TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
HÀ NỘI - 2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Người hướng dẫn khoa học
THẠC SỸ: NGUYỄN VĂN MỲ
HÀ NỘI - 2009
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................... 5
7. Đóp góp của Khóa luận ................................................................. 5
8. Bố cục của khóa luận ..................................................................... 5
NỘI DUNG ....................................................................................... 7
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ............................................................ 7
1.1. Lược khảo về hình ảnh người nông dân trong văn học Trung Quốc
thời kỳ phong kiến ............................................................................. 7
1.2. Một số khái niệm .......................................................................11
1.2.1. Hình tượng ..............................................................................11
1.2.2. Hình tượng nhân vật ...............................................................12
Chương 2: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ
TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN .............................................................14
2.1. Mảnh đất ươm mầm cho các tác phẩm của Lỗ Tấn viết về người
nông dân ...........................................................................................14
2.2. Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn Lỗ Tấn....17
2.2.1. Cuộc đời, số phận của những người nông dân .........................18
2.2.2. Một câu hỏi lớn không lời đáp ................................................28
2.2.3. Nghệ thuật khắc họa hình tượng người nông dân trong truyện
ngắn Lỗ Tấn .....................................................................................40
2.2.3.1. Nghệ thuật khắc họa ngoại hình nhân vật .............................40
2.2.3.2. Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật ...................................43
2.2.3.3. Nghệ thuật sáng tạo ngôn ngữ nhân vật ................................44
KẾT LUẬN ………………………………………………………. 52
nhà viết kịch sáng tạo, một nhà phê bình nổi tiếng. Ông xứng đáng được xem là một
hiện tượng văn hoá Trung Quốc, một con người khổng lồ không chỉ của một thời đại.
Trong tất cả các thể loại sáng tác thì truyện ngắn của Lỗ Tấn được coi như tiêu
biểu và đặc sắc hơn cả. Truyện ngắn là một bộ phận khá quan trọng, trong đó chứa
đựng những tư tưởng, tâm huyết của nhà văn. Bằng thực tiễn sáng tác của mình, Lỗ
Tấn đã nêu lên một chân lý: Giá trị của một nhà văn không phải ở chỗ sáng tác nhiều
hay ít, sinh mệnh của một tác phẩm không phải ở chỗ đề cập đến những chủ trương
trước mắt hay lâu dài. Vấn đề cơ bản vẫn là sự thống nhất giữa nội dung sâu sắc và
nghệ thuật điêu luyện. Sự kết hợp thành công giữa nội dung và hình thức là một trong
những yêu cầu quan trọng đối với một tác phẩm có giá trị. Điều đó sẽ làm cho tác
phẩm có sức sống bền lâu và truyện ngắn của Lỗ Tấn thực sự đã có được sức sống bền
lâu trong lòng độc giả và đọng lại những âm vang không bao giờ ngưng.
Truyện ngắn của Lỗ Tấn có sức lôi cuốn kỳ diệu với độc giả không chỉ trong
nước mà còn trên thế giới. Ở Việt Nam, Lỗ Tấn là một trong số tác giả văn học nước
ngoài được nhiều người biết đến. Một số truyện ngắn của ông đã được lựa chọn và đưa
vào giảng dạy ở chương trình phổ thông. Điều đó chứng tỏ bóng dáng của nhà văn
cách mạng vĩ đại này có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với văn học Việt Nam. Do đó việc
học tập, tìm hiểu Lỗ Tấn cũng như bước đầu tìm hiểu vấn đề giảng dạy tác phẩm Lỗ
Tẫn trong trường phổ thông sẽ giúp cho người làm khoá luận có những thuận lợi cho
việc giảng dạy văn học nước ngoài sau này. Đồng thời có được cái nhìn đúng đắn về
tài năng của nhà viết truyện ngắn tài ba, cùng cái nhìn sâu sắc về xã hội Trung Quốc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lỗ Tấn được xem là nhân vật khổng lồ của văn hoá Trung Hoa hiện đại. Nghiên
cứu Lỗ Tấn là một đề tài thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu văn học, các nhà chính
trị, các nhà văn của Trung Quốc và thế giới. Đi sâu nghiên cứu về tác phẩm của Lỗ
Tấn, vấn đề về người nông dân lại được giới nghiên cứu phê bình chú ý đắc biệt. Hình
tượng người nông dân trong truyện ngắn Lỗ Tấn đã trở thành một đề tài thú vị thu hút
nhiều nhà nghiên cứu.
