MÔN VĂN M
NGƯỜ K
M
MV
UYỆN TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN
SAU 1975,
ƯƠNG TRÌN
NGỮ VĂN T PT
A. MỞ ẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam từ sau năm 1975 là một giai đoạn văn học rất đa dạng,
phong phú, có nhiều đổi mới trong cả cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Việc
giảng dạy các tác phẩm văn học thuộc giai đoạn này, đặc biệt là giảng dạy cho
học sinh giỏi, học sinh lớp chuyên Văn đòi hỏi giáo viên phải dày công nghiên
cứu để có thể giúp các em nắm bắt được những điều đổi mới trong từng tác
phẩm cụ thể.
So với các thể loại khác thì truyện ngắn sau 1975 có sự chuyển biến mạnh
mẽ, sâu sắc trên mọi mặt. Ở thể loại này, chương trình Ngữ văn THPT có đưa
hai tác phẩm vào để giảng dạy: Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) và Chiếc
thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu). Khi giảng dạy các truyện ngắn đó, chúng
tôi nhận thấy các em học sinh có thể nắm bắt khá nhanh và tốt những đổi mới về
phương diện nội dung của tác phẩm nhưng lại lúng túng khi tìm hiểu về sự đổi
mới trên phương diện nghệ thuật, trong đó có vấn đề người kể chuyện. Mà việc
tạo ra điểm nhìn đa tuyến.
Người kể chuyện có khi đồng nhất với tác giả, có khi không phải là tác
giả; có khi đồng nhất với người trần thuật có khi không. Trong một tác phẩm, có
thể có nhiều người kể chuyện nhưng người trần thuật thì chỉ có một.
2. Nét đổi mới về người kể chuyện trong văn xuôi sau 1975.
Một trong những phương diện đổi mới quan trọng của văn xuôi sau 1975
là đổi mới về quan niệm trần thuật thể hiện ở cách lựa chọn người kể chuyện và
tổ chức điểm nhìn trần thuật.
Nếu trong văn xuôi giai đoạn trước 1975, người kể chuyện thường ở ngôi
thứ 3, chỉ có một điểm nhìn trần thuật (người kể chuyện biết tuốt, luôn đúng) thì
văn xuôi sau 1975 thường sử dụng ngôi kể thứ nhất, tác phẩm có thể có nhiều
người kể chuyện với nhiều điểm nhìn trần thuật tạo nên cái nhìn đa chiều, đa
diện, góp phần tạo ra tinh thần dân chủ, cởi mở và tính đối thoại của văn học sau
1975.
2
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn xuôi thời kì đổi mới có thể di
chuyển từ người kể chuyện này sang người kể chuyện khác giúp cho nhà văn
“nói” được nhiều hơn, khiến câu chuyện chân thực, đáng tin cậy hơn, đồng thời
cũng tạo ra sự bất ngờ cho người đọc.
Thậm chí, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất của văn xuôi sau 1975 còn
giữ vai chính, tham gia vào các tình tiết của câu chuyện, nhờ đó được soi chiếu
với các nhân vật khác trong tác phẩm, khiến cho tính cách, bản chất của nhân
vật “tôi” ấy hiện lên rõ nét, tự nhiên hơn.
Trong những truyện ngắn kể ở ngôi thứ nhất, với điểm nhìn đa tuyến, lời
kể vừa miêu tả sự việc lại vừa miêu tả tâm trạng. Tâm trạng là tâm trạng của
nhân vật mà cũng có thể là tâm trạng của chính tác giả. Lời kể như vậy tạo ra
giọng điệu đa thanh cho tác phẩm.
vào những điều được kể, bởi đó là câu chuyện mà người kể chuyện từng chứng
kiến, tham gia. Ngoài những lợi thế như đã nói trên, người kể chuyện ở ngôi thứ
nhất trong Một người Hà Nội còn có một vai trò khác là làm phong phú hơn cho
chủ đề và tư tưởng của truyện.
