MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là một trong những chiến
công vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Việt Nam. Với thắng lợi này, đất nước ta được hoàn toàn thoát khỏi ách đô
hộ tàn bạo, hà khắc của thực dân Pháp hơn 80 năm và sự thống trị của chế
độ phong kiến hơn 1000 năm. Từ đây dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc
lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ địa vị của người nô lệ "hoá
thân" thành người làm chủ nước nhà. Đảng ta, từ một Đảng hoạt động bí
mật, bất hợp pháp, trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước.
Cách mạng nước ta cũng từ đó không ngừng phát triển, giành hết thắng lợi
này đến thắng lợi khác, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phong trào
giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh phát triển
lên một bước cao hơn. Đẩy chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới
vào thời kỳ tan rã, suy sụp. Góp phần mở ra thế chiến lược tiến công của 3
dòng thác cách mạng, đánh đổ từng bước, đánh lui từng bộ phận của CNĐQ.
Thắng lợi vĩ đại đó không phải là "sự ăn may" như quan niệm của
một số người, đó là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố chủ quan và
khách quan tạo nên. Trong đó, cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh trong
những năm 1941 – 1945 là một trong những nhân tố quan trọng nhất. Nó
không chỉ góp phần quyết định đến việc điều chỉnh đường lối chiến lược
cho phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới đặt ra mà còn có ý
nghĩa to lớn đối với việc tạo dựng nên những yếu tố cần thiết về lực
lượng cách mạng, căn cứ địa cách mạng… để khi thời cơ xuất hiện,
Đảng có đủ điều kiện phát động một cuộc tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong cả nước, đưa cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mau
chóng giành thắng lợi hoàn toàn.
Nghiên cứu vai trò to lớn của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam
trong những năm 1941 - 1945 là một việc làm cần thiết. Làm tốt vấn đề này
- Phương pháp nghiên cứu: Chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết
hợp với phương pháp lôgíc, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu
và trình bày thuộc ngành lịch sử như: phương pháp đồng đại, lịch đại;
phương pháp so sánh, thống kê, tổng kết lịch sử.
5. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn được bảo vệ thành công sẽ góp phần làm rõ thêm vai trò to lớn
của Hồ Chí Minh với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta nói chung, với
cao trào giải phóng dân tộc và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền những
năm 1941 - 1945 nói riêng. Đồng thời, làm cơ sở chống lại những luận điệu
của các thế lực thù địch xuyên tạc, hạ thấp giá trị to lớn của cách mạng tháng
Tám, của Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam. Từ đó góp phần nâng cao niềm
tự hào, tự tôn dân tộc, tạo nên ý chí và sức mạnh thực hiện thắng lợi công
cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân
dân ta đã lựa chọn.
Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng
dạy Lịch sử ĐCS Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường trong và
ngoài quân đội.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 2 chương (4 tiết).
Chương 1
HỒ CHÍ MINH VỀ NƯỚC TRỰC TIẾP LÃNH ĐẠO CAO TRÀO
GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (2-1941- 3 -1945)
1.1. Hồ Chí Minh chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc
trong điều kiện mới
1.1.1. Tình thế cách mạng xuất hiện, vấn đề giải phóng dân tộc đặt ra
cấp thiết
Ngày 1 - 9 -1939, phát xít Đức bất ngờ đem quân tiến đánh Ba Lan một trong những nước đồng minh của Anh, Pháp, Mỹ. Hai hôm sau, ngày
Toàn quyền Catơru tuyên bố: "Lần này chúng tôi không chờ cho mụn độc
phát triển, phải mổ nó trước khi nó phát triển. Chúng tôi đã đánh toàn diện
và mau lẹ vào các tổ chức cộng sản, chống cộng sản là một cuộc đấu tranh
hằng ngày. Trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt cộng sản thì xứ Đông
Dương mới được yên ổn và mới trung thành với nước Pháp. Chúng tôi
không có quyền không thắng. Tình thế chiến tranh bắt buộc chúng tôi hành
động không chút thương tiếc nào" [22, tr.445-446].