Ở Việt Nam, nghiên cứu Lỗ Tấn nói chung và người nông dân trong truyện ngắn
của ông nói riêng không thể không kể đến giáo sư Lương Duy Thứ với các công trình:
Lỗ Tấn phân tích tác phẩm, Mấy vấn đề về thi pháp Lỗ Tấn và việc giảng dạy Lỗ Tấn
trong trường phổ thông, Lỗ Tấn tác phẩm và tư liệu. Trong các công trình nghiên cứu
của mình, Lương Duy Thứ đã có những đánh giá rất sắc nét về vấn đề người nông dân
và cách mạng trong văn chương Lỗ Tấn. Tác giả Phương Lựu trong cuốn Lỗ Tấn nhà
lý luận văn học, nhìn các truyện ngắn viết về người nông dân dưới ánh sáng lý luận, là
một trong những minh chứng cho các luận điểm về lý luận văn học của Lỗ Tấn.
Trong giáo trình Lịch sử văn học Trung Quốc tập 2 của Nguyễn Khắc Phi Lương Duy Thứ, NXBGD 1998 cũng đề cập đến các truyện ngắn viết về người nông
dân với tư cách là một dẫn chứng sâu sắc nhất, thuyết phục nhất cho nội dung tuyên
chiến chống phong kiến trong các sáng tác của Lỗ Tấn.
Ngoài ra, còn có một đội ngũ các dịch giả, các nhà nghiên cứu phê bình các tác
phẩm của Lỗ Tấn với những tên tuổi như Phan Khôi, Trương Chính, Phạm Tú Châu,
Lê Nguyên Cẩn, Trần Lê Bảo... Trong các công trình nghiên cứu của mình, vấn đề
người nông dân được các tác giả nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, song đều khẳng
định rằng đây là một vấn đề trung tâm trong sáng tác của Lỗ Tấn.
Thấy được ý nghĩa quan trọng của những sáng tác về hình tượng người nông
dân, chúng tôi chọn đề tài: Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn
Lỗ Tấn, với mong muốn tìm hiểu, khám phá những ý nghĩa sâu sắc mà Lỗ Tấn gửi
gắm trong đó, cùng sự nhìn nhận mới khi dạy truyện ngắn Lỗ Tấn. Đồng thời chúng tôi
mong muốn rằng vấn đề người nông dân cùng những tư tưởng mà Lỗ Tấn gửi gắm sẽ
mãi được người Việt Nam chiêm nghiệm ở bất kỳ thời điểm nào.
3. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn Lỗ
Tấn, mục đích mà người nghiên cứu muốn hướng tới là những tư tưởng lớn lao mà Lỗ
Tấn gửi gắm qua hình tượng người nông dân. Đồng thời cũng thấy rằng vần đề người
nông dân mà Lỗ Tấn đặt ra mang ý nghĩa xuyên suốt theo chiều dài của lịch sử và
ảnh hưởng đặc biệt sâu sắc đến Việt Nam.
KẾT LUẬN.
Phụ lục: Vấn đề giảng dạy tác phẩm Lỗ Tấn trong trường Phổ thông.
NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Lược khảo về hình ảnh người nông dân trong văn học Trung Quốc thời
phong kiến
Vấn đề người nông dân là một trong những vấn đề trung tâm không chỉ của văn
học Trung Quốc mà còn là vấn đề chủ yếu của văn học trên thế giới. Là một lực lượng
không thể thiếu được trong xã hội, người nông dân luôn luôn chiếm một vị trí rất quan
trọng. Đặc biệt hơn đối với những nước có nền văn minh nông nghiệp lúa nước thì
người nông dân chiếm một vị trí quan trọng hơn bao giờ hết. Bởi vậy, trong văn học
lực lượng ấy không thể vắng bóng. Vấn đề người nông dân luôn được đề cập đến trong
các giai đoạn phát triển của lịch sử văn học Trung Quốc.
