LUẬN án TIẾN sĩ VAI TRÒ của KINH tế NHÀ nước đối với sự NGHIỆP xây DỰNG lực LƯỢNG vũ TRANG, bảo đảm KINH tế CHO QUỐC PHÒNG - Pdf 40

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định phải tiếp tục củng cố và phát triển
có hiệu quả kinh tế nhà nước nhằm thực hiện tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hỗ trợ các
thành phần khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện
chức năng quản lý; tạo dần nền tảng cho chế độ xã hội mới.
Sau khi Mỹ buộc phải bỏ cấm vận bình thường hoá quan hệ ngoại giao với
Việt Nam, quan hệ kinh tế giữa ta với các nước ngày càng mở rộng. Tuy nhiên các
thế lực thù địch với Việt Nam đang lợi dụng mặt trận kinh tế để mở rộng cuộc tấn
công chế độ ta. Đây là cuộc đấu tranh kinh tế, dùng kinh tế để giải quyết vấn đề
chính trị, với mưu đồ đó làm chúng ta tan rã nhanh trong sự thịnh vượng kinh tế.
Bằng con đường đó, thông qua chiến lược đầu tư, liên doanh, liên kết hợp tác,
chúng có kế hoạch chiếm lĩnh thị trường, đòi tư nhân hoá kinh tế nhà nước, thúc
đẩy phát triển kinh tế tư nhân..., cùng với hàng loạt biện pháp trên các mặt trận
khác hòng làm chúng ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó, đang đặt
ra những vấn đề mớ mẻ phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn để kinh tế nhà
nước giữ vững và phát huy được chức năng kinh tế - xã hội của mình.
Kinh tế nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế bảo đảm cho
quốc phòng ở Việt Nam. Trong điều kiện nước ta đang xây dựng nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự tác động của cơ chế thị trường đang đặt ra
nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết đối với thực trạng hiện nay của kinh tế nhà
nước. Từ đó để kinh tế nhà nước vươn lên, vừa bảo đảm vai trò chủ đạo nền kinh
tế, vừa bảo đảm kinh tế tốt nhất cho nền quốc phòng nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
Lực lượng quân đội làm kinh tế - một bộ phận kinh tế nhà nước trong tình
hình mới, phải hoạt động như thế nào để vừa góp phần tham gia phát triển kinh tế,
xây dựng sức mạnh kinh tế nhà nước, vừa trực tiếp bảo đảm kinh tế cho quốc
phòng, nhưng vẫn giữ được sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù
khi chiến tranh xảy ra.

mình, nhưng chưa ai đặt tiếp vấn đề: kinh tế nhà nước trong cơ chế kinh tế mới
đảm bảo kinh tế cho quốc phòng hiện nay ở nước ta ra sao, với mức độ nào ? Hơn
nữa hiện có rất ít các công trình nghiên cứu về lực lượng lao động sản xuất và làm
kinh tế của quân đội - một bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước trong việc thực
hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước nói chung và củng cố phát
triển kinh tế nhà nước nói riêng.


Kinh tế là cơ sở của sức mạnh quốc phòng đất nước. Việc phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa với vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tiềm lực kinh tế quân sự, đến
xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân. Đây chính là vấn đề còn ít người nghiên
cứu.
Từ nhu cầu cấp thiết về lý luận và thực tiễn của đề tài và tình hình nghiên cứu
kinh tế nhà nước như đã nêu ở trên trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, kinh tế quân
sự, đã cho phép tác giả xác định đề tài cùng với mục đích nghiên cứu và những
nhiệm vụ cơ bản đặt ra cần giải quyết.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là nghiên cứu vai trò của kinh tế nhà nước đối với việc
bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu và phân tích tác
động của quá trình tăng cường củng cố vai trò của kinh tế nhà nước đối với nhiệm
vụ nâng cao sức mạnh của lực lượng vũ trang và nền quốc phòng ở nước ta: luận
giải vai trò, trách nhiệm của quân đội trong việc tăng cưòng tiềm lực quốc phòng
và xây dựng kinh tế nhà nước, qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm giải quyết
các vấn đề nảy sinh trong quá trình này.
Luận án có nhiệm vụ
- Khái quát những vấn đề căn bản phản ánh vai trò của kinh tế nhà nước đối
với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, đảm bảo kinh tế cho quốc phòng.
- Làm rõ những thực tế khó khăn của kinh tế nhà nước trong phát triển sản
xuất, nâng cao hiệu quả, thực hiện vai trò chủ đạo nền kinh tế quốc dân và những

