Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
------------
PHẠM ANH NHI
CẢM HỨNG “ LIÊU TRAI” TRONG
MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA
GIẢ BÌNH AO
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: PHẠM HOÀNG NGHĨA
Cần Thơ, 5/2011
-1-
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
PHẦN I: MỞ ĐẦU
--- --1. Lý do chọn đề tài:
Mỗi con nguời trong chúng ta chỉ là một giọt nước giữa biển người mênh mông.
Hoà vào đó biết bao điều kỳ thú diễn ra hàng ngày mà chúng ta không thể biết hết
được. Vì vậy, ta phải không ngừng nỗ lực và tìm tòi những kiến thức để có thể bổ
xuất sắc ở các lĩnh vực tiểu thuyết, tản văn, truyện ngắn. Đặc biệt, tập truyện
“Quỷ Thành” (nguyên tác và cũng là tên tác phẩm dịch ở Việt Nam năm 2003) là
một tập truyện ngắn hay và đặc sắc của ông. Trong đó có truyện vừa “Quê cũ”
(in trong tập truyện này) đã được giải thưởng văn học tạp chí tháng mười năm
1998. Qua bản dịch Lê Bầu muốn người đọc từng bước nắm bắt được những giá trị
nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Vì thế, người viết đã chọn “cảm hứng liêu
trai” trong “một số truyện ngắn của Giả Bình Ao” làm đề tài nghiên cứu như một
dịp để thẩm định lại các ý kiến xoay quanh tác phẩm. Song song đó người viết
cũng mong muốn tìm hiểu khám phá sâu sắc hơn về một số truyện ngắn của ông và
nền văn học Trung Quốc đương đại, nắm bắt được những biến động, thay đổi,
những vấn đề tồn tại trong xã hội qua hình ảnh người nông dân Trung Quốc hôm
nay.
2. Lịch sử vấn đề:
Có thể nói “cảm hứng liêu trai” trong “một số truyện ngắn của Giả Bình Ao” là
một đề tài mới lạ. Người nghiên cứu sẽ gặp không ít khó khăn vì những công trình
nghiên cứu, các sách vở có đề cập sâu đến những vấn đề này rất ít. Người nghiên
cứu trình bày suy nghĩ hiểu biết của mình dễ rơi vào phiến diện, chủ quan, thiếu
tính hệ thống và khoa học. Do đó, khi viết người nghiên cứu sẽ cố gắng trình bày
vấn đề một cách rõ ràng nhất dựa vào sự hiểu biết khách quan về các tác phẩm, tìm
nguồn từ Internet cùng với sự hướng dẫn của giáo viên để công trình nghiên cứu
dần được hoàn thiện.
Vào thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều là thời kỳ phồn vinh của tiểu thuyết chí
quái. Đường Tống có rất nhiều truyền kỳ. Minh Thanh cũng xuất hiện nhiều tiểu
thuyết chí quái, mà tiểu thuyết tiêu biểu nhất là “Liêu trai chí dị” của Bồ Tùng
Linh. Sau Ngũ Tứ, tiểu thuyết Trung Quốc có sự thay đổi lớn. Các nhà viết chịu
ảnh hưởng của văn học Liên Xô và dòng hiện thực phê phán của văn học Tây Âu,
nên tiểu thuyết Chí Quái có phần lắng xuống, nhưng đến thập kỷ 80 của thế kỷ này,
tiểu thuyết quái dị đã sống lại khá sinh động và đông đúc.
Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, trong xã hội Trung Quốc dấy
cạnh sù sì đặc thù hấp dẫn của nhân vật mà còn vì nét thần bí vốn có trong nhà
văn hoá dân gian Trung Quốc cũng phảng phất trong đó. Sự độc đáo cả về đề tài
lẫn cách viết là nguyên nhân khiến tiểu thuyết của ông được nhiều giới hoan
nghênh, vừa gần gũi với dòng văn học chủ lưu phản ánh văn hoá, xã hội trên đà
cải cách, vừa thu hút đồng nghiệp và giới phê bình bằng những lời văn đặc sắc,
độc đáo của ông” [3;6]
Khi tiếp cận một số truyện ngắn của Giả Bình Ao có thể thấy ông đã dùng bút
pháp mộng ảo để thể hiện nhân sinh ảo mộng. “Nhà văn thể nghiệm sâu sắc và biểu
hiện sinh động trong nền văn hoá thần bí giúp độc giả hiểu được, thấm được cuộc
sống và đặc tính văn hoá của dân tộc Trung Hoa, thậm chí hiểu được cái kì diệu
-4-
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
nhân tính” [5;415]. Trong bài viết “Liêu trai hiện đại trong nền Trung Quốc đương
đại” (Lê Huy Tiêu- những cảm nhận mới về văn học Trung Quốc, nxb đại học Sư
phạm, năm 2002). Qua đó người viết cũng được cấp thêm một số thông tin về Giả
Bình Ao và một số truyện ngắn trong tác phẩm
“Quỷ Thành” của Lê Bầu dịch,
nhà xuất bản phụ nữ năm 2003, những truyện viết trong tập này ông đều viết về
nông thôn. “Ảnh hưởng của đổi mới và “thương trường” cũng đã dội về vùng nông
thôn miền núi hẻo lánh. Song dù vậy, những truyện về nông thôn của ông vẫn mang
đậm sắc thái truyền thống của nông dân Trung Quốc. Ông luôn chọn những góc độ
độc đáo để quan sát xã hội, nên luôn khắc hoạ những nhân vật đa dạng, thô tháp,
nhưng đầy đôn hậu, đầy “ngây thơ”, nhiều khi ngây thơ đến mức tức cười, nhưng
lại rất đáng yêu, qua những phong tục tập quán đã hình thành xương thịt của họ”
[2;6]. Qua đó, cho ta biết thêm về tâm tư tình cảm và nỗi trăn trở của Giả Bình Ao
Nghiên cứu “cảm hứng liêu trai” trong “một số truyện ngắn của Giả Bình Ao”
người nghiên cứu không những hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp mà bên cạnh
đó hiểu sâu thêm về các nhà văn Trung Quốc. Họ có nét văn phong riêng trong
từng cách viết. Thời gian trôi qua sự tiếp thu và có chọn lọc sẽ giúp các nhà văn
trưởng thành hơn trong ngòi bút của mình. Đối với Giả Bình Ao khi nghiên cứu đề
tài này người nghiên cứu hiểu thêm về thể loại huyền ảo. Nó có từ đâu và xuất hiện
trong một hoàn cảnh như thế nào? Nó góp phần vào những chặng đường hình thành
và suy vong ra sao…? Song song đó ta có thể am hiểu hơn về phong tục tập quán
và văn hoá dân tộc Trung Quốc nơi đó vẫn còn tin vào thần thánh ma quỷ, mê tín
của người dân. Giả Bình Ao đi vào lòng người bằng phong cách thẳng thắn, chân
thành, không bàn luận sâu xa mà nó thể hiện ngay trong cuộc sống, một con người
có sự quan sát độc đáo, tinh tế về nhân sinh xã hội triết lý được rút ra từ sự thể
nghiệm, khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp người nghiên cứu cũng bắt đầu một
khóa học làm người. Con người trong chúng ta muôn hình vạn trạng, mỗi người
một vẻ đôi lúc làm chúng ta choáng ngợp có thể ta sẽ không nhìn thấy đúng một
con người, nhưng chúng ta hãy đón nhận họ với đầy đủ phẩm chất của những con
người bình thường, có tốt có xấu có cao thượng có đớn hèn… Hay những hồn ma,
quỷ, sói…đó là những mặt của con người. Mà chúng ta phải hiểu rõ để hiểu được
thực trạng xã hội Trung Quốc tác giả ngầm nói trong tác phẩm. với cách nhìn toàn
diện như thế sẽ giúp chúng ta thoải mái không ngỡ ngàng trước người khác, trước
chính mình. Dũng cảm trở về với con người thật, chúng ta sẽ vững tin và biết cách
đi lên từ những sai lầm.
Trong truyện ngắn của Giả Bình Ao, vấn đề người viết cần làm sáng tỏ chính
là:
-
Cuộc sống xã hội được phản ánh qua lăng kính huyền ảo;
-
ngắn của Giả Bình Ao.
