Header Page 1 of 95.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
HÀ NỘI - 2009
Footer Page 1 of 95.
Header Page 2 of 95.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại học về đề tài: Hình tượng người
nông dân trong một số truyện ngắn Lỗ Tấn là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Footer Page 4 of 95.
Header Page 5 of 95.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................... 5
7. Đóp góp của Khóa luận ................................................................. 5
8. Bố cục của khóa luận ..................................................................... 5
NỘI DUNG ....................................................................................... 7
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ............................................................ 7
1.1. Lược khảo về hình ảnh người nông dân trong văn học Trung Quốc
thời kỳ phong kiến ............................................................................. 7
2.2. Khó khăn ...................................................................................60
3. Giáo án thực nghiệm .....................................................................60
THUỐC ............................................................................................62
A. Mục đích yêu cầu ..........................................................................62
B. Phương pháp, phương tiện ...........................................................62
C. Tiến trình dạy học ........................................................................63
D. Củng cố .......................................................................................71
E. Dặn dò...........................................................................................71
Footer Page 6 of 95.
Header Page 7 of 95.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lỗ Tấn, ngọn cờ của cuộc vận động văn hoá mới Trung Quốc, người mở đường
của phong trào văn nghệ, nhà văn, nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại. Cả đời, Lỗ Tấn
phấn đấu không ngừng nghỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cho đất nước giàu
mạnh, không ngừng phê phán văn hoá cũ, xây dựng văn hoá mới. Lỗ Tấn được nhắc
đến suốt trong quá trình hình thành và phát triển của nền văn học hiện đại Trung Quốc.
Bằng tài năng và tâm huyết của mình, Lỗ Tấn đã đóng góp cho nền văn học
Trung Quốc rất nhiều thành tựu. Ông sáng tác rất nhiều thể loại như: Truyện ngắn, thơ
cổ, thơ mới, kịch, tạp văn, khảo cứu, nghị luận, phê bình, dịch thuật... Mặc dù sáng tác
trên nhiều thể loại, nhưng thể loại nào cũng để lại dấu ấn đậm nét, cho thấy một cây
bút tạp văn tinh tế, một ngòi bút truyện ngắn cự phách, một hồn thơ ý vị đậm đà, một
nhà viết kịch sáng tạo, một nhà phê bình nổi tiếng. Ông xứng đáng được xem là một
hiện tượng văn hoá Trung Quốc, một con người khổng lồ không chỉ của một thời đại.
Trong tất cả các thể loại sáng tác thì truyện ngắn của Lỗ Tấn được coi như tiêu
biểu và đặc sắc hơn cả. Truyện ngắn là một bộ phận khá quan trọng, trong đó chứa
Lỗ Tấn không chỉ là nhà văn lớn mà còn là nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại.
Bóng dáng của ông không chỉ bao trùm lên văn đàn Trung Quốc thế kỷ XX mà còn âm
ỉ những “mạch ngầm ngàn dặm” cho mai sau. Là một nhà văn, ông là một cá tính sáng
tạo, vừa lạ vừa quen, vừa riêng vừa chung. Với tài năng và tâm huyết ông đã tìm cách
lôi hết bệnh tật “liệt căn tính quốc dân” góp phần giúp dân tộc cường tráng lên, sánh
vai với năm châu bốn biển. Nghiên cứu về Lỗ Tấn đã có hàng loạt các công trình.
Trong cuốn “Lỗ Tấn lịch sử nghiên cứu và hiện trạng”, tác giả Vương Phú Nhân đã tập
hợp các bài viết khảo sát, đánh giá việc nghiên cứu Lỗ Tấn qua các thời kỳ, trong đó
cũng có những bài viết đề cập đến vấn đề người nông dân trong truyện ngắn Lỗ Tấn.