Để làm cho xứ Đông Dương được "yên ổn" và "trung thành với nước
Pháp", ngày 28-9-1939 toàn quyền Đông Dương ra nghị định ghi rõ: "Cấm
hết thảy mọi hoạt động có tính chất trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền các
khẩu hiệu của Quốc tế Cộng sản hay những tổ chức do Quốc tế Cộng sản
kiểm soát. Giải tán hết thảy các hội ái hữu, tổ chức hay cá nhân nào có liên
hệ với ĐCS" [22, tr.446]. Hành động đó của chúng đã thủ tiêu mọi quyền
lợi mà nhân dân ta đấu tranh giành được trong giai đoạn 1936 - 1939; báo
chí tiến bộ bị đóng cửa; các đoàn thể quần chúng bị cấm hoạt động; hàng
loạt cán bộ, đảng viên và quần chúng bị bắt bớ, giam cầm, đày đoạ trong các
nhà tù và các trại tập trung. Chỉ trong tháng 9-1939, riêng ở Bắc kỳ đã có
đến 1051 cuộc khám xét và bắt bớ. Trung kỳ và Nam kỳ cũng chẳng khác gì.
Tàn bạo hơn, thực dân Pháp còn đưa nhiều cán bộ, chiến sỹ cách mạng đi
đày ở các hòn đảo thuộc địa của chúng ở châu Phi và Trung Mỹ để không
còn cách nào vượt ngục được. Với những cán bộ chủ chốt của Đảng, chúng
tìm mọi cách để sát hại như: đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư BCHTƯ
ĐCS Đông Dương, Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị
Minh Khai bị xử bắn ngày 26-8-1941. Đồng chí Lê Hồng Phong, uỷ viên
BCHTƯ ĐCS Đông Dương bị địch hành hạ đến chết trong nhà tù Côn Đảo
ngày 6-9-1942 …
Cùng với sự đàn áp, khủng bố, thực dân Pháp ra lệnh tổng động viên, bắt
lính đưa sang Pháp phục vụ chính sách chiến tranh, bắt phu đi xây dựng
quyết. Sự bùng nổ của các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27-9-1940), khởi nghĩa
Nam Kỳ (23-11-1940) và binh biến Đô Lương (13-11-1941) là những minh
chứng hùng hồn cho việc đòi hỏi phải giải quyết những mâu thuẫn đó.
Như vậy, sự xâu xé lẫn nhau giữa hai tập đoàn đế quốc: Đức - Italia Nhật Bản và Anh, Pháp, Mỹ trong chiến tranh thế giới II đã biến thế giới
thành "Cái lò sát sinh lớn", đẩy nhân loại vào chỗ chết chóc. Nhưng chiến
tranh do chủ nghĩa phát xít gây nên cũng là biểu hiện giai đoạn mới của cuộc
tổng khủng hoảng trong lòng chủ nghĩa tư bản, mở ra cho phong trào cách
mạng thế giới một tiền đồ rực rỡ.
Với nước ta, chiến tranh đã gây thêm bao tai hoạ nặng nề cho quần
chúng nhân dân, song nó cũng như cái "máy gia tốc" của cách mạng, đưa
nhân dân ta nhanh chóng vùng lên đánh đổ ách thống trị của bọn đế quốc, vì
đất nước ta không còn nằm trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền dân
chủ, dân sinh, tích luỹ lực lượng mà là giai đoạn trực tiếp đánh đổ chính
quyền đế quốc và tay sai. Đúng nhưng nhận định của HNTƯ 6 (11-1939):
"Cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này
sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng" [10, tr.420].
So với thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918), giai đoạn này
phong trào cách mạng Đông Dương có nhiều nhân tố mới thuận lợi, đó là:
CNĐQ đang giãy giụa trong cơn tổng khủng hoảng về kinh tế, chế độ cai trị
của chúng đã trở thành chế độ phát xít. Nhân tài, vật lực của quần chúng
nhân dân bị cướp bóc một cách vô tội vạ, nạn mua rẻ, bán đắt, ruộng đất bị
cướp, sưu thuế tăng cao, xe, ngựa, bắp lúa trâu bò bị sung công, bao nhiêu
của cải, mồ hôi nước mắt bị vơ vét hết. Bọn tay sai đế quốc đã hoàn toàn lộ
mặt phản động. Với những kinh nghiệm đã có qua cuộc chiến tranh thế giới
lần thứ I, giờ đây quần chúng nhân dân sẽ không bị chính sách mị dân của
địch ru ngủ mà sẽ vùng lên đập tan xích xiềng của bọn đế quốc để thoát ra
khỏi cảnh nô lệ, lầm than. Bởi vì muốn sống, nhân dân Việt Nam nói riêng
Cùng với việc khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong
lịch sử, chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ rõ vai trò vô cùng quan trọng của
lãnh tụ, những cá nhân kiệt xuất đối với sự phát triển của phong trào quần
chúng: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống
trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ
chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo
phong trào". [26, tr.473].