-7-
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
--- --CHƯƠNG 1:
GIỚI THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
1.1. Giới thuyết về tiếp nhận văn học và thành tựu tiếp nhận Văn học ở
Việt Nam trong những năm gần đây:
Trong cuộc sống hàng ngày đời sống vật chất và đời sống tinh thần, nó luôn tồn
tại song song nhau nhưng cả hai không thể thiếu sự dung hoà, mỗi con người chúng
ta không thể sống mà thiếu đời sống vật chất hoặc ngựơc lại có đời sống vật chất
lại thiếu mất đời sống tinh thần. Nó là nhu cầu tất yếu của xã hội, dưới tác động của
lao động con người cần tìm ra những giá trị tinh thần tô điểm cho đời thêm màu sắc
và ý vị. Trong đó hoạt động sáng tác văn chương là hoạt động tinh thần của người
nghệ sĩ. Họ phải lao động bền bỉ để có ý tưởng hay, cống hiến trọn vẹn tâm lực, trí
lực gửi vào ngòi bút bằng niềm vui và niềm hy vọng với những suy ngẫm về thời
thế và luôn băn khoăn trăn trở khi viết. Viết cho ai, viết để làm gì, người đọc đợi
chờ, đòi hỏi gì từ nhà văn?. Liệu tác phẩm mình có sự đón nhận nồng nhiệt của độc
giả hay qua năm tháng của thời gian nó bị mất đã rơi vào quên lãng. Hoặc bất tử
theo năm tháng…tất cả những điều này sẽ bị phụ thuộc vào cương vị giám khảo
của người đọc khi đánh giá tác phẩm.
Thực tế, đã có nhiều tác phẩm được viết ra nhưng chắc hẳn đã tồn tại bởi do
nhiều yếu tố: Cơm ăn, áo mặc, nhu cầu sinh hoạt phục vụ cho đời sống hàng ngày.
Người nghệ sĩ phải sáng tác chạy theo thời gian, chạy theo quy luật của đồng tiền
để rồi tác phẩm viết ra người đọc sẽ quên ngay sau khi đọc, đời sống của có nó
phú, ngôn ngữ và hình tượng văn học có tính đa nghĩa.
Tiếp nhận văn học còn phụ thuộc vào môi trường cá nhân đang sống. Tuỳ theo
thời điểm, thời đại khác nhau mà độc giả có sự thay đổi cách hiểu về tác phẩm. Đặc
biệt là khi điều kiện kinh tế, văn hoá được phát triển, nâng cao sự giao lưu với văn
học nước ngoài thì tiếp nhận văn học ngày càng thuận lợi hơn. Lúc này, người đọc
có thể sáng suốt nhìn lại quá khứ, không bị những định kiến trói buộc nên có cái
nhìn thoáng hơn về tác phẩm. Ví dụ trong “Số Đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng
trước đây được nhiều người chê bai phản cách mạng nhưng về sau nó lại là một tác
phẩm đặc sắc cho nền văn học Việt Nam.
Tóm lại, việc tiếp nhận văn học không phải việc dễ dàng, việc tiếp nhận phải
đòi hỏi thái độ và quan điểm toàn diện khách quan của người đọc. Hình tượng nhân
vật có vai trò hết sức to lớn và quan trọng đối với tác phẩm. Nó là tài sản là sở hữu
của mọi người nếu thiếu người đọc và hình tượng văn học cánh cửa lịch sử sẽ
không mở ra và không cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật.
-9-
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
1.2. Giới thuyết về “so sánh văn học” và văn học so sánh ở Việt NamLý luận và thực tiễn ứng dụng:
Trong cuộc sống hàng ngày mọi người vẫn hay so sánh như một nhu cầu tất yếu
tự nhiên để xác định sự vật định tính, định lượng của ngôi thứ. Vậy so sánh là gì?
So sánh ở đây là mang sự vật sự việc, hiện tượng này để so sánh (đặt ngang) với
vật kia. Thuật ngữ “văn học so sánh” đã xuất hiện từ thế kỷ XVIII. Nhà nghiên cứu
người Pháp Murald và người Anh Andreew đã từng sử dụng nhiều lần cũng như
các ấn phẩm định kì của Pháp. Khi xét riêng trong nghiên cứu văn học, so sánh văn
học chúng ta không nên hiểu đó nền văn học so sánh mà “nó là một bộ môn khoa
học có chức năng so sánh một nền văn học này với một hay nhiều nền văn học
khác, hoặc so sánh các hiện tượng của nền văn học khác nhau” [6;18]. Vậy khi ta
so sánh văn học là tìm ra những nét riêng, điểm chung, làm nổi bật ưu điểm, khuyết
biệt là văn học Pháp. Sau đó đến thế kỷ XX bắt đầu có sự ảnh hưởng của văn học
vô sản cách mạng, rồi từ sau cách mạng tháng Tám nó lại quan hệ với văn học xã
hội chủ nghĩa, chủ yếu văn học Xô Viết. Chính vì thế mà từ lâu, các nhà bác học
nước ta có một ý thức so sánh. Đứng trước nguy cơ phương Bắc nô dịch, ý thức so
sánh được vận dụng để khẳng định sự độc lập của văn hóa nước nhà, qua đó khẳng
định nền độc lập quốc gia. Cụ thể văn học Việt Nam thường khẳng định giá trị
ngang bằng của văn hóa nước nhà so với văn học Trung Quốc. Từ thế kỷ XVIII, Lê
Qúy Đôn đã viết một bộ toàn Việt thi lục về cổ thể thì không nhường thi ca đời
Hán, đời Tấn. Xét về cận thể thì không nhường thi ca đời Đường, Tống, Nguyên,
Minh…Phan Huy Ích trong bài tựa cho bộ sách Ngô gia văn phái có so sánh họ
Ngô với dòng họ Tô Đông Pha đời Tống bên Trung Quốc. Phạm Đình Hổ, Phạm
Đình Toái, Nguyễn Trường Tộ đều khẳng định văn hiến và thơ ca của ta “không
kém”, “không nhường”, “không khác gì” văn hiến và thơ ca Trung Hoa.
