“Con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki
Luận văn tốt nghiệp đại học
“Tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki”
MỤC LỤC
Tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số
truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki
Trang
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………1
2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………….2
3. Lịch sử vấn đề…………………………………………………………2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………… 4
5. Đóng góp của đề tài……………………………………………… 5
6. Phương pháp nghiên cứu……………………………………….….6
7. Dàn ý của khoá luận…………… ……….6
Phần nội dung
Chương 1: Bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX và nhà văn Macxim Gorki
1. Bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX – quá trình
phát triển từ “con người thừa” đến “con người dưới đáy”………………… 8
1.1. Puskin, người khởi xướng nền văn học hiện thực Nga
với hình tượng nhân vật “con người thừa”…………… ……………9
1.2. Liev Tolstoi – người kế thừa xuất sắc chủ nghĩa hiện thực của Puskin…………………………………………….15
1.3. Anton Sekhov và nhân vật “con người bé nhỏ”………………25
2. Nhà văn Macxim Gorki………………………………………………………29
2.1. Vài nét về cuộc đời và sáng tác……………………………………29
2.1.1. Vài nét về cuộc đời…………………………………………… 29
2.1.2. Sáng tác……………………………………………………33
2.2. Giới thiệu truyện ngắn của Macxim Gorki………………….35
2.2.1. Truyện ngắn hiện thực………………………………….35
MỞ ĐẦU
1. 1. Lý do chọn đề tài
Văn học Nga mặc dù phát triển chậm (so với văn học châu Á, châu Âu) nhưng sự phát triển đột biến của nó ở thế kỷ XIX đã
làm cho mọi người phải kinh ngạc và cảm phục. Văn học Nga thế kỉ XIX không chỉ gây được tiếng vang mạnh mẽ bởi các các
nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Puskin, Lermontov, Gogol, Gonsarov, Dostoievski, Turgeniev, Niecrasov, Tolstoi,
Sekhov…mà nó còn đem đến sự kinh ngạc cho mọi người bởi các nhà phê bình và mỹ học dân chủ lỗi lạc như Gersen,
Bielinski, Sernưsevski, Dobroliubov…
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nền văn học Nga dừơng như đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó. Và một làn gió mới thổi
vào văn đàn Nga mang đến một tiếng nói mới gây xôn xao dư luận. Đó là hàng loạt sáng tác đầu tay của nhà văn trẻ Macxim
Gorki. Những truyện ngắn đầu tay của ông có thể chia làm hai nhóm: nhóm truyện ngắn hiện thực và nhóm truyện ngắn lãng
mạn. Ở đề tài này chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu nhóm truyện ngắn hiện thực, cụ thể đó là những truyện ngắn: Lão Arkhip và
bé Lionka, Kẻ phá bĩnh, Hai mươi sáu anh chàng và một cô gái, Người bạn đường của tôi, Tsencasơ, Vợ chồng Orlôp,
Emelian Pilai…Để viết nên những truyện này, Gorki đã lấy ngay chất liệu từ cuộc đời mình và những người bạn đồng hành
trong cuộc sống cùng khổ của mình. Hơn nữa, ông cũng đã kế thừa một cách sáng tạo những tinh hoa của văn học trước đó.
Ngoài ra ông cũng đáp ứng những yêu cầu của thời đại mà sáng tác nên những truyện đó.
Trong những tác phẩm trên, Gorki đã đề cập đến sự sa đoạ và tội lỗi của những con người cùng khổ, “con người dưới đáy”.
Nhưng mục đích chính của ông là đi sâu khám phá sự chuyển biến ý thức của những con người này trước cảnh nước Nga “nửa
thức nửa ngủ”. Đó là những biểu hiện của ý thức đấu tranh cách mạng của quần chúng đang chuyển mình để chống lại chế độ
tư bản – phong kiến Nga hoàng. Gorki viết: “Ước mơ – việc đó chưa có nghĩa là sống. Cần những chiến công, những chiến
công! Cần những lời vang lên như tiếng chuông náo động, lay chuyển tất cả, thúc đẩy băng lên phía trước ” [ 3, 514 ]. Ông
muốn “đá tung” tất cả trái đất và ngay cả chính mình để cho tất cả mọi vật “xoay như một cơn gió lốc mừng vui trong điệu
múa của những con người yêu nhau say đắm, những con người đang yêu cuộc sống này, cuộc sống mở đầu cho một cuộc sống
khác đầy tươi đẹp, phấn khởi và ngay thật…”
Từ những điều nêu trên, chúng tôi cảm nhận rằng tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn
hiện thực tiêu biểu của Macxim Gorki là một vấn đề rất thú vị.