Với khả năng nhìn xa, trông rộng, sớm nắm bắt chính xác xu thế phát
triển và những yêu cầu đòi hỏi mới của lịch sử, lãnh tụ luôn là người có
những chủ trương, biện pháp đúng đắn sáng tạo nhằm tập trung lực lượng,
khơi dậy tiềm năng, sức mạnh của quần chúng nhân dân và tận dụng được
những điều kiện thuận lợi nhất để tổ chức, lãnh đạo mọi lực lượng, thực hiện
thắng lợi những yêu cầu, nhiệm vụ của lịch sử đặt ra. Sự sáng suốt, đức độ
và tài năng xuất hiện đúng lúc của lãnh tụ bao giờ cũng có tác dụng thúc đẩy
phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, đi đúng hướng, ít sai lầm. Với ý
nghĩa đó, sự xuất hiện vào đúng thời điểm lịch sử quan trọng của Hồ Chí
Minh khi cuộc chiến tranh thế giới II bùng nổ, là minh chứng hùng hồn về
vai trò quan trọng của lãnh tụ.
Cụ thể là: Khi trục phát xít Béclin-Rôma-Tôkiô được thành lập, nguy cơ
về cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai không còn xa nữa, Hồ Chí Minh đã viết
thư cho Ban thư ký của Quốc tế Cộng sản xin được về nước qua con đường
của ĐCS Trung Quốc.
Được sự nhất trí của Quốc tế Cộng sản, Người đã gấp rút chuẩn bị lên
đường. Đầu năm 1940, Người về đến Côn Minh (Trung Quốc). Tại đây
Người đã bắt liên lạc với bộ phận ở ngoài nước của Đảng ta là các đồng chí
Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Cao Hồng Lĩnh. Sau đó lại gặp thêm các đồng chí
Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp ở trong nước mới sang. Qua nghe trao đổi
tình hình trong nước, quốc tế, Người đã giới thiệu đồng chí Phạm Văn Đồng
bản dự thảo Nghị quyết của đồng chí Trường Chinh. Người khen dự thảo
báo cáo viết có hệ thống, vạch ra được những phương hướng cơ bản của
đường lối cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam, nhưng báo cáo viết còn
dài, nên rút ngắn lại cho quần chúng "dễ đọc, dễ nhớ."
Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, Hội nghị đi sâu phân tích tình hình thế
giới, trong nước và làm rõ những yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng nước
ta.
Về tình hình thế giới, Hội nghị chỉ rõ: Nguyên nhân gây ra cuộc chiến
tranh thế giới II là do mâu thuẫn giữa các nước đế quốc đã hết sức "quyết
liệt, dữ dội". Nó không những giết hại nhân loại mà còn tự tiêu hao lực
lượng lẫn nhau. Vì thế: "Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra
Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ
đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước
thành công" [12, tr.100].
Về tình hình Đông Dương, Hội nghị chỉ rõ: Sự vơ vét, bóc lột tàn bạo
của thực dân Pháp, phát xít Nhật và ách thống trị hà khắc của chúng đã đẩy
mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với CNĐQ lên đỉnh tột cùng, các
cuộc khởi nghĩa nổ ra báo hiệu cho một cuộc khởi nghĩa toàn quốc.
Từ những nhận định đó, Hội nghị cho rằng: Nhiệm vụ giải phóng dân
tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương. Chúng ta phải
gấp rút chuẩn bị lực lượng về mọi mặt để đón thời cơ giành thắng lợi quyết
định cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vì: "Trong lúc này, nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn
thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi khiếp
ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại
được"[12, tr.113].
Để đòi lại "độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc", Hội nghị quyết định tạm
gác khẩu hiệu: "Cách mạng ruộng đất" của Hội nghị Trung ương 6 (tháng
Hội nghị còn quyết định thành lập các tổ chức vũ trang, nửa vũ trang và
chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm. Dự kiến hình thái khởi
nghĩa ở nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành
chính quyền trong cả nước: "Ta phải luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng,
nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù … lúc đó với lực
lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng
địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng
khởi nghĩa to lớn" [12, tr.131,132].
Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng nhằm lãnh đạo
cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng. Cụ thể là: Việc đào tạo cán
bộ nay đã thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ phút.