dạy một số chủ đề kinh tế chính trị, kinh tế quân sự trong các trường quân đội.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được trình bày trên cơ sở vận dụng các quan điểm tư tưởng chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế chính trị, kinh tế quân sự, về học
thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và chiến tranh quân đội; các văn kiện của
Đảng Cộng sản Việt Nam; các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các
chỉ thị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị;
các chỉ thị, quyết định của các Tổng cục, các Bộ, các ngành có liên quan; một số
luận điểm quan trọng trong các bài nói, bài viết của các tác giả trong và ngoài
nước.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên phương pháp nghiên cứu cơ
bản của kinh tế chính trị học Mác - Lê-nin: Trừu tượng hoá khoa học kết hợp lôgíc


với lịch sử, đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế cụ
thể như: thống kê, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp so sánh, phương
pháp chuyên gia.
CHƯƠNG I
KINH TẾ NHÀ NƯỚC VỚI VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM KINH TẾ CHO QUỐC
PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
I.1. Vai trò và thành tựu của kinh tế nhà nước đối với việc bảo đảm kinh tế
cho quốc phòng ở việt nam hiện nay
I.1.1. kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó đối với nền
kinh tế ở nước ta
Đặc điểm cơ bản của nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể tiểu
chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước. Các thành phần kinh tế ấy tác
động tương hỗ, đan quyện vào nhau, hợp tác liên doanh, liên kết với nhiều hình
thức ngày càng mở rộng và đa dạng, được định hướng bằng kế hoạch, chính sách
của Nhà nước và chịu sự tác động của các quy luật và quan hệ kinh tế thị trường,

dùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội ?”(10).
Điều Bác dạy cho chúng ta thấy rõ, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
nếu chỉ tập trung xây dựng kinh tế nhà nước chủ yếu theo chiều rộng, nặng về mặt
chính trị, xã hội, không chú ý đúng mức đến hiệu quả kinh tế, duy trì sự hoạt động
của nó bằng bất cứ “giá” nào, đã đem lại hậu qua nặng nề buộc chúng ta phải trả
giá. Thực tiễn lịch sử thời gian qua đòi hỏi chúng ta nghiêm khắc xem xét, điều
chỉnh lại cơ cấu, quy mô, cách làm ăn của kinh tế nhà nước cho phù hợp. Nói cách
khác, chúng ta phải quan niệm lại, nhận thức lại một cách đúng đắn hơn, đầy đủ
hơn, hợp với thực tiễn của đất nước về kinh tế nhà nước.
Trước đây, chúng ta dùng khái niệm kinh tế quốc doanh để chỉ bộ phận kinh
tế do Nhà nước trực tiếp quản lý, kinh doanh. Về mặt sở hữu, kinh tế quốc doanh
là sở hữu toàn dân biểu hiện ở 100% vốn của Nhà nước dưới hình thức các cơ sở
kinh tế quốc doanh: nhà máy, hầm mỏ, nông, lâm trường, xí nghiệp... trên ý nghĩa
đó, kinh tế quốc doanh chỉ bao gồm các doanh nghiệp nhà nước. Trong luận án
những chỗ chúng tôi dùng khái niệm “Kinh tế nhà nước”. Kinh tế nhà nước là khu
vực kinh tế do Nhà nước làm chủ sở hữu, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, đất
đai, tài nguyên, khoáng sản, kết cấu hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng, ngân
hàng nhà nước, dự trữ quốc gia, hệ thống bảo hiểm nhà nước... Trong đó các doanh
nghiệp nhà nước là bộ phận cấu thành quan trọng nhất.


Như vậy, kinh tế nhà nước bao gồm toàn bộ “Tài sản và vốn thuộc sở hữu nhà
nước được sử dụng dưới nhiều hình thức, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế cao, vừa
tăng cường khả năng thúc đẩy và kiểm soát trực tiếp của Nhà nước đối với các hoạt
động kinh tế, như: đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước (gồm những doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước hay nhà nước nắm một tỷ lệ cổ phần đủ sức khống
chế); giao quyền sử dụng lâu dài (đất đai, rừng...); cho thuê, tô nhượng (hầm mỏ),
liên doanh; góp cổ phần, mua cổ phiếu của các doanh nghiệp thuộc những thành
phần khác”(88).