Trung Quốc là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Nền văn minh
của dân tộc Trung Hoa được hình thành và phát triển cũng không thể vắng bóng hình
ảnh của người nông dân. Trải qua lịch sử phát triển của văn học Trung Quốc ta có thể
thấy người nông dân luôn được các nhà văn lưu tâm một cách đặc biệt trong các tác
phẩm của mình. Ngay từ những tập thơ ca dân gian đầu tiên trong dòng chảy văn học
Trung Quốc, hình ảnh về người nông dân đã xuất hiện và là một sự ký thác, cho sự gửi
gắm tư tưởng của tác giả dân gian xưa.
Tác phẩm Kinh thi bên cạnh nội dung phản ánh tình yêu nam nữ tha thiết mặn
nồng, bên cạnh sự ngợi ca cuộc sống no đủ bình yên còn là hiện thực rộng lớn về đời
sống của người nông dân. Đó là chiến tranh, thuế khóa, áp bức bóc lột. Và không ai
khác nông dân chính là những người chịu nhiều đau khổ nhất. Kinh thi thực sự đã để
lại trong lòng người đọc nỗi xót thương trước tình cảnh cùng nỗi bất hạnh của người
nông dân. Tất cả những điều ấy đã thể hiện một cách chân thực và sinh động trong thơ
Quốc phong, một phần thơ Tiểu nhã, các bài: Đệ đồ, Thất nguyệt, Đông sơn, Kích cổ...
người nông dân lao động và số phận khổ đau của họ dường như bi thương hơn, thống
thiết hơn. Người nông dân trong thơ Đường vẫn là hình tượng trung tâm, là đối tượng
để các nhà thơ thông qua đó phản ánh về nhân tình thế thái.
Trong thơ Đường, điều khiến cho người đọc luôn day dứt, băn khoăn và không
bao giờ quên được chính là những vần thơ viết về sự khốn cùng của nông dân. Người
nông dân trong xã hội thời ấy vẫn đi tìm cho mình một câu hỏi về sự bất hạnh của họ,
về những điều mà họ phải gánh chịu. Bức tranh hiện thực xã hội rộng lớn, trong đó có
hình ảnh người nông dân đã được các nhà thơ: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lý Thân, Bạch Cư
Dị... vẽ lên đầy sinh động và chân thực. Họ đã nói lên tiếng lòng, bày tỏ sự xót thương,
sự cảm thông cho số phận người nông dân bằng những vần thơ chứa đầy sự thống thiết
và bi ai. Trong số ấy Đỗ Phủ được người ta nhắc đến nhiều nhất khi viết về nỗi khổ
cực của người nông dân. Ông được coi là một nhà thơ hiện thực tiêu biểu và xuất sắc
nhất của thơ Đường. Nhà thơ ấy bằng cả tâm hồn, cả trái tim thương yêu, ông đã cúi
xuống những số phận bất hạnh trong xã hội. Mỗi bài thơ của Đỗ Phủ là một bức tranh
hiện thực phơi bày mẫu thuẫn xã hội, vạch trần những bất công. Trong các bài thơ:
Thạch Hào lại, Tân An lại, Binh xa hành, Thùy lão biệt, Vô gia biệt... Đỗ Phủ đã nêu
lên nỗi đau khổ tủi hờn của người nông dân, đồng thời là sự đồng cảm xót thương cho
những nỗi đau khổ của họ. Những bài thơ của ông cứ xoáy sâu, trở thành sức lay động
mạnh mẽ trong lòng người đọc. Một số bài thơ: Thạch Hào lại, Tân An lại, đã lên án
một cách trực tiếp hiện trạng xã hội lúc bấy giờ. Đó là tội ác của bọn quan lại, nguyên
nhân của gây nên các cuộc chiến tranh liên miên trên đất nước. Hình ảnh người nông
dân trong tình cảnh của họ hiện lên đầy xót xa, bi thương. Sự bất hạnh, nỗi đau khổ
không ngoại trừ một ai, không ngoại trừ bất cứ lứa tuổi nào. Ngay cả những người
trong tuổi đứng bóng xế chiều cũng phải mang nỗi đau khôn cùng. Điều ấy thể hiện