Đến đầu thế kỷ XX nền văn họ so sánh có sự thay đổi từ so sánh phương Đông
chuyển qua phương Tây. 1941 Dương Quảng Hàm viết bộ Việt Nam văn học sử
yếu và được in năm 1943 chủ yếu chỉ ra hai nguồn ảnh hưởng “Tàu-Pháp”. Rồi đến
nhiều so sánh một tác phẩm cụ thể thuộc tác phẩm Việt Nam với tác phẩm thuộc
văn học Pháp.
Ví dụ: Thiếu Sơn đã so sánh truyện Người vợ hiền của Nguyễn Thời Xuyên với
một người đàn bà bất hạnh của Henry Bordeaux, hay so sánh Qủa dưa đỏ của
Nguyễn Trọng Thuật với Truyện Télemaque của Fénelon và với bộ Tinh thần đạo
Cơ Đốc của Chateaubriand.
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam có bài nghiên cứu tổng kết Một thời đại trong
thi ca của Hoài Thanh. Ở đây, lần đầu tiên Hoài Thanh đã tiến hành so sánh một
cách có hệ thống phong trào “thơ mới” với thơ ca phương Tây. Ông đã cho thấy sự
ảnh hưởng của thơ Pháp đối với thơ mới là một nguồn ảnh hưởng quan trọng bên
cạnh nguồn ảnh hưởng truyền thống thơ ca dân tộc và nguồn ảnh hưởng của thơ
- 11 -
chọn lọc của các thế hệ sau, góp phần đổi mới nền văn học. Với những tư tưởng
như vậy người đọc có thể đồng tình hoặc không đồng tình với những điều tác giả
muốn gửi gấm. Tuy nhiên để có cái nhìn sáng suốt, khách quan, tránh lối suy diễn
cảm nhận cảm tính, chủ quan cá nhân. Người viết đã tổng hợp hai lý luận này khi
áp dụng vào thực tế sẽ đưa đến tác phẩm có phần hoàn thiện hơn.
- 12 -
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
Chúng ta thấy, tác phẩm Trung Quốc được đưa vào giảng dạy các trường Phổ
thông và Đại học ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng ở các thể loại: Kinh
Thi, truyện ngắn, thơ…Qua đó cho thấy vai trò vai trò dịch giả đóng góp cho văn
học Việt Nam là rất lớn, làm cầu nối tạo tiền đề cho sự tiếp nhận – so sánh tác
phẩm nước ngoài vào tác phẩm Việt Nam. Điều đó, làm phong phú thêm cho văn
học dân tộc. Nó như một quá trình tự ý thức, giải quyết nhu cầu đặt ra từ phía đối
thể tiếp cận.
Ở cấp Phổ thông, chúng ta học “AQ chính truyện”, truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ
Tấn một nhà văn nổi tiếng ở Trung Quốc. Qua đó, ta thấy có những nét tương đồng
với truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao.
“Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị đoạn miêu tả tiếng đàn của người kỹ nữ đánh đàn
cho Bạch Cư Dị nghe ở trên bến Tầm Dương trong đêm xảy ra cuộc gặp gỡ tình cờ
giữa nhà thơ, người bạn và nàng kỹ nữ. Ta liên hệ với đoạn thơ “Thúy Kiều đánh
đàn cho Kim Trọng” trong tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Từ việc tiếp
nhận- so sánh một tác phẩm nước ngoài vào Việt Nam cho thấy sự sáng tạo của
Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” hết sức tài tình. Vì “Truyện Kiều” được sáng tác
trên cơ sở của quyển tiểu thuyết “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân
một tác giả của Trung Quốc cho nên trước hết ta phải đọc qua hai tác phẩm để so
sánh hai tác phẩm với nhau để tìm ra vấn đề nghiên cứu. Khi đọc “Kim Vân Kiều
Truyện” người đọc ghi nhận đây là một tác phẩm có giá trị tố cáo hiện thực nhưng
Quan quan cái con thư cưu,
Con trống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai,
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.[2;143]
Tản Đà dịch Kinh Thi- “Báo cáo khoa học, trường Đại học Sư phạm Tp.HCM,
1995” trong “văn học Trung Quốc với nhà trường” (do tác giả Hồ Sĩ Hiệp biên
soạn, nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, 2006).