Chúng tôi muốn đi sâu khám phá để có những hiểu biết đúng đắn về các giá trị độc đáo trong những tác phẩm của Gorki. Để từ
nghệ sĩ chúng ta thật lớn lao. Macxim Gorki là ngọn đuốc vĩ đại, người mở những con đường văn học mới cho toàn thế giới và
những nhà hành động văn học sẽ đi theo” [ 6, 42 ].
Việc nghiên cứu các tác phẩm đầu tay của Gorki ngày càng được nhiều người chú ý. Các bài viết đã đi đến chỗ thống nhất và
khẳng định những thành tựu của các tác phẩm này ở các mặt:
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo: Ông hướng đến các hình tượng nhân vật có nhân cách lớn, bản lĩnh lớn, giàu tính
lãng mạn, anh hùng (truyện lãng mạn), và khắc hoạ sinh động thế giới nhân vật của những người phiêu dạt, du thủ du thực,
hành khất, trộm cắp (truyện hiện thực).
+ Phương pháp sáng tác mới mẻ – vừa hiện thực vừa lãng mạn: Gorki, người thật sự đóng vai trò khép lại nền văn học hiện
thực Nga thế kỉ XIX và mở ra một nền văn học Nga mới với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.
+ Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: Ngôn ngữ giàu tính triết lí dân gian pha lẫn tính tri thức. Ngôn ngữ của các nhân vật không
chỉ là phương tiện giao tiếp tự bộc lộ tính cách mà còn bộc lộ bản chất xã hội – giai cấp của họ. Có thể nhận định rằng: Đến
Gorki thì quần chúng nhân dân có tiếng nói thật sự của mình.
Do trình độ có hạn, lại không được trực tiếp tiếp xúc với bản gốc nên việc trích dẫn tài liệu chúng tôi không có điều kiện trích
dẫn đầy đủ.
3.2. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở ViệtNam, tác phẩm của M.Gorki cũng được nhiều người quan tâm, đi sâu tìm hiểu. Nhiều công trình nghiên cứu về truyện
(gồm truyện ngắn và tiểu thuyết) của Gorki đã hoàn thành. Do không có điều kiện để đọc toàn bộ tất cả các bài nghiên cứu
khẳng định giá trị nghệ thuật trong truyện của M.Gorki, chúng tôi chỉ xin nêu một số công trình cụ thể đó là:
+ Lịch sử văn học Nga – Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Hải Hà…,Nxb
GD, 1997
+ Lịch sử văn học Nga thế kỉ XIX – Nguyễn Hải Hà, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh, Nxb GD
+ Lịch sử văn học Xô viết – Melich Nubarov (dịch), Nxb GD, 1978
+ Lịch sử văn học Xô viết – Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Kim Đính, Huy Liên, tập 1,2, Nxb ĐH & THCN, 1982
+ Văn học Xô viết những năm gần đây – Hoàng Ngọc Hiến (soạn), Nxb GD, 1989
+ Giáo trình văn học Nga – Phùng Hoài Ngọc (Đại học An Giang, năm 2003 – Lưu hành nội bộ )
Đây là những công trình nghiên cứu về nền văn học Nga thế kỉ XIX và XX. Trước nay, chúng tôi chưa thấy công trình nào
chuyên đi sâu nghiên cứu phương diện hình tượng nhân vật “con người dưới đáy”.
Với tinh thần học tập không ngừng, chúng tôi sẽ kế thừa tiếp thu những ý kiến bổ ích từ các bài nghiên cứu của những người đi
trước để đi sâu tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của M.Gorki
một cách cụ thể, có hệ thống theo một quan điểm mới.