trong Thạch Hào lại, hay trong Tân An lại sự thực xã hội lại được phơi bày một cách
rõ ràng hơn, rộng lớn hơn, đau đớn xót xa hơn:
“Buổi chiều xuôi nước bạc
Tiếng khóc rộn non xanh
Người nông dân trong văn học Trung Quốc không còn là điều mới lạ. Cùng với dấu ấn
của thời gian và sự phát triển của văn chương thì hình tượng người nông dân vẫn như
một điểm sáng và được khắc họa thành hình tượng trung tâm của một số tác phẩm sau
đời Đường. Người nông dân đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong văn học Trung
Quốc không chỉ ở thời kỳ trung đại mà đến thời cận hiện đại nó càng được thể hiện rõ
nét hơn. Văn học hiện đại Trung Quốc đề cập đến hình tượng người nông dân mà Lỗ
Tấn chính là tác giả tiêu biểu và ngời sáng nhất.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Hình tượng
Hình tượng là một khái niệm khá phổ biến và quen thuộc đối với các ngành nghệ
thuật. Như một tiêu chí cho sự tồn tại, nghệ thuật không thể vắng bóng được hình
tượng. Nó chính là sức sống lâu bền nhất và có giá trị ý nghĩa nhất trong tất cả các
ngành nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật vì thế, có thể coi là điều cốt lõi và chủ yếu tất
của tất cả các loại hình nghệ thuật.
Có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về hình tượng. Theo từ điển tiếng việt
2006 do Hoàng Phê (chủ biên): “Hình tượng là sự phản ánh một cách khái quát bằng
nghệ thuật dưới hình thức những hình tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức
trực tiếp bằng cảm tính”. Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần
Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) NXBGD 2004 - Tr.147 thì định nghĩa:
“Hình tượng nghệ thuật chính là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng
tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật”.
Nhằm đem đến cho người đọc sự nhận thức sâu sắc về đời sống xã hội, văn
chương cũng dùng hình tượng nghệ thuật làm phương tiện thể hiện. Trong truyện ngắn
của mình Lỗ Tấn, đã xây dựng một hệ thống các hình tượng: Hình tượng con người,
hình tượng con đường, hình tượng cuộc sống ... Thông qua đó Lỗ Tấn muốn thể hiện
những nhận thức của mình về đời sống.
1.2.2. Hình tượng nhân vật
Theo từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc
Cuộc đời của Lỗ Tấn là cuộc đời của một con người, của một nhà văn từng
chứng kiến bao biến động thăng trầm, những chuyển biến trong lịch sử Trung Quốc.
Trong lịch sử Trung Quốc có thể coi đây là thời kỳ chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc
nhất về đời sống chính trị, về kinh tế và các lĩnh vực khác.
Cùng với sự phát triển, sự đi lên của nhân loại, Trung Quốc trong thời kỳ này
đang cựa mình lột bỏ tất cả những cái cũ kỹ và lạc hậu. Cả dân tộc Trung Hoa như
đang thoát thai, vươn mình tới một xã hội tốt đẹp hơn. Tồn tại trên đất nước này hàng
nghìn năm chế độ phong kiến đã gây ra bao tai vạ cho người dân, kìm hãm và buộc
chân sự phát triển của đất nước. Nó làm cho cả xã hội Trung Quốc phải chìm trong
những năm tăm tối và đau đớn. Và theo quy luật phát triển của nhân loại khi cái cũ
không còn phù hợp sẽ xuất hiện cái mới thay thế.