Đó là góc độ tiếp nhận so sánh của hai tác phẩm thu hẹp vào phạm vi đề tài
“cảm hứng liêu trai” trong “một số truyện ngắn của Giả Bình Ao” chúng ta càng
nhận rõ hơn về ý nghĩa của hai mảng lý luận này. Vì vấn đề nghiên cứu có liên
quan đến nghệ thuật, thuật ngữ “Liêu trai” nên người nghiên cứu phải tìm đọc tác
phẩm “Liêu trai chí dị” và “truyện ngắn của Giả Bình Ao”. Để có cơ sở tiến hành
giải quyết vấn đề này.
Dựa trên sự hiểu biết những vấn đề cốt lõi, tinh thần chung nhất ở mỗi tác
phẩm, người nghiên cứu phải tiến hành công đoạn so sánh. Cụ thể ở đây là so sánh,
một số truyện của “Liêu trai chí dị” ra đời ở thế kỷ XVII với một số truyện ngắn
của Giả Bình Ao ở thế kỷ XX. Trong một đất nước Trung Quốc có truyền thống
văn học lâu đời. Và việc so sánh đem lại hiệu quả là người đọc nhận ra cùng lúc hai
tác phẩm có điểm tương đồng như vấn đề cuộc sống của người dân xưa và nay. Họ
- 14 -
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
đi qua thăng trầm dâu bể gì? Vấn đề tình yêu trong quan hệ xác thịt một phương
diện để nhận thức qua điểm nhân sinh trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao.
Qua việc so sánh thì người đọc sẽ phát hiện ra ưu nhược điểm của mỗi tác phẩm.
Bồ Tùng Linh đã đem tài năng và tấm lòng của mình để phản ánh xã hội thời ông
sống, vì phản ánh xã hội nên ông không thể trình bày thẳng thắn quan niệm của
mình, phơi bày tận tường mặt trái, mặt xấu đang tồn tại. Tiếp thu thành tựu của
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
Khái niệm bút pháp do trực tiếp gắn với cách viết, lối viết, nên có phần tương
đồng với khái niệm phong cách, văn phong. Bởi chữ phong cách trong tiếng Hy
Lạp, Latinh lúc đầu có nghĩa là cây bút, sau mở rộng thành chữ viết, cách viết. Tuy
nhiên nội dung khái niệm phong cách nay được hiểu rộng hơn và có tính hệ thống
hơn, còn bút pháp thường chỉ là yếu tố của phong cách.
Như vậy, bút pháp là tất cả các yếu tố hình thức được nối kết lại với nhau làm
nên chỉnh thể toàn vẹn cho tác phẩm. Nó nói lên được ý thức đổi mới của nhà văn
trong quá trình tạo ra “sản phẩm tinh thần” của họ. Sự thay đổi lối viết của từng
cây bút cùng đồng nghĩa với sự thay đổi của bút pháp.
1.4.2. Bút pháp và bút pháp kỳ ảo:
+ Khái niệm “kỳ ảo” dưới cái nhìn văn học:
Khái niệm kì ảo trong văn học có nội hàm rất rộng. Chính điều này đã tạo ra sự
nhập nhằng, không thống nhất trong cách dùng để gọi tên các tác phẩm mà nội
dung và hình thức của nó có sự hiện diện ít nhiều của yếu tố kì lạ, hoang đường.
Cùng một tác phẩm nhưng có người cho đó là chuyện kinh dị, truyện huyễn tưởng
hay truyện quái dị, trong khi các ý kiến khác lại đánh giá nó thuộc thể loại kỳ ảo.
Để có thể phân biệt rõ các khái niệm trên, tránh sự nhầm lẫn, chúng ta cần phải tìm
hiểu thế nào là “kỳ ảo”.