6.1. Phương pháp hệ thống
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã chọn bảy truyện ngắn hiện thực khác nhau trong tuyển tập truyện ngắn của Gorki. Do đó,
để việc nghiên cứu được thuận lợi, chúng tôi đã chọn phương pháp hệ thống. Phương pháp này giúp chúng tôi hiểu bao quát
các tác phẩm một cách dễ dàng để thấy được sự gắn kết của chúng, đồng thời cũng thấy được mối liên hệ giữa các nhân vật.
6.2. Phương pháp liệt kê
Chúng tôi tiến hành liệt kê, ghi lại những dẫn chứng cần thiết trong các bản dịch và nhiều tài liệu khác có liên quan để dẫn
chứng phù hợp với từng đề mục của khoá luận.
6.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Chúng tôi tiến hành phân tích các dẫn chứng nhằm làm nổi bật các luận điểm cần triển khai. Sau đó thâu tóm, khái quát chúng
lại.
6.4 Phương pháp so sánh
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có so sánh một số vấn đề của đề tài với các vấn đề trong một số tác phẩm của các nhà
văn Tây Âu và Nga.
7. Dàn ý của khoá luận
Đề tài: Tìm hiểu hình tượng nhân vật “con người dưới đáy” trong một số truyện ngắn hiện thực tiêu biểu của M.Gorki.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Lịch sử vấn đề
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Đóng góp của khóa luận
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Dàn ý của khóa luận
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX và nhà văn M.Gorki
1. Bức tranh văn học Nga thế kỉ XIX – quá trình phát triển từ “con người thừa” đến “con người dưới đáy”
1.1. Puskin, người khởi xướng nền văn học hiện thực Nga với hình tượng nhân vật “con người thừa”
1.2. Liev Tolstoi – người kế thừa xuất sắc chủ nghĩa hiện thực của Puskin
1.3. Anton Sekhov và nhân vật “con người bé nhỏ”
2. Nhà văn Macxim Gorki
trong cuộc đấu tranh lâu dài, gay gắt của nhân dân Nga chống lại chế độ nông nô chuyên chế tàn bạo và phản động của Nga
hoàng.
Văn học hiện thực Nga với những thành tựu lớn đặc biệt sau thế kỷ XIX đã khiến các nhà nghiên cứu phuơng Tây phải gọi nó
là “một phép lạ”. Macxim Gorki gọi đó là “hiện tượng kì diệu” của văn học Châu Âu. Thế giới ngạc nhiên trước vẻ đẹp và sức
mạnh vươn lên cuộc sống mau chóng của nền văn học này với sự đóng góp của nhiều thiên tài chói lọi. Lênin nhận xét “ tầm
quan trọng thế giới mà hiện nay văn học Nga giành được chính là do văn học Nga mang trong mình những tư tưởng tiên tiến
của thời đại: Tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa, tinh thần nhân đạo cao cả và lòng nhiệt thành”.
Nhân dân Nga tự hào về văn đàn lớn lao của mình bao gồm các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Puskin, Lermontov,
Gogol, Gonsarov, Dostoievski, Turgeniev, Sekhov, Tolstoi,…và các nhà phê bình, mỹ học dân chủ lỗi lạc như Gersen,
Bielinski, Sernưsevski, Dobroliubov…
Văn học Nga thế kỷ này chuyển tiếp nhanh chóng từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực, nó phản ánh rõ nét và kịp
thời những biến động xã hội và theo kịp xu hướng tư tuởng chính trị trong nước.
Trong phần nghiên cứu này chúng tôi chỉ điểm qua 04 tác gia tiêu biểu của bức tranh văn học Nga thế kỷ XIX, đó là: Puskin,
Liev Tolistoi, Sekhov và Macxim Gorki.
1.1. PUSKIN, NGƯỜI KHỞI XƯỚNG NỀN VĂN HỌC HIỆN THỰC
NGA VỚI HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT “CON NGƯỜI THỪA”
Puskin là người “khởi đầu của mọi khởi đầu”, người “đã đặt những nền móng không gì lay chuyển nổi cho tất cả những gì sau
này sẽ kế tục mình trong nghệ thuật Nga” (M. Gorki) [7, 1468 ]. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Puskin trong
nền văn học: ông là người mở đầu cho nền văn học hiện thực Nga và cũng là người đầu tiên xây dựng hình tượng nhân vật
“con nguời thừa”.
