LUẬN án TIẾN sỹ VAI TRÒ của đạo đức đối với VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG điều KIỆN đổi mới HIỆN NAY - Pdf 37

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1 . Tính cấp thiết của đề tài
Con người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực phát triển kinh tế xã hội. Sự phát triển con người thực chất là phát triển nhân cách được Đảng
ta khẳng định là cơ sở của phát triển nhanh và bền vững. Vì vậy, việc nghiên
cứu, khai thác các yếu tố tác động tới sự hình thành và phát triển nhân cách
của con người Việt Nam hiện nay đang là vấn đề thu hút sự quan tâm, chú ý
về cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn, không những đối với các nhà
nghiên cứu mà còn đối với các nhà lãnh đạo, quản lý, các tổ chức và cơ quan
giáo dục - đào tạo.
Đạo đức là một trong những giá trị tinh thần phổ quát (Chân-Thiện-Mỹ) của
nhân loại và là bộ phận trọng yếu trong đời sống tinh thần xã hội. Những phẩm
chất đạo đức cá nhân là nền tảng nhân cách của con người. Sự trưởng thành về
đạo đức biểu hiện trình độ phát triển nhân cách và là sự tiến bộ mang tính nhân
văn trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng. Trong xu thế nhân văn
hoá sự phát triển của xã hội hiện đại, đạo đức được khẳng định là một nhân tố
nội sinh quan trọng và là một phương diện không thể thiếu cho việc hình thành
nhân cách phát triển hài hoà, toàn diện của mỗi cá nhân.


Trong các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo
đức là cốt lõi. Những giá trị đạo đức truyền thống như yêu nước, nhân ái,
tình nghĩa, yêu lao động, yêu tự do, độc lập và đặc biệt coi trọng các giá trị
văn hoá tinh thần... đã tạo nên nét bản sắc trong đời sống văn hóa tinh thần
của nhân dân ta. Nó cũng tạo nên cốt cách riêng và những phẩm chất cao
quý trong nhân cách của con người Việt Nam. Chính những giá trị đạo đức
ấy đã tạo nên sức mạnh cho con người và dân tộc Việt Nam trong lịch sử,
cần được phát huy trong sự nghiệp đổi mới hiện nay: Khai thác và nâng cao
vai trò của đạo đức là đòi hỏi mang tính nhân văn của thời đại đối với sự
phát triển con người và là một yếu tố cơ bản để giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc trong tiến trình hội nhập và phát triển.
Khi đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện



trong giáo dục, đào tạo và sử dụng con người, chỉ coi trọng học vấn, năng
lực chuyên môn, năng lực quản lý, kinh doanh mà bỏ qua việc giáo dục, rèn
luyện các phẩm chất đạo đức. Chính đó là nguyên nhân trực tiếp làm cho
"không ít cán bộ, đảng viên thoái hóa, quan liêu, tham nhũng, xa hoa, lãng
phí, xa rời bản chất của giai cấp công nhân", bất chấp đạo lý vì mục đích
kiếm tiền, địa vị và quyền lực, chỉ sau một thời gian nền kinh tế nước ta
chuyển sang cơ chế thị trường.
Những hiện tượng suy thoái đạo đức, biến dạng nhân cách cùng với nó là
các tệ nạn xã hội đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội và là một trong
những nguy cơ đối với chiến lược phát triển con người của Đảng. Vì vậy,
vấn đề đạo đức và vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con
người Việt Nam là một vấn đề triết học bức xúc nảy sinh từ thực tiễn đất
nước ta hiện nay, đòi hỏi sự nghiên cứu, khái quát khoa học.
Tất cả những điều trình bày trên đây là những lý do chúng tôi chọn đề tài:
"Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam
trong điều kiện đổi mới hiện nay" để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ góc độ đạo đức học và tâm lý học, các vấn đề đạo đức, nhân cách đã
được nhiều tác giả trong nước cũng như nước ngoài bàn đến. Những công


trình chuyên bàn về đạo đức được dịch sang tiếng Việt chủ yếu là của các
tác giả ở Liên Xô và một số nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN)
trước đây. Các nhà đạo đức học mác xít đã nghiên cứu các hiện tượng đạo
đức và vai trò của đạo đức đối với đời sống xã hội của con người trên cơ sở
thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đặc biệt trong
cuốn "Đạo đức học - Thử trình bày một hệ thống đạo đức mácxít của
Brandzeladzet”, nhiều hiện tượng đạo đức và vai trò của đạo đức đã được

cách cơ sở khoa học để luận giải vai trò của đạo đức đối với sự hình thành
nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới đất nước.
Việc khai thác vai trò của đạo đức như một yếu tố đối với hệ thống trong
cấu trúc nhân cách đức - tài và sự vận dụng tri thức liên ngành triết học, xã
hội học, tâm lý học, xã hội học... để xem xét quan hệ giữa đạo đức và nhân
cách cũng là đóng góp một cho hướng nghiên cứu cũng như lý luận về giáo
dục đạo đức, nhân cách con người, có ý nghĩa thực tiễn ở Việt Nam hiện
nay.
Luận án đã nêu những luận cứ khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao
vai trò của đạo đức trong việc tạo dựng nhân cách phát triển hài hoà và toàn
diện cho con người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ nói riêng.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của công trình luận án này có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu triết học về vấn đề đạo đức, nhân
cách, con người, ở các trường Đại học và Cao đẳng, các trường chính trị địa


phương cũng như các cơ quan làm công tác tư tưởng văn hoá, các đối tượng
khác quan tâm tới đề tài.
8. Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận án
gồm có 3 chương, 7 mục.
Chương 1
ĐẠO ĐỨC VỚI SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH
1.1. Nhân cách và sự hình thành nhân cách
1.1.1.Về khái niệm nhân cách.
Nhân cách là một vấn đề phức tạp, là đối lượng nghiên cứu của nhiều
khoa học như triết học, tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, văn hoá học...
từ những cách tiếp cận khác nhau, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
khác nhau đã hình thành nên rất nhiều quan niệm khác nhau về nhân cách.