Xâu chuỗi các sự kiện, người đọc có thể hình dung một cách trọn vẹn về
cuộc đời bà Hiền qua bao biến động thăng trầm của lịch sử. Từ khi còn là một
cô gái tuổi đôi mươi cho đến khi là một bà lão ngoài bảy mươi, bà Hiền vẫn vẹn
nguyên là một người Hà Nội thanh lịch, thông minh, khôn ngoan, tinh tế, tỉnh
táo, đặc biệt giàu lòng tự trọng và đầy bản lĩnh. Nhà văn đã khéo léo và cũng rất
tự nhiên khi để tính cách của người cô họ hàng xa của mình bộc lộ qua những
tình huống tưởng như bình thường của cuộc sống như việc chọn chồng, sinh
con, nuôi dạy con cái, kiếm kế sinh nhai cho đến những việc trọng đại hơn là
quan hệ xã hội và thái độ chính trị của nhân vật. Là một cô gái xuất thân trong
gia đình giàu có, lương thiện với ông bố đậu tú tài, mê văn thơ, nuôi dạy con cái
theo khuôn phép nhà quan, lại thông minh và tài hoa (từng mở xa lông văn học,
nơi gặp gỡ của nhiều văn nhân nghệ sĩ có tiếng của đất Hà Thành tại nhà),
nhưng khi lấy chồng bà khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc khi lấy một ông giáo
Tiểu học hiền lành, chăm chỉ, bà ngừng sinh con ở tuổi bốn mươi vì nếu tôi và
ông sống đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được, khỏi phải
sống bám vào các anh chị... Bà chú ý dạy con cái từ những điều nhỏ nhất trong
cuộc sống như cách cầm đũa, cách múc canh, đến việc nói chuyện trong bữa ăn
với quan niệm là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không
4
được sống tuỳ tiện, buông tuồng... Khi người con đầu tình nguyện xin đi đánh
Mĩ, trả lời câu hỏi của "tôi", cô Hiền nói Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao
không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự
trọng. Ba năm sau, khi người con thứ cũng viết đơn xin tòng quân, cô buồn bã
là văn học mới; còn viết về sinh hoạt đời thường, về những điều vụn vặt của đời
sống riêng tư là thứ văn học cũ thì đến Một người Hà Nội, ông đã soi ngắm,
định giá con người từ những thang bậc giá trị khác - những giá trị bền vững về
nhân cách, về lối sống trong cuộc sống đời thường với tinh thần nhân văn và
dân chủ sâu sắc.
Người kể chuyện xưng "tôi" trong tác phẩm còn tự tiết lộ những chi tiết
tiểu sử về mình như cậu em họ gọi ¨đồng chí Khải¨, các quan hệ họ hàng, nơi cư
trú... trùng khớp với tác giả trong thực tại đem đến cho tác phẩm màu sắc tự
truyện rõ nét. Nghĩa là nhà văn có hứng thú thể hiện hình tượng chính mình
trong tác phẩm. Điều này không chỉ khiến cho người đọc cảm thấy tính chân
thực của câu chuyện mà quan trọng hơn, nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Thị
Bình thì Khi nhà văn tự tin lấy chuyện mình làm chất liệu văn học, hứng thú với
việc đưa ra cái nhìn riêng, là khi kinh nghiệm cá nhân được quyền bình đẳng
với kinh nghiệm cộng đồng do đó tác phẩm sẽ như một tiếng nói đối thoại dân
chủ, chứ không phải sự áp đặt những chân lý đã mặc định. Quả thực, trong
truyện ngắn, độc giả nhận thấy "tôi" không chỉ kể về bà Hiền và gia đình bà, mà
còn ở nhiều chỗ còn tách ra để tự bộc lộ suy nghĩ của anh ta, hoặc có khi kể về
chính mình và gia đình mình như một sự đối sánh với nhân vật chính của
truyện. Ta có thể thấy không ít lần trong truyện, "tôi" đã tỏ bày những triết lí
riêng của anh ta về con người và cuộc đời như khi suy nghĩ về người chồng làm
nghề giáo của bà Hiền - một ông giáo dạy cấp Tiểu học anh ta cho rằng đó là