“Con người thừa” là con người không có hại cũng không có ích cho xã hội, vô thưởng vô phạt. Con người này xét về phẩm
chất địa vị thì không phải quý tộc sa đọa cũng không thuộc quý tộc ưu tú, tiến bộ mà là nguời đang vươn lên thoát khỏi sự sa
đọa và có khả năng trở thành nguời ưu tú, tiến bộ cách mạng.
TIỂU THUYẾT “EVGENI ONEGIN”
Tiểu thuyết thơ này là một trong những kiệt tác bậc nhất của văn học Nga và thế giới, khởi công từ năm 1823, hoàn thành năm
1831. Với tác phẩm này, Puskin đã mở ra con đường mới cho nền văn học Nga: chủ nghĩa hiện thực Nga với phương pháp
sáng tác hiện thực, đi sâu vào thực tại, lấy cuộc sống và thời đại làm đối tượng khám phá, sáng tạo. Đây là kiểu mẫu đầu tiên
vượt qua chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa tình cảm và chủ nghĩa lãng mạn ở nuớc Nga. Với tiểu thuyết thơ này, lần đầu tiên trong
văn học Nga xuất hiện hình tượng nhân vật “con người thừa”. Puskin là cái mốc kết thúc dòng văn học lãng mạn Nga và là
người mở đầu cho dòng văn học hiện thực Nga.
chán của anh là “nỗi buồn chán của người Nga”. Đó là nỗi buồn về sự nghiệp cách mạng, giải phóng đất nước. Nhưng anh
chưa phải là con người ưu tú tiến bộ của thời đại.
Kiểu người như Onegin ở vào thời kì phong trào cách mạng mới bắt đầu thì còn đôi nét tích cực. Nhưng ở vào thời kì cách
mạng đã thành cao trào thì anh hoàn toàn là một con người thừa thải, thậm chí còn có lợi cho giai cấp thống trị hơn là cho nhân
dân.
Tính cách của Onegin có sự biến đổi. Từ việc vô tình giết chết Lenski đến việc đi du lịch dài ngày, hiểu rõ cuộc sống nặng nề
khổ đau của nhân dân Nga, đã khiến Onegin nghiêm túc hơn, có nghị lực hơn, và có khả năng xúc cảm mạnh hơn. Cuối cùng là
việc Tachyana khước từ anh và anh hiểu rõ lòng nàng. Tác phẩm khép lại ở đó. Liệu chàng có đủ nghị lực và niềm tin đi tìm ý
nghĩa cuộc sống trong phong trào đấu tranh Tháng chạp hay không? Onegin buộc phải suy nghĩ. Anh không thể bàng quan và
ích kỉ mãi như thế. Rất có thể anh sẽ thay đổi nhận thức và đi theo con đường của những thanh niên tiên tiến. Nhưng đó chỉ là
những phán đoán ở tương lai, còn thực tại trong tác phẩm thì anh chưa phải là nhà Tháng chạp. Sức lực của bản chất phong
phú của anh vẫn không có chỗ sử dụng. Tóm lại Onegin là “con người thừa”, là điển hình của một lớp thanh niên thời bấy giờ
– những kẻ sống nhờ vào sức lao động của nông dân, thông minh, có lòng thương người và không được giáo dục đầy đủ.
Onegin là con người không có lí tưởng, là sản phẩm của xã hội Nga những năm 20 và cả nửa đầu thế kỉ XIX.
Tiểu thuyết Evgheni Onegin được Biêlinski xem là “bộ bách khoa toàn thư của cuộc sống Nga”. Vì đây là tác phẩm đầu tiên
phản ánh cuộc sống “đúng như nó tồn tại”, chân thực, đa dạng có tính chất “bách khoa”. Cuộc sống ở tỉnh và ở quê với những
vũ hội, yến tiệc, cưới hỏi, ma chay…và nhiều mặt phong phú trong đời sống vật chất và tinh thần của nước Nga những năm
1819 – 1825, thời điểm quan trọng sau chiến tranh vệ quốc và trước cuộc khởi nghĩa Tháng Chạp.