Nhất trí với đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị đã bầu ra BCHTƯ Đảng
mới do đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư và bầu ra Ban Thường vụ
gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt.
Với những nội dung trên, Hội nghị lần thứ 8 BCHTƯ Đảng, dưới sự chủ
trì của Hồ Chí Minh có một ý nghĩa hết sức to lớn. Hội nghị đã hoàn chỉnh
chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược do các HNTƯ lần thứ 6,7 đề
ra, góp phần quan trọng, quyết định đến thắng lợi của cao trào cách mạng
1939-1945 và Cách mạng tháng Tám.
Theo hồi ức của đồng chí Trường Chinh, người dự thảo Nghị quyết Hội
nghị, thì Nghị quyết không chỉ thể hiện tư tưởng giải phóng dân tộc của Hồ
Chí Minh mà còn dựa vào nguyên văn nhiều câu nói, nhiều sự phân tích của
Người. Đọc lại Nghị quyết HNTƯ lần thứ 8 (tháng 5-1941), ta có thể thấy rõ
những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh trong việc phát triển, hoàn chỉnh
đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc của Đảng ta.
Về nhiệm vụ cách mạng, tại HNTƯ 8 có sự phát triển hơn so với HNTƯ
6 (11-1939) và HNTƯ 7 (1-1940). Nếu như HNTƯ 6,7 chỉ mới nêu lên
những yêu cầu chính như: Mục tiêu chiến lược trước mắt là đánh đổ đế quốc
các thứ thuế khác, được chia công điền lại một cách công bằng hơn, lại được
hưởng nhiều quyền lợi ruộng đất, tịch thu của bọn việt gian phản quốc v.v.
Nhờ chủ trương đúng đắn, sáng tạo đó của Đảng đã động viên được toàn dân
tộc dấy lên cao trào chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang mạnh mẽ khi thời cơ đến.
Về vấn đề dân tộc tự quyết, nếu như ở HNTƯ 6,7 khi nêu cao nhiệm vụ
giải phóng dân tộc vẫn chủ trương giải quyết đồng thời đối với cả 3 dân
tộctrên bán đảo Đông Dương, nhằm “làm cho Đông Dương hoàn toàn độc
lập … Lập Chính phủ Liên bang cộng hoà dân chủ Đông Dương”. Đến
HNTƯ 8, do Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định giải quyết vấn đề dân tộc
trong khuôn khổ từng nước, để cho các dân tộc được tự quyết định vận mệnh
của mình. Riêng với Việt Nam, sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật sẽ thành lập
một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ cộng hoà, lấy cờ đỏ sao
vàng năm cánh làm lá cờ Tổ quốc. Tuy nhiên, theo cách nghĩ, cách làm của
Hồ Chí Minh, như thế không có nghĩa là tách rời cách mạng Việt Nam với
cách mạng Lào, Cămpuchia mà cả ba dân tộc vẫn phải đoàn kết, tập trung
sức, cùng hợp lực đánh đuổi Pháp-Nhật. Trong đó Việt Nam có trách nhiệm
dìu dắt, giúp đỡ hai nước bạn trong bước đường tranh đấu giành tự do độc
lập.
Việc giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông
Dương của HNTƯ 8 đã thể hiện sự quán triệt sâu sắc quan điểm chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vấn đề dân tộc tự quyết.
Nghiên cứu những tác phẩm do Người viết như: "Đường cách mệnh",
"Chính cương vắn tắt", "Sách lược vắn tắt" hay các tổ chức do Người sáng
lập như: Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và ĐCSVN… ta thấy hai chữ
"Việt Nam" luôn được đề cao. Điều này không những phản ánh đúng quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin mà còn phù hợp với thực tiễn phong trào
cách mạng Đông Dương, vì đoàn kết quốc tế là yêu cầu khách quan, là
nguyên nhân quan trọng của thắng lợi, nhưng cách mạng không thể "xuất
cuộc tổng khởi nghĩa to lớn" của HNTƯ 8, đã góp phần phát triển lý luận
Mác-Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa,
đồng thời thể hiện rõ tinh thần chủ động tích cực cách mạng của Đảng ta.
Nhờ đó ta đã tranh thủ được "cơ hội" thuận lợi nhất để đưa cuộc Cách mạng
tháng Tám năm 1945 đi đến thắng lợi.