người cần thiết cho mọi chế độ, chế độ cộng sản cũng phải khuyến khích trẻ con
đi học, học văn hóa và học làm người; hay khi suy nghĩ sự đánh giá của một
thời với người vô sản, ở quá rộng là một cái tội; hoặc khi anh ta nhận thấy vai
trò quan trọng của người lính sau chiến thắng là người lính vừa chiến thắng,
người lính được cả xã hội trọng vọng, chất lính mùi lính tráng thâm nhiễm vào
mọi nơi, mọi chỗ, quan hệ kiểu lính, vui chơi kiểu lính, ăn nói kiểu lính, văn
chương cũng là một mùi lính; cả chiêm ngẫm chua chát về thực tại, về sự đổi
thay của những giá trị trong hoàn cảnh mới Còn bây giờ sau bữa tiệc mừng đại
thắng mười lăm năm, tầng lớp lính đã mất ngôi vị độc tôn của mình rồi. Bây
anh, ở xã hội ta thì là tầng lớp nào? còn một bên cười phá lên ngạo nghễ Thưa
cô, là bọn lính chúng tôi, là giai cấp lính chúng tôi, chứ còn ai nữa mà hoàn
toàn quên rằng văn hóa thời chiến chỉ là nhất thời. Một bên điềm tĩnh, một bên
7
nông nổi. Ngay cả trong tình cảm với Hà Nội. Khi được sống năm đầu ở Hà Nội
vừa giải phóng, "tôi" cảm thấy cực kì khoan khoái, sung sướng mỗi ngày đều ở
Hà Nội, mỗi đêm đều ở Hà Nội, mãi mãi còn ở Hà Nội, thế mà trong buổi liên
hoan mừng Dũng - cậu con trai cả của bà Hiền trở về, "tôi" đã có nói hơi nhiều
về thành phố Sài Gòn rộng hơn, đông hơn, đẹp hơn cái Hà Nội của mình, về
người dân Sài Gòn cũng lịch thiệp, nhã nhặn hơn người dân Hà Nội. Những
năm Hà Nội đổi mới, "tôi" đã tỏ ra bức xúc trước những nét chưa đẹp, thiếu văn
minh trong lối sống, cách ứng xử của một bộ phận người Hà Nội, còn bà Hiền
trước những lời phàn nàn ấy chỉ nói về cái lẽ vào ra huyền bí của tạo hoá, về câu
chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn sống lại sau trận bão để cho người cháu
chiêm nghiệm thấm thía về niềm tin của bà rằng sau những biến động dữ dội
của xã hội nhiều giá trị vốn bền vững và quen thuộc của đời sống, đã bị lung lay
bật gốc, tưởng như sắp tiêu tan, nhưng sự sống rất huyền nhiệm, những giá trị
tốt đẹp đã được hình thành và xây đắp từ bao đời sẽ được đặt lại đúng với vị trí
của nó; mọi thứ xô bồ, hỗn tạp của Hà Nội hiện thời chỉ là những rác nổi trên bề
mặt của đời sống, rồi đến lúc nó sẽ bị cuốn đi, để một Thủ đô với 1000 năm văn
hiến, với sự "thanh lịch của người Tràng An" sẽ trở lại.
Sự tương tác đối thoại giữa "tôi" và bà Hiền không chỉ giúp người đọc
thấy được vẻ đẹp trong nhân cách của một con người bình dị mà cao đẹp của
nhân vật chính - bà Hiền - mà còn thấy được sự đổi thay, sự điều chỉnh nhận
thức của "tôi" qua thời gian. Càng tiếp xúc với người cô họ qua nhiều năm, "tôi"
càng hiểu về bà, càng thay đổi cách suy nghĩ về bà, kể cả cách suy nghĩ của bản
thân về những giá trị đích thực của cuộc đời. Ban đầu, thái độ của "tôi" với bà
Hiền và gia đình bà là sự nghi kị tôi vẫn nghi ngại gia đình này rất khó gắn bó
2. Người kể chuyện trong Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh hâu).
Trong thời kì văn học sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu không phải là
nhà văn đổi mới đầu tiên nhưng lại là một trong những nhà văn mở đường tài
năng và tinh anh nhất. Hướng đổi mới trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu
thể hiện rõ rệt trên tất cả các phương diện. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi
tìm hiểu đặc điểm lời người kể chuyện trong tác phẩm.