Trong tác phẩm, Puskin đã phê phán sự tầm thường ti tiện của quí tộc Nga. Và ông nêu lên tình trạng mâu thuẫn, khủng hoảng
của giai cấp này khi những đứa con cưng của nó như Onegin lại buồn chán. Ông phê phán cuộc sống với những lề thói quen
thuộc và muốn thay đổi nó khi những kẻ tầm thường lại sống hạnh phúc còn những người như Onegin, Tachyana thì lại đau
khổ. Hơn nữa trong tác phẩm, Puskin đã sáng tạo được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Điều kiện sống,
địa vị xã hội, môi trường giáo dục khác nhau sẽ hình thành những tính cách khác nhau như Onegin, Tachyana, Lenski.
Với tiểu thuyết Evgheni Onegin, Puskin đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật “con người thừa” đầu tiên, con người trẻ
tuổi, có năng lực mà lại bế tắc, vô dụng giữa cuộc đời. Và hình tượng này lại được ông tiếp tục khắc họa trong cuốn tiểu thuyết
lịch sử “Người con gái viên đại úy”.
TIỂU THUYẾT “NGƯỜI CON GÁI VIÊN ĐẠI ÚY”
Puskin đã dựa vào sự kiện lịch sử: cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thế kỉ XVIII (1773 – 1775) và lãnh tụ Pugatsov đã từng làm
rung chuyển nước Nga để xây dựng nên tác phẩm dài 14 chương này. Thông qua tác phẩm, Puskin muốn “hỏi” quá khứ để tìm
“lời giải đáp” cho hiện tại và tương lai.
thần trọng nghĩa và bênh vực kẻ yếu đuối dù đó là Masa, con gái kẻ thù. Hơn nữa, chính Pugatsov cũng là người đã cứu mạng
anh nhiều lần.
Thời gian tiếp xúc với giới sĩ quan quí tộc ở đồn Belogor, Grinhop nhận ra rằng bọn chúng toàn là những tên sa đọa, một đội
quân kém sức chiến đấu, thiếu tổ chức, kĩ luật và chỉ huy.
Pugatsov đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thay đổi tính cách của Grinhop. Anh gần như ngày càng nhận thức được con
đường cách mạng. Từ quan điểm lúc đầu là chống Pugatsov đến cùng, không chịu theo Pugatsov nhưng đến lúc Putgatsov bị
treo cổ thì tính cách của anh đã thay đổi hoàn toàn. Anh đã tìm đến nơi tử hình Pugatsov và anh kể “Pugatsov nhận ra tôi và
gật đầu chào tạm biệt”. Nhưng ta xét kĩ ra, Pugatsov là ân nhân đã cứu mạng của anh, hơn nữa ông đang ở trên giá treo cổ
trong khi anh thì đang đứng chen trong đám đông thì làm sao mà Pugatsov lại dễ dàng nhận ra anh và vẫy tay chào. Người vẫy
tay chào đó ta có thể đoán ra chính là anh, một kẻ mang ơn phải chủ động tìm đến chào vĩnh biệt vị ân nhân của mình. Lúc
này, tính cách của anh đã phát triển hơn, anh đã có cảm tình với Pugatsov, cũng tức là bước đầu có cảm tình với cách mạng.
Cơn bão tuyết mịt mù là hình ảnh tượng trưng cho đường đời của anh. Anh đã mất phương hướng trong cơn bão tuyết cũng
chính là mất phương hướng trong cuộc đời của mình. Và Pugatsov là người đã dẫn anh ra khỏi nơi mù mịt đó. Người ân nhân
cứu anh thoát khỏi nơi đó cũng là người cứu anh ra khỏi những lầm lạc, ngộ nhận. Người dẫn đường cho anh trong cơn bão
tuyết cũng là “người dẫn đường” cho tinh thần của anh.