doanh ở nước ta đã có một năng lực đáng kể. Theo số liệu thống kê ngày 1.1.1990
trong toàn quốc có 12.084 xí nghiệp quốc doanh, trong đó 1.695 xí nghiệp do
Trung ương quản lý và hơn 10.380 xí nghiệp nằn ở các địa phương. Qua nhiều lần
thay đổi sắp xếp, đến nay cả nước còn 6.127 doanh nghiệp (69).
Kinh tế nhà nước là điều kiện , là cơ sở đảm bảo những cân đối chủ yếu cho
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kinh tế nhà nước nắm gần như toàn bộ ngành công
nghiệp năng lương, khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, sản xuất xi măng, phân
bốn, thuốc trừ sâu và công nghiệp quốc phòng. Theo đánh giá của Nghị quyết số
10- NQ/TƯ của Bộ chính trị (ngày 17/3/1995), các doanh nghiệp nhà nước chiếm
85% tài sản cố định trong công nghiệp, 100% các mỏ khoáng sản lớn, 83% diện
tích cây công nghiệp dài ngày, có những địa điểm kinh doanh thương nghiệp và
dịch vụ thuận lợi và hơn 90% lao động được đào tạo. Trong sản xuất hàng tiêu
dùng, công nghiệp quốc doanh cũng giữ vai trò trong một số mặt hàng quan trọng:
70% may mặc, 85% giấy, 70% xe đạp; 60% xà phòng, 100% thuốc tân dược (49).
Trong xây dựng cơ bản, kinh tế nhà nước đảm nhận hầu hết các công trình trên hạn
ngạch và công trình quan trọng quyết định triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế
quốc dân. Trong giao thông vận tải, kinh tế nhà nước đảm nhận những tuyết dài
như vận tải Bắc-Nam, vận tải đối ngoại. Do vậy, độ dài của vận tải quốc doanh đã
gấp 10 lần so với vận tải của các thành phần kinh tế khác. Trong lưu thông phân
phối, thương nghiệp quốc doanh thực sự có vai trò to lớn trong việc cung cấp và
bình ổn giá cả thị trường đối với những vật tư, hàng hoá thiết yếu như xăngdầu, sắt
thép, phân bón, thuốc trừ sâu, xi măng và nhất là gạo. Bên cạnh đó, những bộ phận
những ngành có tầm quan trọng đặc biệt như đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bưu
điện, kho bạc, ngân hàng... đều trong tay nhà nước và chúng đã có vai trò to lớn
trong việc giữ các huyết mạch kinh tế, là công cụ điều tiết có hiệu quả xã hội và
nền kinh tế nước nhà.
Với sức mạnh của mình, kinh tế nhà nước là nòng cốt trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở đường, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác
phát triển có hiệu quả, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của toàn bộ nền
kinh tế. Kinh tế nhà nước cũng là lực lượng chủ yếu cung cấp tài chính cho ngân

I.1.2. Vai trò và thành tựu của kinh tế nhà nước trong chiến tranh giải
phóng và trong bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta hiện nay


Kinh tế Nhà nước không chỉ có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển
kinh tế của đất nước, mà còn có vai trò vô cùng to lớn trong việc cung cấp nhân,
tài, vật lực cho quốc phòng, cho hoạt động của lực lượng vũ trang.
Trước đây ở nước ta trong nền kinh tế kế hoạch tập trung chủ yếu chỉ có hai
thành phần kinh tế (quốc doanh và tập thể) tương ứng với hai hình thức sở hữu
(toàn dân và tập thể), thu nhập quốc dân, sự tăng trưởng về kinh tế của đất nước
cũng như việc huy động cơ sở vật chất (phần trong nước) cho chiến tranh, cho
quốc phòng chủ yếu dựa vào nền kinh tế thuần nhất đó. Thời kỳ đó, đây là một lợi
thế để động viên sức người, sức của cho chiến tranh, cho sự nghiệp giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước. Nói cách khác, bảo đảm kinh tế cho
quốcphòngtrong chiến tranh giải phóng thực chất là huy động, là chuyển toàn bộ
đời sống kinh tế với hai thành phần kinh tế trên phục vụ cho chiến tranh. Thống kê
trong 8 năm chống Mỹ (1965-1972), chi phí của miền Bắc cho chiến tranh cao hơn
chống Pháp 40 lần. Hàng năm huyđộng: 20 vạn tấn gạo, 32 triệu mét vải, 10 vạn
tấn xăng dầu, 2-2,5 vạn tấn sắt thép, 4.000 chiếc ô tô, 2.500-3.000 xe xích. Riêng
năm 1968 chi phí quốc phòng chiếm 42% ngân sách nhà nước (14). Đó thực sự là
một nỗ lực phi thường, một thành tựu rực rỡ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta
trong việc động viên kinh tế cho chiến tranh, trong điều kiện nền kinh tế của nước
ta còn hết sức nghèo nàn lạc hậu.
Hiện nay, khi nguy cơ chiến tranh chưa trực tiếp đặt ra, việc tổ chức nền kinh
tế quân sự là nhằm đảm bảo kinh tế cho quốc phòng.
Bảo đảm kinh tế cho quốc phòng là tổng thể các quá trình và các biện pháp
kinh tế được Nhà nước tiến hành và sử dụng, nhằm thoả mãn các nhu cầu kinh tế
cho quốc phòng, phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nội dung bảo đảm kinh tế cho quốc phòng bao gồm các yếu tố sau: bảo đảm
về nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và nguồn lực tài chính. Do vậy, khi nói