Người kể chuyện có thể được tác giả sử dụng theo ngôi thứ nhất hoặc thứ
hai, thứ ba. Kể theo ngôi thứ 3 là hình thức kể chuyện khá quen thuộc, trong đó
9
người kể chuyện giấu mặt, coi như đứng ở một vị trí nào đó trong không gian và
thời gian, bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra và thuật lại. Còn
kể chuyện theo ngôi thứ nhất là hình thức khá mới mẻ, trong đó người kể
chuyện xưng “tôi” xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm và kể lại cho bạn đọc. Với
“Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu đã chọn hình thức kể theo ngôi thứ
nhất - nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, nhân vật chính của truyện.
Với tư cách người nghệ sĩ nhiếp ảnh, người kể chuyện đã kể lại câu
chuyện về chuyến đi công tác của mình: Được trưởng phòng giao nhiệm vụ
chụp ảnh bổ sung vào bộ lịch một cảnh biển buổi sáng có sương, anh đã đến một
vùng biển miền Trung, nơi phong cảnh thật là thơ mộng, còn sương mù vào
tháng bảy. Tại đây, sau nhiều ngày phục kích, anh ngẫu nhiên gặp được một
cảnh trời cho: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ.
Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha
đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ
con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt
vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm
giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh của một con dơi,
toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp
súng.
Khi ở tòa án, người kể chuyện tiếp tục bị bất ngờ bởi những nghịch lí:
người đàn bà chấp nhận chịu đựng những trận đòn man rợ chứ nhất định không
chiu bỏ gã chồng vũ phu: Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được,
đừng bắt con bỏ nó... Câu nói của người đàn bà khiến người kể chuyện cảm
thấy gian phòng ngủ lồng lộng gió biển của Đẩu tự nhiên bị hút hết không khí,
trở nên ngột ngạt quá. Có lẽ với cái nhìn vốn chỉ quen nhìn thấy những nét thơ
mộng của cuộc sống, người nghệ sĩ đã không thể hiểu và không thể chấp nhận
được cách xử sự kì lạ của người đàn bà. Sự đơn giản trong cái nhìn của tôi còn
thể hiện qua việc anh hỏi người đàn bà: Lão ta hồi trước bảy nhăm có đi lính
ngụy không? để tìm nguyên do của những hành động dã man của gã chồng vũ
phu.
Câu chuyện về cuộc đời người đàn bà do chính chị ta kể ở tòa án mà
người kể chuyện vừa là người chứng kiến (và kể lại) vừa là người trực tiếp tham
gia vào cuộc đối thoại với chị ta đã dần dần cho anh câu trả lời về những điều
nghịch lí mà anh đã chứng kiến. Lão chồng vốn là một anh con trai cục tính
11
nhưng hiền lành lắm nhưng đã trở nên độc ác là vì khổ quá. Còn người đàn bà
lạy van những người đại diện công lí đừng bắt con bỏ nó là vì: đám đàn bà hàng
chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba,
để cùng làm ăn nôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dười chục đứa.
Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình
như trên đất được. Câu nói giản di, chân chất của người đàn bà đã có tác động
sâu xa tới nhận thức của chánh án Đẩu và cũng là nhận thức của người kể
chuyện: một cái gì vừa vỡ ra trong đầu vị bao công của cái phố huyện vùng biển
thật ra cũng là một cái gì vừa vỡ ra trong đầu người nghệ sĩ. Trước đó người kể
chuyện tin là nếu chiếc Prati-ca trung thành với tôi thì phen này tôi có thể đánh
vùng phá nước: Vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và tươi mát
như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn anh. Tôi trở nên ngây ngất vào
buổi sang, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà được một sắc giữa xanh
và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại; giữa trời và nước ấy
chỉ có một chiếc thuyền của một gia đình làm nghề vó bè đang tỏa khói bếp giữa
phá - chiếc thuyền đứng im như làm bằng các tông dán vào cảnh vật êm ả. Và
đây là vẻ đẹp của chiếc thuyền ngoài xa: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu
của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương
mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào.
Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui
khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái
mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt
cánh của một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài
hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích. Cách sử dụng từ ngữ, hình
ảnh để miêu tả cũng thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm của một nghệ sĩ.
Tính chủ quan - chân thực thể hiện rõ nhất trong việc miêu tả tâm lí.
Cũng như các nhân vật nghệ sĩ trong những tác phẩm khác của Nguyễn Minh
Châu, người kể chuyện - nghệ sĩ Phùng tỏ ra là người có đời sống nội tâm
phong phú Những trạng thái tâm lí của người kể chuyện hết sức đa dạng. Trước
hết đó là sự rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên được bộc lộ trực tiếp ngay
khi miêu tả đối tượng: Vùng phá nước có một cái gì đấy thật là phẳng lặng và
tươi mát như da thịt của mùa thu đang ấp vào tâm hồn anh. Tôi trở nên ngây
ngất vào buổi sang, bầu trời không xanh biếc, cao thăm thẳm mà được một sắc
13
giữa xanh và xám, bầu trời như hạ thấp xuống và như ngưng đọng lại hoặc khi
kể lại những khoảnh khắc đứng trước vẻ thơ mộng của ngoại cảnh: Có lẽ suốt
một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh đắt trời cho như vậy
câu chuyện thiếu tính khách quan, và vì vậy sức thuyết phục của những thông
điệp mà tác giả muốn gửi gắm có thể bị giảm sút. Những hạn chế trên đã được
khắc phục bằng một số thủ pháp:
Đầu tiên là chuyển vai kể và điểm nhìn nhưng vẫn không làm mất đi vai
trò của vai kể chính. Việc chuyển vai kể làm tăng tính khách quan cho câu
chuyện: Cách ứng xử kì lạ của người đàn bà khiến người kể chuyện từ kinh
ngạc đến phẫn nộ và không hiểu nổi. Nguyên do đã được lí giải bằng chính lời
kể của người đàn bà về cuộc đời mình. Lời kể của nhân vật này không chỉ giải
thích cho cách ứng xử kì lạ của chị ta mà còn giúp người nghe hiểu được phần
nào nguyên nhân của thói vũ phu ở người đàn ông đó. Lời kể ấy giúp cho
Phùng, Đẩu và cả chúng ta nhận ra cuộc đời người đàn bà này không hề đơn
giản, suy nghĩ của chị ta không phải là cái sự lạc hậu như chị ta nói mà là của
một người thấu hiểu các lẽ đời. Lời kể ấy còn khiến ta cảm động trước lòng vị
tha, đức hi sinh của người đàn bà khốn khổ. Điều quan trọng hơn nữa là nó
mang lại ấn tượng về tính khách quan cho câu chuyện, bởi đây là lời của nhân
vật tự kể về cuộc đời mình, tự nói lên những suy nghĩ của mình.
Bên cạnh đó việc đưa vào lời người kể chuyện những đánh giá, những
cách nhìn nhận khác nhau về cùng một vấn đề. Chẳng hạn, về hành động của
người đàn ông, người kể chuyện cho đó là hành động tàn nhẫn, anh đã nghĩ có
thể lão ta độc ác là do đi lính ngụy. Thằng bé Phác cũng căm phẫn hành động
của cha và nó đã bảo vệ mẹ bằng cách đánh chính người cha của mình. Cô y tá
ở trạm xá thì kể lể bằng tất cả giọng phẫn nộ thói tàn nhẫn của dân đàn ông đánh
cá trong vùng này - do phong tục để lại. Còn người đàn bà thường xuyên bị
chồng đánh đập lại cho rằng chồng mình trở nên độc ác như vậy là vì hoàn cảnh.
Chị xác nhận: Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành
lắm, không bao giờ đánh đập tôi. Qua những cách nhìn khác nhau ấy về người
đàn ông, người đọc nhận thấy không thể nhìn nhận, đánh giá một con người một
cách đơn giản, một chiều mà cần phải tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa đẫn
đến những hành vi của con người trước khi kết luận về tính cách hay phán xét
16