Trong lĩnh vực văn chương, thuật ngữ “kỳ ảo” được chuyển nghĩa từ thuật ngữ
“lefantastique” trong tiếng Pháp, hoặc “the fantatic” trong tiếng Anh. Theo từ điển
Pháp-Việt, thì “fantastique” là sản phẩm của trí tưởng tượng, được tạo ra nhờ khả
năng suy tưởng, ở đó cái siêu nhiên chiếm ưu thế. Theo thời gian, nghĩa của từ này
dần dần thiên về chỉ hiện tượng mà ở đó ranh giới giữa cái cụ thể và sự mơ hồ
không còn phân biệt rõ ràng. Từ định nghĩa trên ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc
trưng của cái kỳ ảo chính là cái bình thường đã bị cái phi thường thâm nhập là tính
tất yếu không thể đảo ngược. Chính sự kết hợp giữa những cái không mang tính
chân thật, chỉ tuân theo quy luật của trí tưởng tượng như cái kỳ quặc, quái dị, siêu
yếu tố như: kinh dị, kỳ lạ, thần diệu… Chứ không hề tách biệt về nghĩa trong tiếng
việt. Bút pháp kỳ ảo chính là phương tiện hữu hiệu để nhà văn khám phá thế giới
và thể hiện tư tưởng thẩm mỹ.
+ Bút pháp kỳ ảo:
Bút pháp kỳ ảo là một phương thức tự sự được các nhà văn sử dụng xây dựng
nhân vật và cốt truyện, cách tạo dựng chi tiết và hình ảnh, tình huống đời sống xã
hội ngày càng biến động, nhiều vấn đề khó cắt nghĩa cho hết, vì vậy bút pháp kỳ ảo
được xem là phương thức đắc dụng để tiếp cận với hiện thực mới của con người
thời đại. Với việc sử dụng những hình thức nghệ thuật như: cổ tích hóa, hiện thoại
hóa…Dựa trên nền tản các tác phẩm như: cổ tích, truyền thuyết, thần thoại trong
quá khứ. Bên cạnh đó nhà văn còn đưa các tình huống kỳ ảo với sự lồng ghép các
yếu tố hư và thực, cùng mạch truyện vận động của dòng truyện kể nhiều khi
- 17 -
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
“không tuân theo quy luật tư duy của lý trí”. Nó kích thích người đọc với tư cách là
chủ thể tiếp nhận. Bút pháp kỳ ảo dường như là một mạch nguồn xuyên thấm từ
đầu đến cuối tập truyện “Qủy Thành”. Dưới ngòi bút kỳ ảo thông qua những con
người, những mối quan hệ xã hội…đã nói lên một quan niệm mới của nhà văn thế
giới. Đó cũng chính nhờ vào tài mở rộng chiếm lĩnh hiện thực hết sức sinh động
của nhà văn. Yếu tố kỳ ảo của nhà văn đã gây ấn tượng, cùng với những đặc sắc
bút pháp kỳ ảo trong nghệ thuật thể hiện qua việc xây dựng nhân vật, ngôn ngữ
nhân vật, cách tổ chức xây dựng cốt truyện, kỹ thuật đồng hiện về không gian và
thời gian.
1.4.3. Mối quan hệ giữa bút pháp hiện thực và bút pháp kỳ ảo hoang đường:
+ Bút pháp hiện thực:
Khái niệm tả thực trong văn học đã xuất hiện từ lâu. Thậm chí, có thể coi thuật
Nhu cầu nói thẳng nói thật trong văn học thời đổi mới cần được hiểu ít nhất trên ba
phương diện: thứ nhất, không thi vị hóa đời sống mà nhìn cuộc sống trong tính
phức tạp, đa chiều như nó vốn có; thứ hai, không còn những đề tài cấm kị, tất cả
đều được hiện lên trong thanh thiên bạch nhật; thứ ba, nhà văn tự do nói lên chính
kiến của cá nhân chứ không nhân danh tập thể, cộng đồng để trình bày quan điểm.
Về cơ bản, tả thực trong tiểu thuyết sau 1986 khác với tả thực theo quan niệm
truyền thống. Các tiểu thuyết gia hiện đại không muốn dừng lại ở vai trò “thư ký”
thời đại hoặc coi văn học là tấm gương thuần túy mà cố gắng soi chiếu hiện thực từ
nhiều góc nhìn khác nhau. Nhà văn có thể sử dụng bút pháp tả thực bằng cái nhìn
khách quan, có thể tả thực theo cái nhìn giễu nhại... Điều quan trọng là bên cạnh
thông tin về sự thật, người đọc phải tìm thấy trong thế giới nghệ thuật của nhà văn
lượng thông tin thẩm mĩ phong phú. Đó là chưa nói đến chuyện, sự thật trong văn
học tuy thống nhất với sự thật ngoài đời nhưng hai thứ đó không phải là một. Sự
đồng nhất giữa hai loại sự thật này, dù chỉ là vô tình, cũng làm phương hại đến sự
lung linh, đa nghĩa của nghệ thuật. Bởi thế, chỉ một khi hai yếu tố thông tin sự thật
và thông tin thẩm mĩ kết hợp hài hòa thì tác phẩm mới có cơ tồn tại lâu dài. Hàng
loạt tiểu thuyết của Lê Lựu (Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội), Nguyễn Khắc
Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Chu Lai (Vòng tròn bội bạc), Dương
Hướng (Bến không chồng) với bút pháp tả thực mới đã đem lại cho công chúng
nhiều nhận thức mới mẻ về hiện thực.