tính chất hoạt động gần với các ngành nghề kinh tế quân sự như chế tạo máy, cơ
khí chính xác, giao thông vận tải, vật liệu nổ, chế biến lương thực, thực phẩm, may
mặc, y tế, tài chính, kế toán hay thông tin liên lạc, điện tử tin học v.v. Họ không
chỉ là người tham gia tích cực và có hiệu quả trong công tác và sản xuất quốc
phòng mà còn là những người có khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện,
khí tài quân sự. Khi cần bổ sung, huy động lực lượng cho hải quân, cho tác chiến
trên biển, đã có ngay đội ngũ các thuyển trưởng, thuyền viên, hoa tiêu, thợ máy
dạn dày sóng gió, thông thạo luồng lạch của các đội thương thuyền , các cơ sở
đánh bắt hải sản. Các công nhân lái xe, lái máy, các phi công dân sự chính là
nguồn dự trữ chiến đấu, máy bay chiến đấu, các phương tiện vận tải bảo đảm cơ
động cho bộ đội và khí tài quân sự. Đối với thông tin liên lạc , bao gồm có cả


phương tiện và con người chính là bộ phận thường xuyên nhất, có hiệu quả nhất
phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế , xã hội cũng như quốc phòng ở
nước ta.
Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ có sức thuyết phục về vai trò, khả năng bảo đảm
nhân lực - đặc biệt là nhân lực có “chất xám”, có trình độ kỹ thuật, chuyên môn
của nền kinh tế nhà nước phục vụ cho sản xuất quốc phòng cũng như khai thác, sử
dụng các phương tiện kỹ thuật chiến đấu. Tất cả những điều đó nói lên rằng, kinh
tế nhà nước là khu vực có nhiều tiềm năng, thế mạnh và có đủ điều kiện nhất để
thực hiện các nội dung trên.
Khi bàn đến khả năng to lớn thường xuyên của kinh tế nhà nước bảo đảm
nhân lực quốc phòng, không thể không nói đến nguồn nhân lực của nó (tuy không
lớn) có khả năng bổ sung cho lực lượng vũ trang thông qua thực hiện nghĩa vụ
quân sự. Ngoài những yêu cầu về mặt chuyên môn, kỹ thuật vừa được đề cập ở
trên, họ còn có một thế mạnh rất quan trọng khác về tính chất nghề nghiệp quân
sự. Những người này khi còn công tác, làm việc ở các cơ sở kinh tế nhà nước vốn
đã quen với nếp sống kỷ luật, làm việc khoa học với yêu cầu cao; thường được tiếp
xúc với các tri thức quân sự và luyện tập quân sự. Họ không chỉ là những người

với sự phát triển của sức sản xuất và năng lực quản lý kinh tế, phù hợp với sự phát
triển hài hoà chung với các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật và các
nhân tố khác. Chỉ như vậy mới có được một nền kinh tế với cơ cấu hợp lý, có sức
sống vươn lên mạnh mẽ và ngày càng tạo ra nhiều của cải cho xã hội, trên cơ sở đó
tạo lên sức mạnh kinh tế quân sự cho nước nhà. Tuy nhiên muốn tăng tiềm lực
kinh tế quân sự, không chỉ xác định phương hướng phát triển kinh tế, tổ chức lại
nền kinh tế, phát triển sản xuất mà cần phải biết kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Do đó, vấn đề đặt ra là: “Trong mỗi sáng kiến mới về kinh tế, văn hoá, ... bao giờ
cũng cần đặt câu hỏi: kết quả của sáng kiến ấy sẽ phù hợp đến mức nào ở đây cũng
bảo đảm thực hiện những nhiệm vụ quân sự nhất định mà không gây tổn hại cho
các thời bình” (65). Rõ ràng chỉ có kinh tế nhà nước với chủ sở hữu là Nhà nước
xã hội chủ nghĩa mới có thể tạo ra chính sách kinh tế và chiến lược phát triển kinh
tế có sự kết hơp tối ưu các yêu cầu dân sự lẫn yêu cầu quốc phòng của xã hội. Nói
các khác, chỉ có kinh tế nhà nước mới có khả năng tối đa cho việc đáp ứng sự kết
hợp hài hoà giữa hai yêu cầu đó. Bảo đảm cơ sở vật chất cho hoạt động của quốc
phòng bao gồm nhiều vấn đề, trong đó nổi bật nhất là việc kinh tế nhà nước thực
hiện thường xuyên đáp ứng các nhu cầu ngày càng phát triển về vũ khí trang bị và
các phương tiện khí tài phục vụ cho quốc phòng. Trong nền kinh tế thị trường,
nguồn cung cấp các loại trang bị trên có thể được mua sắm từ các thành phần kinh


