng đơn vị nhỏ nhất
là trường học, làng quê, gia đình. Số phận con người trở nên vô cùng thê thảm,
bất hạnh gõ cửa từng nhà, con người chạy cùng trời cùng không thoát khỏi sự
nghèo đói, bế tắc và cái chết. Hoàn cảnh xã hội là nguyên nhân chính, nguyên
nhân đầu tiên tác động đến sự tha hoá trong tính cách của con người bởi gia
đình, làng quê hay trường học đều là tế bào của xã hội. Chỉ ra nguyên nhân hoàn cảnh sống nhất là hoàn cảnh xã hội tác động, chi phối sự hình thành, phát

chống đỡ lại hoàn cảnh ở một mức độ nào đó như Chí Phèo hay Hộ, Điền,
8


Thứ...Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở đã hoàn toàn thức tỉnh, đời sống ý thức đã
hồi sinh. Chí Phèo khao khát hạnh phúc và cuộc sống lương thiện. Bản chất
người - sự lương thiện đã quay trở lại trong Chí Phèo. Vì bà cô Thị Nở, Thị Nở
từ chối Chí Phèo. Đang chứa chan hi vọng, Chí lại rơi vào nỗi đau đớn và tuyệt
vọng nhưng Chí Phèo không say mà càng uống càng tỉnh. Phẩm chất con người,
đời sống ý thức giúp Chí Phèo nhận ra kẻ thù đích thực của mình không ai khác
là Bá Kiến và hoàn cảnh hiện tại không thể làm người lương thiện được nữa.
Anh chấp nhận cái chết dữ dội, đau đớn để được là một con người lương thiện
chứ không thể quay trở về cuộc sống của loài quỷ dữ. Chí Phèo đâm chết Bá
kiến và tự vẫn... Nhà văn Hộ cho dù đánh mất tư cách một nhà văn, có lúc đánh
mất tư cách con người song vẫn có những giây phút ăn năn, sám hối. Anh vẫn
hướng về lẽ sống của tình thương. Điền, Thứ... cũng đã có những dằn vặt, day
dứt trước hoàn cảnh... Điều đáng nói ở những nhân vật này của Nam Cao là
phần tốt đẹp - phẩm chất người trong họ đã trỗi dậy, hồi sinh sau khi tha hoá.
Nhưng để có được điều này không đơn giản, dễ dàng, bởi họ chỉ là những con
người bé nhỏ, thân cô thế cô mà tấn công họ, đẩy họ vào hoàn cảnh khắc nghiệt
là cả một xã hội với bao áp lực, thế lực tàn bạo. Để giúp con người chống đỡ lại
hoàn cảnh ở một mức độ nào đó, giúp họ giữ lại những phẩm chất người cao
quý không thể thiếu những tình cảm nhân văn, những giá trị cao quý và bất
biến. Đó là Tình yêu thương con người. Tình yêu thương sẽ cứu vớt con người,
giữ con người lại bên bờ vực của sự tha hoá vĩnh viễn. Tình yêu thương của Thị
Nở đưa Chí Phèo vượt qua sự tha hoá để trở lại làm người, tình yêu thương ở
Hộ mới khiến cho anh ăn năn, sám hối... Đáng tiếc số phận của các nhân vật
đều rơi vào bế tắc bởi xã hội thực dân nửa phong kiến không bao giờ cho con
người được làm người theo đúng nghĩa. Phát hiện này của Nam Cao đã thể hiện
một cảm quan hiện thực sắc sảo cùng một trái tim luôn thổn thức và trĩu nặng

tâm lí xuất sắc. Đặc sắc của ngòi bút Nam Cao còn ở nghệ thuật trần thuật linh
hoạt, nhà văn không chỉ thuật kể một cách khách quan mà còn kể theo điểm
nhìn của nhân vật, không chỉ dùng lời trực tiếp mà còn kết hợp với lời nửa trực
tiếp vô cùng sinh động. Ngôn ngữ của Nam Cao hiện đại mang hơi thở nồng
nàn của cuộc sống, giàu sức biểu hiện và giàu ý nghĩa. Kết cấu truyện của Nam
Cao độc đáo, đặc biệt, có khi là kết cấu tâm lí, có khi là kết cấu phức hợp trong
các truyện "Tư cách mõ', "Chí Phèo"," Sống mòn" ... tức là có sự đan cài nhiều
kết cấu khác nhau trong tác phẩm tạo nên hiện tượng " truyện trong truyện", dồn
chất tiểu thuyết vào khuôn khổ thể loại tạo nên sức hấp dẫn lớn không thể
cưỡng lại. Giọng điệu trong văn Nam Cao có vẻ lạnh lùng khách quan song
thấm đẫm yêu thương và giàu ý vị triết lí.... Những trang văn của Nam Cao khi
viết về sự quyết định của hoàn cảnh đối với tính cách nhân vật thực sự là "
những dòng văn xuôi mọc cánh’’, in đậm phong cách nghệ thuật của một thiên
tài văn học.

Trong sự phát triển dồn nén, tăng tốc của văn học Việt Nam đầu thế kỉ
XX, Nam Cao là đại diện của khuynh hướng hiện thực ở giai đoạn cuối cùng.
Nhưng với ý thức " không nói những cái người ta nói, không tả theo lối người
ta tả" thì những sáng tác của ông trước cách mạng, những vấn đề nóng bỏng mà
ông đặt ra trong tác phẩm của mình trong đó có vấn đề về vai trò của hoàn cảnh
với tính cách nhân vật luôn là những giá trị bất biến đưa tên tuổi và sự nghiệp
của Nam Cao đi vào cõi bất tử.
Quảng Ninh, ngày 5/7/2014

10




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status