Trên thực tế, thời kỳ Lỗ Tấn sống và sáng tác Trung Quốc đang có sự chuyển
giao vĩ đại. Chế độ phong kiến đã suy tàn nhưng để lại nhiều hậu quả. Và một hình thái
xã hội mới xuất hiện nhưng còn non yếu. Do đó cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới
trở nên căng thẳng. Cuộc đấu tranh ấy tạo nên những vết thương trong lòng xã hội, gây
ra nhưng bi kịch cho dân tộc. Nhưng trong cuộc hành trình tiến đến những điều tốt đẹp
dân tộc Trung Hoa đã phải trải qua bao khó khăn, bao sóng gió. Lịch sử Trung Quốc
đã ghi nhận những sự kiện liên tiếp xảy ra trong một thời gian ngắn. Cách mạng Tân
Hợi (1911), sự ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga (1917), đặc biệt hơn là sự ra
đời của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (1921)...Tất cả những sự kiện này đã tác động
một cách sâu sắc đến đời sống xã hội Trung Hoa, đặc biệt là đối với nền văn học. Nó
ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến huynh hướng sáng tác của các nhà văn. Và đặc biệt
hơn là ta có thể tìm thấy trong sáng tác của nhà văn Lỗ Tấn.
Đối với quá trình sáng tác của mỗi nhà văn, dấu ấn tuổi thơ, quê hương thường
in hằn trong trái tim của họ để rồi chuyển thành những áng văn, thơ bất hủ: M.Gorki,
một nhà văn hiện thực Nga nổi tiếng, một con người phải chịu bao cay đắng trong cuộc
đời đã viết nên những tác phẩm in dấu tuổi thơ, quê hương và bao khoảnh khắc đắng
cay trong cuộc đời mà ông đã đi qua. Những tác phẩm: Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những
nhà bằng sắt không có cửa sổ”, ngột ngạt và bế tắc. Đồng thời Lỗ Tấn bằng cả tấm
lòng yêu thương bao la, sự cảm thông sâu sắc ông đã nhận ra những phẩm chất tốt đẹp
bên trong con người của họ.
Đời sống khổ cực của người nông dân mà ông từng chứng kiến như ngọn lửa
thôi thúc ông tìm đến con đường văn chương, tìm đến mong muốn và khát vọng cải tạo
xã hội. Từ con đường làm thuốc chữa bệnh về thể xác, Lỗ Tấn đã nhận thức được việc
chữa căn bệnh tinh thần còn quan trọng hơn. “Dân mà còn ngu muội hèn nhát thì dù
cho thân thể khỏe mạnh cường tráng đi chăng nữa, cũng có thể làm thứ người ta đưa ra
chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà
thôi. Còn ốm đau mà còn có phải chết đi ít nhiều thì chưa hẳn phải bất hạnh, cho nên
điều chúng ta làm trước hết phải biến đổi tinh thần của họ, tất nhiên không gì bằng văn
nghệ” ( Tựa viết lấy cho tập Gào thét).
Như vậy có thể thấy rằng, viết về người nông dân không phải là một đề tài hoàn
toàn mới đối với văn học hiện đại Trung Quốc. Nó mang tính chất truyền thống và
được tiếp nối trong dòng chảy của văn học. Và cũng thấy rằng hình tượng người nông
dân trong sáng tác của Lỗ Tấn cũng chính là sự tiếp nối, kế thừa và phát huy tính
truyền thống đã có trong văn học. Tuy nhiên bằng tất cả tâm huyết, sự trải nghiệm của
mình vấn đề người nông dân đã được Lỗ Tấn lý giải và am hiểu một cách sâu sắc hơn.
Lỗ Tấn nhìn người nông dân không chỉ ở một thời điểm một giai đoạn, mà ông nhìn
người nông dân trong cả chiều dài lịch sử. Do đó, vấn đề người nông dân trong sáng
tác của Lỗ Tấn mang tính chất rộng khắp, mang tính thời đại. Người ta tưởng chừng
như con mắt của Lỗ Tấn nhìn về người nông dân có thể xuyên thấu hàng nghìn năm
sau thời đại của ông. Nó vang vọng những dư âm không chỉ hôm nay, mà có lẽ còn mãi
đến mai sau. Viết về họ, Lỗ Tấn mong muốn họ thức tỉnh và đứng lên đấu tranh cho
quyền sống, quyền hạnh phúc của mình. Đó chính là điểm mới, là sự tiến bộ vượt bậc
của Lỗ Tấn so với văn học trong quá khứ khi viết về người nông dân.