tế khác và từ nước ngoài. Tuy nhiên phần trong nước, cho đến nay duy nhất chỉ có
nền kinh tế nhà nước là nơi được phép độc quyền thực hiện nhiệm vụ đó. Kinh tế
nhà nước với một bộ phận đặc biệt của mình là các xí nghiệp quốc phòng chính là
nơi đã và đang cung cấp và bảo dưỡng các loại vũ khí thông thường, đạn dược , vật
liệu nổ, khí tài thông tin.v.v. cho các hoạt động của các lực lượng vũ trang. Kinh tế
nhà nước với khả năng của mình, là nơi có thể phát huy tiềm lực nghiên cứu và sản
xuất chế tạo các phương tiện chiến đấu mới cho bộ đôị, đáp ứng ngày càng tốt hơn
các yêu cầu về tính năng kỹ thuật, cách đánh và con người Việt Nam.
Bên cạnh đó, kinh tế nhà nước đang là nơi nắm giữ các huyết mạch kinh tế,

cao sức mạnh phòng thủ đất nước. Điều đó được thể hiểu rõ nét qua khả năng tăng
cường chi phí hợp lý ngân sách quốc phòng, xây dựng, củng cố các khu vực phòng
thủ, các điểm phòng thủ, tạo ra thế trận mới không chỉ ở nội địa mà ở cả tầm vươn
xa hơn; cũng như khả năng ưu tiên của các nguyên, nhiên, vật liệu thiết yếu cho
sản xuất các mặt hàng quân sự.
Kinh tế nhà nước còn là bộ phận duy nhất có đủ khả năng phát triển ở vùng
cao, vùng sâu, biên giới và hải đảo, góp phần hình thành các khu vực phòng thủ và
thế bố trí chiến lược mới của nền quốc phòng toàn dân. Như vậy, hoạt động của
kinh tế nhà nước lúc này đã được vật chất hoá góp phần nâng cao sức mạnh quốc
phòng. Đây là những nơi xa xôi hẻo lánh khó thu hút lao động lành nghề, mở rộng
vốn, đi lại khó khăn, ảnh hưởng đến tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm. Đây cũng là nơi
xa các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá gây trở ngại cho việc liên doanh, liên
kết và là nơi còn nhiều khó khăn trong nâng cao đời sống và giải quyết các vấn đề
khác. Ở đây, thường là nơi đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn nhưng lại khó thu hồi vốn.
Với vai trò của mình, kinh tế nhà nước phải mở đường xây dựng các cơ sở hạ tầng
như bệnh viện, trường học, đường điện, đường giao thông, bưu chính viễn thông,
thị trấn, thị tứ để tạo ra các trung tâm kinh tế, văn hóa, hình t hành môi trường kinh
doanh thuận lợi, tạo đà thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Chỉ như vậy mới
cho phép xoá dần nghèo nàn lạc hậu và sự cách biệt giữa miền ngược với miền
xuôi, giữa đồng bằng với miền núi và hải đảo. Sự có mặc của đơn vị nhà nước còn
có ý nghĩa khẳng định chủ quyền lãnh thổ lãnh hải của Tổ quốc do việc phân bố lại
dân cư và lao động trong cả nước. Tại đây đang báo hiệu một sự phát triển nhanh
chóng trong tương lai, khi có sẵn một lực lượng lao động khỏe, trẻ, dũng cảm
nhiệt tình và được sự quan tâm đầu tư đúng mức. Đó cũng chính là lực lượng bảo
đảm an ninh - quốc phòng tại chỗ cho thời bình và cho chiến tranh. Việc mở thêm
các vùng kinh tế mới đó, vừa thể hiện sự quan tâm nhất quán của Đảng và Nhà


nước, vừa thực sự tạo lòng tin yêu gắn bó của đồng bào các vùng dân tộc miền núi,
hải đảo với Tổ quốc với chế độ để họ thực sự trở thành “phên dậu” của nước nhà.