Mặc dù tính cách của anh có sự phát triển, ý thức cách mạng đang lấp lóe và anh đã có cảm tình với người Tháng Chạp –
Pugatsov – nhưng trong tác phẩm anh vẫn là “con người thừa”, là hình mẫu kiểu Onegin. Anh không trung thành với Nga
hoàng cũng không theo quân khởi nghĩa. Trong thời đại bấy giờ anh vẫn là kẻ vô dụng, không có ích cho cách mạng cũng
không có hại gì cho nhân dân. Quá trình nhận thức của anh đã có sự thay đổi. Và sau này khi tác phẩm khép lại, có thể bằng
con đường nào đó anh sẽ thoát khỏi “con người thừa” và trở thành người tri thức cách mạng. So với Evgheni Onegin thì
Grinhop đã có một bước tiến cụ thể hơn.
Tiểu thuyết Người con gái viên đại úy được xem là “bộ bách khoa toàn thư của cuộc sống Nga” thứ hai sau tiểu thuyết
Evgheni Onegin. Puskin đã đề cập đến vấn đề nóng bỏng của xã hội Nga ở giai đoạn này – vấn đề nông dân khởi nghĩa.
Thành tựu rực rỡ này có được là do Puskin đã tổng kết được những suy nghĩ, tìm tòi trong nhiều năm qua những tác phẩm viết
về đề tài lịch sử. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Nga, ngòi bút của nhà văn hiện thực Puskin lại miêu tả sinh động cụ thể
cuộc khởi nghĩa nông dân hùng vĩ đến như vậy: đông đảo các dân tộc và các tầng lớp tham gia, thanh thế lớn và địa bàn rộng
khắp nước Nga. Ông đã cắt nghĩa sâu nguyên nhân “tức nước vỡ bờ” của quần chúng. Ông miêu tả cuộc khởi nghĩa như là bài
học kinh nghiệm cho lần sau.
Với hình tượng nhân vật “con người thừa” xuất hiện đầu tiên trong văn học Nga đầu thế kỉ XIX, Puskin đã có những đóng góp
rất lớn cho nền văn học hiện thực của nước Nga nói riêng và thế giới nói chung. Ông đã hoàn thành tuyệt diệu công việc “khởi
Bá tước trẻ Pier Bezukhov đi du học ở nước ngoài về. Anh là người nhạy cảm chân thực. Anh ôm ấp lí tưởng về bình đẳng, tự
do xã hội. Cuộc đời anh trãi qua nhiều việc như chia gia tài, cưới Elen và sau một thời gian tiếp xúc với gia đình Kuraghin,
“một nòi giống đê tiện và vô lương tâm” đi đến đâu là “gieo rắc trụy lạc và độc ác” đến đó. Sau khi kết thúc cuộc đấu súng với
Đôlôkhôp, Pier nhận ra rằng đó là một hành động “thật ngu xuẩn…ngu xuẩn”. Trải qua những sự việc trên, Pier đã thấy được
bản chất đê tiện và hèn hạ của bọn quí tộc và anh kiên quyết thoát khỏi cuộc hôn nhân giả dối với Elen. Đây cũng là quyết định
đoạn tuyệt với cái xã hội quí tộc đồi trụy, ích kỉ và giả dối.
Pier luôn băn khoăn đi tìm lẽ sống chân chính. Lúc đầu anh còn xa rời nhân dân, mặc dù anh có lo cải thiện đời sống cho họ
nhưng việc đó còn hời hợt. Anh chưa hiểu hết nỗi khổ cực của nhân dân. Anh cũng từng đắm mình vào hội Tam điểm vì tưởng
đó là nơi truyền bá lí tưởng của mình. Nhưng anh cũng đã nhận thấy được bản chất của bọn khoác áo tôn giáo để che đậy
những mánh khóe tầm thường. Và anh quyết tâm đoạn tuyệt với hội Tam điểm. Anh lại rơi vào những suy tưởng nặng nề và
chán chường.