(trời - đất - vạn vật) con người quan hệ với con người (nhân) và con người
với chính bản thân mình (ngã) được đề cập trong các hệ thống triết học là
những khái niệm về con người và nhân cách ở phương Đông. Sự hài hoà
trong các mối quan hệ trở thành triết lý ứng xử của con người. Trong triết
học "nhân sinh" của Khổng Tử Và các môn phái của đạo Nho, chữ "Nhân"


vừa có nghĩa là Người, nhân ái, vừa có nghĩa là đạo nhân, là noi theo đạo
làm người. Nhân còn là một nhân cách mô phạm lý tưởng của người quân tử
lấy "tu thân" (tu sửa và dưỡng dục đạo đức) làm trọng. Khổng Tử nói: "Khắc
kỷ, phục lễ vi nhân = vượt lên trên mình, phục tùng kỷ luật mới trở thành
Người - Con người có nhân cách [l02, 252].
Thuật ngữ "nhân cách” với ý nghĩa khoa học xuất hiện lần đầu tiên trong
tâm lý học phương Tây vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Khi đó người ta
quan niệm nhân cách là cái mặt nạ che cái "tôi" bên trong. Khi nào cái mặt
nạ đó trùng với cái "tôi" thì nhân cách phát triển đến độ chín muồi. Trong
tác phẩm, "Bàn về tâm lý học khác biệt cá nhân" của W.Stern, khái niệm
nhân cách được dùng để chỉ thuộc tính của những thực thể (Persons) có khả
năng tự xác định và tự phát triển trong thế giới vô cơ lẫn hữu cơ [xem l0,
222]. Cho đến nay, khái niệm nhân cách được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác
nhau do sự khác nhau về cách tiếp cận, về quan điểm và khuynh hướng
nghiên cứu.
Quan niệm sinh vật hoá nhân cách
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là lý luận về nhân cách trong học thuyết
phân tâm của S. Freud ( 1856 - 1939). Học thuyết này đã có ảnh hưởng to
lớn trong đời sống xã hội và học thuật ở phương Tây. Theo Freud: trong con


người sống tồn tại những bản năng. Xu hướng của những bản năng này là
luôn luôn bùng lên kích thích con người hoạt động nhằm thoả mãn những

nguồn năng lượng, là động lực thúc đẩy con người hành động. Trong trường
hợp bản năng bị chèn ép, bị đè nén sẽ dẫn tới sự suy thoái nhân cách. Khoa
học, nghệ thuật, tôn giáo là những con đường để năng lực đó được "siêu
thăng", hình thành nên nhân cách của những thiên tài sáng tạo [10,56]. Và
ông đã dẫn ra trường hợp của danh hoạ Lêonađơ Vanhxi - nhà hội hoạ kiệt
xuất đã biến say mê tình dục thành say mê hội hoạ. Cái "LIBIDO" không chỉ
là nguồn gốc năng lượng sinh vật của tính tích cực hoạt động mà còn là một
cấp độ đặc biệt trong nhân cách. Từ đó, ông đưa ra định nghĩa: Nhân cách là


những tình cảm, những cố gắng và những tư tưởng phát sinh ra những mâu
thuẫn giữa tính hiếu chiến của chúng ta, động cơ thúc đẩy việc tìm kiếm để
thoả mãn nhu cầu một cách sinh học và sự kiềm chế xã hội chống lại chúng
[dẫn theo 43, 345].
Những giá trị khoa học cũng như những sai lầm trong lý thuyết phân tâm
của Fleud đã có nhiều nhà lý luận phê phán và cũng có nhiều nhà lý luận,
nhà nghệ thuật tán đồng, khai thác. Chúng tôi không có ý định đi sâu vào
vấn đề này. Chỗ hợp lý liên quan đến đề tài này là: con người cũng giống
con vật ở sự tồn tại những bản năng, ham muốn, dục vọng có tính sinh vật.
Cả con người và con vật đều phải thích nghi với môi trường sống, với thực
tại thế giới bên ngoài. Nhưng ở con vật chỉ tồn tại những bản năng thuần
tuý. Còn bản năng ở con người là bản năng đã được ý thức, in dấu những
tác động xã hội của giáo dục, của các quy phạm đạo đức. Sự thoả mãn ích
kỷ dần dần được thay thế bằng sự thoả mãn được xã hội hoá: "Con người chỉ
trở thành người với một cố gắng không ngừng để xã hội hoá. Đời sống xã
hội chỉ có thể có được nếu chúng ta chịu tuân theo những khuôn mẫu xã hội,
những khuôn mẫu này sẽ ức chế và thay đổi những thúc đẩy nguyên thuỷ
của chúng ta. Tất cả sự giáo dục mà chúng ta nhận lãnh chỉ nhằm giải quyết
sự xung khắc giữa bản tính thiên nhiên của chúng ta với văn hóa - nền tảng
của đời sống tập thể [93, 47] .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status