2.2. Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn Lỗ Tấn
Hình ảnh người nông dân từ lâu đã ám ảnh và trở đi trở lại trong tâm khảm của
nhà văn Lỗ Tấn. Nó đã tạo nên sức sống bền lâu và sức âm vang trong những trang
ta nghĩ ngay đến những hủ tục, có lẽ đây là nguyên nhân sâu xa nhất, nặng nề nhất.
Chúng ta biết rằng lịch sử phong kiến Trung Quốc bốn nghìn năm là: “lịch sử ăn thịt
người”. Tồn tại lâu như vậy, chế độ phong kiến đã kìm kẹp con người ta, không cho
con người ta cái quyền được sống và được hưởng hạnh phúc. Bằng những chính sách
tàn bạo, chế độ phong kiến khiến cho người nông dân không ngóc đầu lên được, chỉ u
mê tăm tối trong “ngôi nhà hộp bằng sắt”. Họ bị nhấn chìm xuống đáy sâu của vực
thẳm, của sự bế tắc và cùng đường. Họ bị chế ngự bởi chính quyền, tộc quyền, nam
quyền và thần quyền. Những tư tưởng lạc hậu, mê tín dị đoan, nếp nghĩ lạc hậu cổ
hủ...đã len lỏi và trở thành mảng bám vững chắc trong tâm trí người nông dân. Nó đã
ăn sâu trong tư tưởng, trong tâm trí của họ thành một lối mòn dường như thật khó để
thay đổi. Và cuộc đời, số phận của những người nông dân như AQ, Nhuận Thổ, Chị Tư
Thiền, thím Tường Lâm... là sự minh chứng cho điều đó.
Một trong những tác phẩm để lại nhiều dấu ấn nhất trong lòng người đọc và để
lại nhiều nỗi trăn trở nhất về cuộc đời và số phận của người nông dân, đó là AQ chính
truyện. Trong đó hình tượng nhân vật AQ, nạn nhân của chế độ phong kiến, của những
hủ tục lạc hậu chính là sự kết tinh cho tư tưởng của Lỗ Tấn về người nông dân. Đọc
AQ chính truyện chúng ta có thể thấy rằng nếp sống phong kiến đã trở thành thứ cột
chống vững chắc bảo vệ tòa nhà phong kiến và thực sự nó đã xâm nhập vào trong
xương tủy của người nông dân, nạn nhân của tư tưởng phong kiến. Con người của AQ
là con người của làng Mùi u mê, tắm tối, chưa tìm được lối ra. Tính cách của AQ là sự
tập trung cao độ cho lối sống của người dân làng Mùi đã tồn tại và duy trì từ bao đời.
Gốc rễ của sự lạc hậu đã bám chặt trong đời sống của người nông dân. Cuộc sống trên
cái làng Mùi hẻo lánh và tăm tối, nơi sinh ra và là nguồn gốc của “chủ nghĩa AQ”
không có lấy một tia sáng của văn minh và tiến bộ. Đó là cuộc sống theo như nhận
định của AQ “một đời chúng nó chưa hề biết trên huyện người ta rán cá như thế nào
kia mà” [5,120], thì liệu tư tưởng của người dân có thông sáng được. Kết quả của cuộc
sống ấy chính là nếp sống lạc hậu và u mê. Trước việc AQ bị cụ cố họ Triệu bạt mấy
bạt tai, người nông dân làng Mùi bàn tán và theo họ nhất định AQ sai rồi “thì chả lẽ cụ
cả đẳng cấp trên cũng có, vì không tránh khỏi sự thất bại. Và vì vậy họ đều tìm ra sự an
ủi về mặt tinh thần. Những người nông dân do phương thức sống rời rạc và lạc hậu rất
dễ sa vào vòng mê hoặc. Cũng có lúc họ vùng dậy, thậm chí rất quyết liệt nhưng chưa
có tư tưởng tiền phong lãnh đạo, nên cuối cùng vẫn thất bại. Một bộ phận lạc hậu trong
họ cuối cùng rồi cũng đi tìm sự an ủi đầy tính ảo tưởng. Phép thắng lợi tinh thần do đó
mà nảy sinh, cho nên có thể nói những biểu hiện của phép thắng lợi tinh thần có ở mọi
nơi và mọi lúc trong xã hội cũ. Đặc biệt nó bám gốc rễ sâu sa trong lịch sử Trung
Quốc.