Khi nói đến bút pháp tả thực mới, cần thấy rằng đây là thủ pháp quan trọng của
khuynh hướng tiểu thuyết “nhận thức lại” lịch sử. Khuynh hướng này có phần gần
gũi với cảm hứng phản tư trong tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ cải cách với Một
nửa đàn ông là đàn bà của Trương Hiền Lượng, Nôn nóng của Giả Bình Ao, Báu
vật của đời của Mạc Ngôn, Trường hận ca của Vương An Ức... Các nhà văn Trung
Quốc đã nhìn nhận lại hàng loạt vấn đề đau lòng, những bi kịch đầy nước mắt trong
- 19 -
lượng tác phẩm phong phú, đồ sộ, trong đó nổi lên là sự khẳng định của thể loại
tiểu thuyết với nhiều tiểu thuyết có sức cuốn hút người đọc như: “Tam quốc diễn
nghĩa”, “Thuỷ Hử”, “Tây du ký”, “Liêu trai chí dị”. Hoà vào dòng chảy của văn
học thời đại, Bồ Tùng Linh là một nhà văn có nhiều cống hiến cho văn học Trung
Quốc và thế giới. Kế thừa truyền thống tốt đẹp phản ánh hiện thực , phê phán thói
đồi phong đại tục đương thời của tiểu thuyết cuối Minh, Bồ Tùng Linh đã sáng tác
nên đoản thiên tiểu thuyết “Liêu trai chí dị”. Đã đi qua bao thế hệ, qua những biến
động lớn lao, song những câu truyện ly kỳ trong “Liêu trai chí dị” vẫn sống, vẫn
tồn tại trong lòng độc giả. Thế mới biết “Liêu trai chí dị” không đơn thuần là
những câu chuyện quái lạ, kỳ ảo để giải trí lúc nhàn rỗi mà đó là một tập truyện
đem đến nhiều bài học quý giá, bổ ích về việc nhận thức xã hội, hiểu biết được
cuộc đời, đấu tranh cho một cuộc sống tươi đẹp hơn.
2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Bồ Tùng Linh:
Bồ Tùng Linh (1640 – 1715) là một nhà tiểu thuyết nổi tiếng thời Thanh, gặp
nhiều lận đận trên con đường khoa cử cùng nỗi vất vả trong cuộc mưu sinh. Ông
người Tri Xuyên (nay là Tri Bác, tỉnh Sơn Đông), hiệu là Liễu Tuyền, tự Lưu Tiên.
Ông sinh ra và lớn lên trong gia đình khó khăn. Bảy mươi sáu năm sống giữa cuộc
đời, ông đã sống trong cảnh trớ trêu, vất vả và đói nghèo nhưng vòng luẩn quẩn
luôn vây bủa lấy ông. Thời tuổi trẻ vì nghèo nên khi đi hỏi vợ bị người ta dị nghị,
từng phải sống trong cảnh “Ba gian buồng nhỏ nhà trống rỗng không vách, không
phên, cây cối um tùm, gai gốc mọc đầy” [13;599]. Đến thời trung niên đi dạy học
tại nhà địa chủ để nuôi gia đình. Tận những năm 60 tuổi, ông vẫn phải lặn lội hàng
trăm dặm, dầm mưa dãi nắng buôn ba khắp nơi. Từng trải qua những năm tháng
khó khăn như thế đã giúp nhà văn hiểu sâu sắc về đời sống, tư tưởng của quảng đại
- 21 -
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
hưởng thụ xa xỉ, hoang dâm của mình mà giai cấp địa chủ đã tăng cường cướp đoạt
bóc lột nhân dân trong xã hội lúc bấy giờ, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ là
gay gắt và sâu sắc chưa từng thấy. Ở nhiều địa phương nông dân giương cao ngọn
- 22 -
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
cờ khởi nghĩa nhưng tất cả bị đàn áp dã man. Song song tồn tại với mâu thuẫn giữa
địa chủ và nông dân là mâu thuẫn giữa dân tộc Hán, các dân tộc ít người với bọn
thống trị lớp trên của dân tộc Mãn. Cho nên, hàng loạt cuộc đấu tranh võ trang, với
quy mô lớn nhỏ của người Hán nổ ra nhưng thất bại, cuộc đấu tranh dân tộc và đấu
tranh giai cấp mãnh liệt, sâu rộng đã tạo nên nội dung cơ bản của nền thống trị
đương thời.