Khi nói đến mối quan hệ giữa cách mạng vô sản chính quốc và phong
trào giải phong dân tộc ở thuộc địa, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Cách
mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản chính quốc, là "Hậu bị
quân" của cách mạng vô sản chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc
chỉ có thể thắng lợi khi cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi.
Tin theo lý luận Mác - Lênin, nhưng vốn là người dân thuộc địa, là
người cộng sản lăn lộn trong phong trào thuộc địa, hiểu rõ tiềm năng cách
mạng của các dân tộc bị áp bức là rất to lớn, nó sẽ bùng lên mạnh mẽ, hình
thành một "lực lượng khổng lồ" khi được giáo dục, giác ngộ, tổ chức, lãnh
đạo. Vì thế Hồ Chí Minh đã đề ra những luận điểm về tính chủ động, tính
tích cực của cách mạng giải phóng dân tộc, của nhân dân các nước thuộc địa
nhằm bổ sung vào những luận điểm chung lúc bấy giờ. Đó là: Cách mạng
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có thể nổ ra và giành thắng lợi trước
cách mạng vô sản chính quốc và tác động trở lại thúc đẩy cách mạng chính
quốc. Từ quan điểm này Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân Việt Nam hoàn
toàn có thể chủ động đứng lên, "đem sức ta mà giải phóng cho ta". Không ỷ
lại, chờ cách mạng chính quốc thành công mới ra tay hành động.
Tư tưởng đó của Hồ Chí Minh đã hình thành từ rất sớm, song chỉ khi
Người về nước, chủ trì HNTƯ 8 của Đảng thì mới được đưa vào Nghị quyết,
trở thành tư tưởng chỉ đạo đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ở
đất nước ta.
Về phương pháp cách mạng, một vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự
thắng lợi của phong trào cách mạng, tại HNTƯ 6 (11-1939) và HNTƯ 7 (111940), mới có những dự kiến và phác hoạ bước đầu là dự bị những điều kiện
điều kiện để Đảng lãnh đạo cách mạng thắng lợi, hoàn thành vai trò, sứ
mệnh lịch sử của mình, bởi đường lối chiến lược đúng là cơ sở bảo đảm cho
sự chỉ đạo chiến lược. Tuy nhiên, không phải cứ có đường lối chiến lược
đúng là có sự chỉ đạo chiến lược đúng. Sự chỉ đạo chiến lược đúng chỉ có thể
được thực hiện trên cơ sở sự kiên định đường lối chiến lược và sự nhạy bén,
sắc sảo trong việc nắm bắt thực tiễn, đưa ra được những dự báo chính xác
cho mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử, vì thực tiễn cách mạng luôn vận động,
biến đổi không ngừng, ở mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau luôn có những
vấn đề bức thiết nổi lên, đòi hỏi phải được giải quyết. Vấn đề này đã được
Lênin chỉ rõ: "Cái gì hôm qua coi là đủ thì hôm nay không còn là đủ nữa ...
yêu cầu đối với giai cấp tiên tiến là phải xác định rõ chính bản thân nội dung
những nhiệm vụ trước mắt và bức thiết của cuộc cách mạng ấy" [27, tr.150].
Do đó, mọi chủ trương, chính sách mà Trung ương đề ra đã được toàn
Đảng, toàn dân chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần quan trọng tạo nên thắng
lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Có được thành công đó, công
đầu thuộc về Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ tối cao của Đảng và của toàn thể dân
tộc, Người đã trực tiếp về nước triệu tập và chủ trì Hội nghị, quyết định
những vấn đề hệ trọng, liên quan đến tiền đồ tươi sáng của cách mạng nước
ta.
2.1. Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng phát động cao trào kháng
Nhật cứu nước
2.1.1. Nhật đảo chính Pháp và cao trào kháng Nhật cứu nước
Đánh giá về quan hệ "hợp tác" giữa Nhật-Pháp ở Đông Dương sau ngày
22-9-1940, Hồ Chí Minh đã nhận định: "Đồng minh sẽ thắng, Nhật, Pháp ở
Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau". Tiếp đó, Nghị quyết của Hội nghị
cán bộ Bắc Kỳ ĐCSĐông Dương (Họp ngày 5 đến 7-3-1944), cho rằng:
"Căn cứ vào những hành động của giặc Nhật và của bọn Việt gian thân Nhật
gần đây, chúng ta nhận thấy chúng đang âm mưu hất cẳng Pháp làm cho