Có thể nói, mỗi một quốc gia đều có một c hiến lược, một phương thức bảo
đảm kinh tế cho quốc phòng khác nhau. Sự khác nhau đó là do phương thức sản
xuất, do khả năng kinh tế, chiến lược quân sự, cơ cấu tổ chức lực lượng vũ trang
của mỗi nước quy định. Điểm chung nhất của các nước trên thế giới là hoạt động
bảo đảm kinh tế cho quốc phòng được tiến hành trên cơ sở ngân sách quốc phòng
và được tổ chức trực tiếp thông quan nền sản xuất quân sự, các tổ hợp kinh tế quân
sự mà nòng cốt là các cơ sở kinh tế thuộc nhà nước quản lý.
Ở Liên Xô trước đây, khu vực sản xuất quốc phòng mang hai đặc điểm cơ
bản:
+ Là khu vực riêng, tách biệt nền kinh tế quốc dân, độc quyền chế tạo vũ khí
trang bị theo mệnh lệnh từ trên xuống.
+ Vừa sản xuất hàng hoá quân sự, vừa sản xuất hàng dân dụng.
Ngoài ra, khi cần có thể chuyển các dây chuyền sản xuất hàng dân dụng trong
khu vực này (cũng như từ khu vực sản xuất hàng dân dụng nói chung) sang đáp
ứng các nhu cầu quân sự và ngược lại. Đây là khu vực được sự chỉ đạo, giám sát
chặt chẽ và trực tiếp từ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xôviết, bao gồm hai hệ thống RD (nghiên cứu và phát triển - các viện) và các cơ sở
sản xuất (thuộc Bộ công nghiệp quốc phòng) tương đối độc lập với nhau.
Thực tế chỉ ra rằng, với mô hình này trong suốt lịch sử tồn tại của mình, Liên
xô đã vượt qua được những thử thách ác liệt: bảo đảm yêu cầu đẩy nhanh tốc độ
hiện đại hoá quân đội và hạm đội trong những năm 1930; về bom nguyên tử trong
những năm 1940; về công nghệ tên lửa đạn đạo trong những năm 1950-1960 và
đặc biệt trong những năm 1965-1975 đã cho phép họ thực hiện một chương trình
hiện đại hoá nền quốc phòng nhanh chóng và thu nhiều kết quả rực rỡ. Liên Xô,
cùng với tính ưu việt của chế độ chính trị xã hội, sức mạnh của nền kinh tế, kinh tế
qu
ân sự và nền quốc phòng hùng hậu trong một thời gian dài đã là thành trì
của hệ thống xã hội chủ nghĩa, của các lực lượng hoà bình trên thế giới.
Do đặc điểm bao trùm Nhà nước công nông xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế
giới, từ khi ra đời phải do đối phó ngay với thù trong giặc ngoài nên hoạt động bảo

xa khác đã dẫn đến sự tan rã của Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô- viết vĩ
đại.
Tuy nhiên những thành công trong hoạt động đảm bảo kinh tế cho chiến tranh
và những sai lầm hạn chế do chậm thay đổi thích ứng với điều kiện mới của nền
sản xuất quốc phòng ở Liên Xô chính là những bài học quý giá để chúng ta chọn
lọc, rút kinh nghiệm, vận dụng trong quá trình tổ chức thực hiện ở nước ta.


Một điển hình khác vừa gần gũi về mặt địa lý vừa có nhiều ý nghĩa tham khảo
đối với nước ta là cách thức tổ chức chuẩn bị và đảm bảo kinh tế cho quốc phòng
của các nước thành viên ASEAN. Ở các nước nay, hoạt động bảo đảm kinh tế cho
các lực lượng vũ trang nổi lên ở một số dặc điểm sau:
1) Về nguồn thu cho quốc phòng
Giống như ở nhiều nước tư bản phương Tây và các nước thế giới thứ ba,
nguồn kinh tế - tài chính cho quốc phòng ở các nước Hiệp hội Đông nam Á
(ASEAN) phần lớn và chủ yếu thông qua ngân sách quân sự hàng năm của mỗi
nước. Nhìn chung, chi phí quốc phòng ở các nước này đều ở mức trung bình vừa
phải trong khả năng kinh tế cho phép (»3-4% GDP), không tạo ra khả năng kích
thích chạy đua vũ trang lớn và bảo đảm tính cân bằng ở mức độ nào đó giữa các
nước trong khu vực. Trên cơ sở ngân sách quốc phòng và chiến lược phòng thủ,
nhìn chung lực lượng vũ trang của các nước ASEAN đã có những tiềm lực đáng
kể. Xingapo và Thái lan đã xây dựng được cơ cấu và khả năng tác chiến thông
thường; Malaixia, Inđônêxia, Philipin đang chuyển từ một lực lượng quân sự
chuyên đối phó với các tranh chấp từ bên ngoài; Brunây đang tích cực tiến tới tự
chủ hơn trong xây dựng kinh tế quân sự, lực lượng quân sự.
Ngoài nguồn thu trên, cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, quân đội của
các nước ASEAN tạo thêm nguồn thu thông qua xuất khẩu vũ khí, chuyển giao
mua bán công nghệ quân sự, sản xuất các mặt hàng kinh tế dân sinh và thực hiện
các dịch vụ khác. Trong đó nổi bật là Xingapo và Malaixia được coi như những
nước tích cực tạo nên 1 trong 3 luồng chính xuất khẩu vũ khí trên thế giới.