Cuộc chiến tranh ái quốc năm 1812 đã thức tỉnh Pier và hé mở lẽ sống chân chính mà anh luôn băn khoăn đi tìm. Anh đã tận
mắt thấy được tinh thần chiến đấu anh dũng và gan dạ của người lính Nga ở Bôrôdinô. Anh đã phát hiện ra vẻ đẹp của nhân
dân trong cuộc chiến. Anh khâm phục họ, những con người bình thường mà trước đây anh từng rời xa. Anh ao ước được đem
hết sức mình xâm nhập vào đời sống của họ và anh muốn thấm nhuần những cái gì đã làm cho họ trở thành những con người
như thế. Anh đã từng lầm tưởng Napoleon là vĩ nhân. Nhưng trong cuộc chiến này anh đã hiểu ra mọi chuyện. Anh đã hiểu
được cách mạng và thậm chí “vươn cao hơn cách mạng”. Anh đã gan dạ dắt dao đi giết Napoleon. Những ngày bị giam, tiếp
xúc với Platon Carataev anh đã thấy được hạnh phúc không ở trong những suy tưởng mông lung xa thực tế mà ở ngay trong sự
thỏa mãn những nhu cầu sơ đẳng hằng ngày, trong việc tự do lựa chọn công việc. Thực tiễn năm 1812 đã giúp anh thay đổi
cách sống. Anh không còn những tư tưởng tiêu cực, suy nghĩ miên man về một đấng thượng đế có mặt ở khắp nơi giống như
Carataev mà anh cảm thấy yêu mến đất nước của những người dân bình thường. Nơi nào Vinlacxki (một trong những người
cầm đầu hội Tam điểm) chỉ thấy có sự chết lặng thì Pier lại thấy có một sinh lực phi thường, cái sinh lực đã được duy trì trên
mảnh đất đầy tuyết phủ. Khi gặp lại Natasa, anh nói sẵn sàng sống lại cuộc sống đã qua trong những ngày kháng chiến. Anh
yêu cuộc sống đó và cảm thấy còn sống là còn hạnh phúc. Cuộc tình muộn màng của anh và Natasa cũng là một tất yếu trong
cuộc đổi đời của anh.
Pier tiếp tục tìm tòi con đường chống sự áp bức của Nga hoàng sau khi cuộc chiến năm 1812 kết thúc. Năm 1820 anh là thành
viên của hội kín. Qua lời của Nicolai nói với anh “nếu anh chống lại Nga hoàng thì tôi là người đầu tiên giết anh”, ta có thể
đoán ra rằng Pier đang chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa. Và ngày 14 Tháng Chạp năm 1825 điễn ra cuộc khởi nghĩa lật đổ
Alexandre I tại Peterburg chắc chắn có anh tham gia. Mặc dù cuộc khởi nghĩa đã thất bại vì chưa được sự ủng hộ của nhân dân
nhưng Pier đã hoàn toàn thoát khỏi “con người thừa”, anh đã với tới tầm cao của những của người Tháng Chạp.
1873 – 1877. Tác phẩm đánh đấu sự phát triển tư tưởng và sáng tác của ông. Thông qua những câu chuyện riêng tư trong tác
phẩm, Tolstoi muốn đề cập đến những vấn đề lớn lao trong xã hội. Cuốn tiểu thuyết đã miêu tả khá đầy đủ cả thời đại mà trong
đó “ tất cả đã bị đảo lộn và chỉ mới đang được sắp xếp” (lời của Levin – một nhân vật trong tác phẩm). Theo Lênin thì “cái đã
bị đảo lộn là chế độ nông nô chuyên chế, thối nát và cái đang được sắp xếp chính là chủ nghĩa tư bản đang nảy sinh” [1, 291].
Anna Karenina là nhân vật bi kịch “nổi loạn”. Đó là người đàn bà giàu sức sống, thông minh, tính cách thành thực và ghét
mọi sự giả dối. Bi kịch của nàng bắt đầu từ khi nàng lấy Karenin – một người hơn nàng 20 tuổi, kẻ chỉ quan tâm duy nhất việc
thăng quan tiến chức và hơn nữa hắn là người mà nàng không yêu. Nàng xem việc lấy chồng của mình là “một sai lầm ghê
gớm” [ 3, 407 ]. Hơn 8 năm lấy nhau nhưng Karenin chỉ xem nàng như một thứ công cụ ngoại giao. Vì thế Anna luôn khao
khát một tình yêu chân chính. Hai tiếng yêu đương đối với nàng có một ý nghĩa đặt biệt. Ngay từ buổi đầu gặp Vronski nàng
đã nói “tình yêu…tôi không ưa chữ đó chính bởi nó chứa chất quá nhiều ý nghĩa đối với tôi”.