Trước tác động của thời đại, sáng tác văn học thời nay hoàn toàn nhất chí với
nội dung cơ bản của nền chính trị xã hội đương thời. Từng sống và tận mắt chứng
kiến những thảm cảnh bi thương của thời đại, cuộc sống nghèo khổ của nhân dân,
cảnh nông dân xơ xác, tiêu điều, Bồ Tùng Linh đã cảm tác viết nên “Liêu trai chí
dị”.
2.1.3. Giới thuyết về “Liêu trai”:
Với một quốc gia có lịch sử phát triển sớm nhất của nhân loại. Đất nước Trung
Quốc từ cội nguồn văn hoá xưa đã tắm mình trong văn hoá thần bí. Tín ngưỡng
niềm tin của nhân dân người dân tin vào lực lượng siêu nhiên, thần thánh, những
việc bói toán, chiêm mộng, hồn ma nhập xác… chiều dài 5000 năm phát triển, hệ
tư tưởng phật giáo, đạo giáo, quan niệm âm dương, kinh dịch… đã góp phần không
nhỏ vào việc phủ màng sương thần bí phảng phất trong văn hoá Trung Quốc. Sâu
xa về cội nguồn văn hóa, tư tưởng. Điều kiện xã hội dân tộc hàng loạt tác phẩm
thuộc thể loại tiểu thuyết chí quái đã ra đời. Ngay từ Ngụy Tấn Nam Bắc triều
(khoảng năm 280- 571), xã hội loạn lạc nguời ta tin vào thần quyền. Vì thế, một
vắng, tịch mịch, tại nơi đây con người tĩnh tâm thể hiện những suy tư trăn trở về
cuộc đời, về thời thế, những thế thái nhân tình đang vùn vụt trôi ở bên ngoài.
Lúc này, ta có thể hiểu thêm “Liêu trai” cùng nghĩa với không khí kì ảo, thực và
ảo đan xen nhau làm cho người đọc khó thể phân biệt được lúc nào là thực là ảo.
Không gian và thời gian như có sự pha trộn ma quái, đem lại cảm giác rùng rợn phi
thực nhằm phản ánh mặt trái của xã hội. Con người sống và bức phá vách tường
phong kiến để tìm cho mình một hạnh phúc riêng, hạnh phúc mà họ đáng được
hưởng.
Ngoài ra, có lẽ thuật ngữ “Liêu trai” đã luôn tồn tại bên cạnh “chí dị” trong
“Liêu trai chí dị” (ghi chép về những chuyện kỳ lạ ở Liêu trai) từ rất lâu nên người
đọc có thể hiểu “Liêu trai” gợi lên một không gian ma quái, ảo thực đan xen nhau,
sự biến hoá đổi thay, những sự việc chỉ xảy ra trong trí tượng của con người li kì và
hồi hộp phi thực. Không gian ma trong “Liêu trai” lại gắn liền với môtíp tình dục,
vì thế nghĩ đến “Liêu trai” người ta có thể hiểu đó là nơi gặp gỡ hội ngộ của đôi trai
gái ở gác sách lầu văn. Đây chính là những nghĩa cơ bản nhất khi nghĩ đến “Liêu
trai”.
- 24 -
Cảm hứng “Liêu trai” trong một số truyện ngắn của Giả Bình Ao
2.2. Dịch phẩm “ Liêu trai chí dị” ở Việt Nam:
2.2.1. Đôi nét về dịch giả Lê Bầu:
Nhà văn – dịch giả Lê Bầu –“Nhà Trung Quốc học”, “chuyên gia Giả Bình Ao”
(tên thật là Lê Văn Bầu, bút danh khác là Phan Hà, Thanh Lịch), sinh năm 1931 tại
tỉnh Hưng Yên. Ông tốt nghiệp đại học Trung văn tại Trung Quốc, có thời gian đi
dạy học ở cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tác phẩm đầu tay của ông là tập
truyện ngắn “ký Thông reo” (được xuất bản vào năm 1962). Sau đó, ông tiếp tục
cho ra mắt các tác phẩm: Đi thực tập (1962), Dòng sữa trắng (1976), Hoàng hậu