Bộ nghiên cứu và công nghệ có nhiệm vụ đề xuất các chiến lược nghiên cứu,
phát triển và công nghệ, trong đó có chiến lược: “Tự làm một phần, mua một
phần” đồng thời là cơ quan quản lý, thực hiện và tổ chức thực hiện các chương
trình nghiên cứu, phát triển và công nghệ có liên quan đến quốc phòng.
Bộ công nghiệp có trách nhiệm quản lý 8 ngành công nghiệp chiến lược của
Inđônêxia, trong đó có 4 ngành liên quan trực tiếp đến sản xuất quốc phòng: công
nghiệp hàng không, hàng hải, vũ khí-đạn, vật liệu nổ. Ngoài ra, Bộ công nghiệp
còn có vai trò quan trọng mở rộng công nghiệp quốc phòng thông qua các cơ sở
liên doanh, liên kết của công nghiệp quốc phòng với nước ngoài để tận dụng công
nghệ tiên tiến.
Cùng với xu hướng phát triển nền kinh tế quân sự riêng của mỗi nước, hoạt
động bảo đảm kinh tế cho các lực lượng vũ trang ở các nước ASEAN về phần
trang bị vũ khí công nghệ cao còn được thực hiện thông qua việc mua bán với các
nước tư bản phát triển, Trung Quốc và SNG. Đây là một biện pháp có tác dụng tích


cực thúc đẩy công nghiệp quốc phòng ở các nước đó phát triển nhanh, đúng hướng,
đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá quân đội, đồng thời qua đó cho phép nền kinh tế các
nước thành viên của ASEAN có thêm một hướng để tiếp nhận công nghệ tiên tiến
trên thế giới.
Như vậy mỗi loại hình hoạt động đảm bảo kinh tế cho quốc phòng trên thế
giới đều có những ưu điểm nhất định của nó. Với phương thức thực hiện của các
nước ASAN có tác dụng rất rõ đối với nâng cao sức mạnh phòng thủ của các lực
lượng vũ trang và phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên cách thức này đã hạn chế
không nhỏ đến khả năng phát huy tính độc lập tự chủ; sức mạnh quốc phòng của
toàn dân, của cả nước và ở từng khu vực.
Đây cũng chính là vấn đế chúng ta cần nghiên cứu có chọn lọc để công tác
bảo đảm kinh tế cho quốc phòng ở nước ta thể hiện được tính ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa, thích ứng nhanh với cơ chế kinh tế thị trường, phù hợp với tư duy
mới về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới cũng như những đòi hỏi của nghệ thuật

lúc đó nhiều ngành nhiều lĩnh vực thiết yếu khác chỉ chiếm một tỷ lệ thấp chưa
tương xứng.
Về kỹ thuật, phần lớn các xí nghiệp quốc doanh đều có sự đầu tư không cân
đối và có sai lầm trong phương án lựa chọn. Máy móc trang thiết bị- điều mà Mác
đã chỉ ra: “Các thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái
gì mà ở chỗ chúng sản xuất như thế nào và bằng phương tiện gì”(1) của nước ta ở
trình độ thấp, lạc hậu so với thế giới và chỉ chiếm 26% giá trị tài sản cố định, còn
các bộ phận khác chiếm 74%, trong đó riêng nhà xưởng, vật kiến trúc đã chiếm tới
36%(48). Như vậy, bộ phận tư liệu sản xuất trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra
của cải vật chất cho xã hội chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số vốn đầu tư.
Sự mất cân đối trong tỷ lệ các yếu tố sản xuất cùng với yếu kém trong tổ chức
quản lý đã làm cho kinh tế nhà nước không phát huy được năng lực sản xuất của
nó. Điều đó đã gây nên một sự lãng phí rất lớn trong hoạt động kinh tế. Nhìn chung
khu vực kinh tế nhà nước chỉ mới huy động được 40-50% công suất thiết kế. Nếu
như các nhà máy thuỷ điện của ta đạt trình độ khá thì các nhà máy nhiệt điện rất
lạc hậu, hiệu suất nhiệt cao nhất không quá 27-29%. Cũng như thế, trong khi mức
tiên tiến về sản xuất xi măng của thế giới là tiêu thụ 720 kilôkalo/1kg clinke, năng
suất lao động là 5000 tấn/1người/1năm thì ở ta các chỉ số tương ứng của nhà máy
xi măng Hoàng Thạch là khoảng 1000 kilokalo và 450 tấn(83). Để sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm, kinh tế nhà nước tiêu tốn một lượng nguyên vật liệu cao hơn so
với các thành phần kinh tế khác, cao gấp 2-3 lần so với mức trung bình tiên tiến