Sống bên cạnh người chồng không yêu, Anna đem hết tình yêu vào đứa con trai và khi gặp Vronski thì tình cảm ấy cũng không
thua gì. Nàng nói với Đônly “em yêu hai người như nhau mà cả hai em đều yêu hơn chính bản thân mình”. Nhưng cái xã hội
đen tối với những pháp luật, tôn giáo và định kiến ích kỉ đã không cho nàng được chọn cả hai. Nàng phải chịu sự giằng xé
giữa tình yêu và tình mẫu tử.
Nàng yêu Vronski, một thanh niên điển hình của xã hội thượng lưu với đầy đủ cách suy nghĩ quen thuộc của xã hội này: lòng
háo danh, lối ăn chơi phóng đãng, bộ mặt đạo đức tầm thường. Vronski yêu nàng nhưng khi va chạm vào thế giới thượng lưu
thì chàng lại thiếu bản lĩnh. Khác với anh, Anna đã “nổi loạn”, tình yêu của nàng cũng chính là sự thách thức xã hội đó. Nhưng
cái xã hội đạo đức giả dối ấy đã đè bẹp sự chống đối của nàng. Anna là nạn nhân của cái xã hội đó vì tội đã dám vùng dậy
chống lại nó. Nàng là một phụ nữ đáng thương, một người chỉ khát khao được sống và được yêu, một tình yêu chân chính
nhưng cũng bị xã hội khước từ và chà đạp tàn nhẫn.
Mặc dù yêu nàng nhưng Vronski chưa đủ khả năng vượt ra những tập tục của xã hội để đấu tranh bảo vệ tình yêu đến cùng.
Nhưng xét cho cùng thì anh cũng không phải là một quí tộc tầm thường có tâm hồn trống rỗng. Bắt gặp hình ảnh của mình qua
một công tước từ nước ngoài đến, anh tự nhủ thật là “một khúc thịt ngu ngốc! có thể nào mình lại như hắn được”.
Cũng giống như Anna, Vronski rất ghét sự giả dối. Chàng thấy khó chịu về cảnh mập mờ của mối tình trái pháp luật giữa mình
và Anna, chàng muốn sớm chấm dứt tình trạng đó. Nhưng chính mối tình với Anna đã làm cho Vronski ngày càng cao thượng
hơn. Chàng dám chống lại lòng háo danh đã ngự trị trong tâm hồn mình từ lâu, dù chưa diệt hẳn nó nhưng Vronski cũng can
đảm nói với bạn rằng “không nên chỉ sống vì tham vọng”. Cái chết của Anna không chỉ là lời lên án xã hội thượng lưu tàn
nhẫn, gian trá và lừa đảo mà nó còn tác động mãnh liệt đến cảm xúc của Vronski. Chàng đau khổ và tự nhủ “phải, nếu coi như
một công cụ thì tôi còn có thể có ích đôi chút. Nhưng xét kĩ về mặt con người thì tôi chỉ là một đống hoang tàn”.
Mặc dù chàng có những nhận thức tiến bộ hơn giới thượng lưu lúc đó nhưng Vronski vẫn là “con người thừa”. Cuối tác phẩm
cùng anh cũng thất bại. Nhìn chung Levin cũng là nhân vật đầy bi kịch.
Mặc dù kiên trì thực hiện “chân lí nông dân”, có những ảo tưởng để cải tạo xã hội nhưng Levin vẫn là người có tư tưởng tiến
bộ. So với Andrey và Pier thì anh đã vượt xa hơn. Andrey và Pier trải qua một thời gian dài mới phát hiện ra chân lí nhân dân.
Còn đối với Levin, chân lí đó đã được khẳng định ngay từ đầu, có điều là anh chưa thấy được nguyên nhân chủ yếu của tình
trạng bất công trong xã hội. Và khi sắp tìm ra được gốc rễ của vấn đề thì anh đã dừng lại. Cái lớn lao ở Levin là anh không