Tất cả những yếu tố đó trong lịch sử đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã cô
đọng lại khá đậm đặc. Xã hội phong kiến Trung Quốc đã phát triển đến tột độ và như
một tất yếu đang lao mình trên dốc suy vi. Bộ máy cai trị cũng như những hủ tục lễ
giáo rạn nứt khắp nơi. Nhưng cũng như ngọn đèn trước khi tắt bỗng nhiên vụt sáng.
Trước tình hình đó, bọn phong kiến càng lồng lộn, càng tìm mọi cách để tự an ủi, tự
mê muội về tinh thần. Tất cả những lý do lịch sử và thời đại khiến cho chủ nghĩa AQ
hoành hành trong bọn thống trị phong kiến Trung Quốc. Chủ nghĩa AQ của bọn thống
trị không những tự lừa mình mà còn đầu độc tầng lớp nhân dân lạc hậu vốn đã có mảnh
đất tốt cho chủ nghĩa AQ phát triển sinh sôi nảy nở, là mê tín dị đoan.
Rõ ràng ở đây người ta thấy rằng cuộc đời và số phận của AQ nói riêng và của
những người nông dân nói chung là sự ảnh hưởng nặng nề của lịch sử và thời đại. AQ
sinh ra trên mảnh đất làng Mùi mà chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm. Dòng
máu của tầng lớp bị trị, bị đầu độc bởi tầng lớp thống trị đã thấm và chảy trong huyết
quản của AQ. Một cá nhân nhỏ bé như nhân vật AQ, nơi kết tinh của thứ chủ nghĩa
bệnh trạng trong xã hội làm sao có thể tách ra khỏi cộng đồng và nếp sống đã ăn sâu.
AQ vẫn là một người nông dân làng Mùi, vẫn trong dòng chảy của nếp sống, nếp nghĩ
đã có từ bao đời nay. AQ luôn cho rằng chuyện nam nữ là xấu và tỏ ra khinh bỉ theo
quan niệm của Nho giáo, nhưng cũng nghĩ “đã là đàn ông phải có vợ, tuyệt tự rồi ai
cúng cơm cho”, phải có một người vợ “bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại” [5,132]. Và rồi
AQ đã quyết đi tìm cho mình một tình yêu để thực hiện điều mong muốn của mình.
thường....một mình ngậm ngùi với nỗi đau và nỗi bất hạnh của cuộc đời. Với giai cấp
thống trị tôn giáo đã trở thành thứ thuốc an thần ru ngủ nhằm trấn an người dân trong
kiếp sống nô lệ. Thím Tường Lâm hy vọng được sống trong cảnh “được làm nô lệ” để
được yên thân, nhưng nào có được. Những tư tưởng mê tín đã gây nên trong thím nỗi
sợ hãi vô cùng. Chỉ là khát vọng “được làm nô lệ” thôi mà nào cuộc đời có cho thím
thỏa mãn ước nguyện. Con người ấy suốt cả cuộc đời chưa hề có một sự phản kháng.
Câu hỏi cuối cùng “người chết rồi có còn linh hồn không?” [5,128] của thím mới chỉ là
sự hoài nghi chưa phải là sự phản kháng mặc dù hoài nghi là đầu mối của sự phản