của thế giới. Năng suất lao động thấp có nghĩa là hiệu quả kinh tế kém, gây nên sự
thua lỗ kéo dài.
Chỉ riêng công ty dệt Nam Định, một trong những lực lượng chủ yếu của
ngành dệt Việt Nam có bề dày 106 năm truyền thống, cho đến nay vẫn chưa tìm ra
được giải pháp thích hợp để thoát ra khỏi khủng hoảng. Năm 1994 lỗ 24 tỷ, 3
tháng, 4,5,6/95 lỗ 9,8 tỷ đồng, trong đó nợ ngân sách 31,6 tỷ. Hàng năm công ty
dệt Nam Định phải giành 43 tỷ đồng trả lãi cho ngân hàng(29). Điều đó trong kinh

sản phẩm quân sự không cho phép rút kinh nghiệm lần 2 khi sử dụng, như các
phương tiện khí tài chính xác, bom mìn, vật liệu nổ, v.v.. chỉ như vậy mới tạo được
yếu tố lòng tin cho người sử dụng, tiết kiệm xương máu và nâng cao hiệu xuất
chiến đấu trên chiến trường, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ quân sự đặt ra. Chất
lượng sản phẩm kém là nỗi đau của kinh tế nhà nước, nâng cao chất lượng sản
phẩm là đòi hỏi tất yếu của sản xuất kinh doanh và là yêu cầu bắt buộc nhằm phục
vụ cho quốc phòng.
Như vật, thực tiễn của nền kinh tế đất nước nói chung, kinh tế nhà nước nói
riêng vẫn còn là một bài toán khó ở nước ta để tăng nguồn thu cho ngân sách, bảo
đảm chi phí tối thiểu cho các nhu cầu hoạt động của các lực lượng vũ trang trong
bảo quản sửa chữa vũ khí, trang bị, trong huấn luyện và trong sẵn sàng chiến đấu.
1.2.2. Trình độ thấp kém của trang thiết bị kỹ thuật
Một trong những khó khăn, yếu kém quan trọng làm hạn chế đến năng lực sản
xuất và phát triển kinh tế, cũng như tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao cho
quốc phòng là trình độ công nghệ của kinh tế nhà nước phần nhiều còn lạc hậu, cũ
kỹ.
So với mặt bằng chung của trình độ hiện tại trong phạm vi khu vực và trên thế
giới, chất lượng trang thiết bị kỹ thuật của ta còn thua kém xa. Trong lĩnh vực công
nghiệp, trang thiết bị, công nghệ cũ của ta còn chiếm tới hơn 62%(72). Nếu như
nền công nghiệp thế giới đã phát triển qua 7 giai đoạn, thì ở ta còn ở giai đoạn sơ
khai I, II (85). Lấy ví dụ, ngành cơ khí của ta chỉ tương đưong với thời kỳ cách đây
30-50 năm của các nước trung bình trên thế giới, còn nếu so với các nước phát
triển cao thì đi sau 50-100 năm (85). Nếu ở Tổng cục Bưu điện với một thời gian
rất ngắn đã đưa vào khai thác các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại và rất hiện
đại: cáp quang, vệ tinh viễn thông, vi ba dải rộng..., thì ở nhiều ngành kinh tế khác
của chúng ta kỹ thuật còn lạc hậu từ 2-4 thế hệ so với thế giới. Bên cạnh một số
nhà máy, xí nghiệp chỉ sau 3-4 năm đã hoàn vốn và có lãi thì hầu hết các cơ sở
khác của kinh tế nhà nước phải hàng chục năm sau mới khấu hao xong. Chỉ tính
riêng giai đoạn từ 1975 đến 1990, trình độ đổi mới công nghệ các doanh nghiệp
nhà nước chỉ mới đạt bình quân 3% năm (72)

I.2.3. Quy mô tổ chức và trình độ cán bộ quản lý kinh tế nhà nước theo
kịp yêu cầu
Kinh tế nhà nước luôn mang ý nghĩa là mô hình của một phương cách làm ăn
mới, làm ăn lớn nhưng trên thực tế, phần nhiều còn tổ chức manh mún. Kinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status