Vượt qua giới hạn trong nước, việc nghiên cứu Lỗ Tấn và vấn đề người nông
dân trong truyện ngắn của ông cũng rất sôi nổi ở nước ngoài. Ở Nga, văn hào Pha - đê
- ep có nhận xét: “Lỗ Tấn là một nhà văn Trung Quốc một trăm phần trăm, ông đã
cống hiến cho nhân loại những hình thức dân tộc không thể bắt chước được”. Nhà
nghiên cứu văn học Anantatu của Inđônêxia thì nhận định rằng: “Lỗ Tấn là nhà văn
hiểu sâu sắc xã hội. Nhưng ông không dừng lại ở nhận thức xã hội mà còn ở chỗ ông
đã làm cho chúng ta nhận thức được tinh thần AQ của chúng ta, dẫn dắt chúng ta loại
trừ nó, hơn thế còn phải chỉ cho con cháu trên trái đất này hiện tại và cả trong tương lai
phải quyết tâm vĩnh viễn xoá sạch tinh thần AQ”. Những lời nhận xét đó là kết quả của
những quá trình nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng về Lỗ Tấn và người nông dân trong tác
phẩm của ông.
Footer Page 8 of 95.
Header Page 9 of 95.
“Lỗ Tấn đến Việt Nam tương đối muộn”, đó là lời của giáo sư Đặng Thai Mai,
người có công khai sơn phá thạch trong việc nghiên cứu, giới thiệu Lỗ Tấn và văn học
hiện đại Trung Quốc ở Việt Nam. Tuy nhiên, sự muộn mằn ấy lại không cản trở niềm
đam mê nghiên cứu về nhà văn cách mạng vĩ đại này. Niềm đam mê nghiên cứu Lỗ
mong muốn rằng vấn đề người nông dân cùng những tư tưởng mà Lỗ Tấn gửi gắm sẽ
mãi được người Việt Nam chiêm nghiệm ở bất kỳ thời điểm nào.
3. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn Lỗ
Tấn, mục đích mà người nghiên cứu muốn hướng tới là những tư tưởng lớn lao mà Lỗ
Tấn gửi gắm qua hình tượng người nông dân. Đồng thời cũng thấy rằng vần đề người
nông dân mà Lỗ Tấn đặt ra mang ý nghĩa xuyên suốt theo chiều dài của lịch sử và
ảnh hưởng đặc biệt sâu sắc đến Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là cần làm sáng tỏ hình tượng người nông dân
được đề cập trong một số truyện ngắn Lỗ Tấn. Để làm rõ đề tài này, người nghiên cứu
cần chỉ ra các khía cạnh: Những vấn đề chung; số phận cuộc đời của nhân vật; nghệ
thuật khắc hoạ hình tượng nhân vật
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng
Trong khoá luận này, đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu tìm hiểu là người nông
dân trong một số truyện ngắn Lỗ Tấn.
5.2 Phạm vi:
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đưa vào một số truyện ngắn trong hai tập Gào
thét ( 1918 - 1922 ) và Bàng Hoàng (1924 - 1925) của Lỗ Tấn mà nhân vật người nông
dân là nhân vật trung tâm cùng một số bài tạp văn thể hiện quan điểm của Lỗ Tấn về
người nông dân.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh, tổng hợp
7. Đóng góp của khoá luận
Qua việc nghiên cứu các vấn đề xoay quanh hình tượng người nông dân, tác giả
khoá luận muốn làm rõ những tư tưởng mà Lỗ Tấn gửi gắm thông qua cuộc đời và số
lực lượng ấy không thể vắng bóng. Vấn đề người nông dân luôn được đề cập đến trong
các giai đoạn phát triển của lịch sử văn học Trung Quốc.
Trung Quốc là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Nền văn minh
của dân tộc Trung Hoa được hình thành và phát triển cũng không thể vắng bóng hình
ảnh của người nông dân. Trải qua lịch sử phát triển của văn học Trung Quốc ta có thể
thấy người nông dân luôn được các nhà văn lưu tâm một cách đặc biệt trong các tác
phẩm của mình. Ngay từ những tập thơ ca dân gian đầu tiên trong dòng chảy văn học
Trung Quốc, hình ảnh về người nông dân đã xuất hiện và là một sự ký thác, cho sự gửi
gắm tư tưởng của tác giả dân gian xưa.
Tác phẩm Kinh thi bên cạnh nội dung phản ánh tình yêu nam nữ tha thiết mặn
nồng, bên cạnh sự ngợi ca cuộc sống no đủ bình yên còn là hiện thực rộng lớn về đời
sống của người nông dân. Đó là chiến tranh, thuế khóa, áp bức bóc lột. Và không ai
khác nông dân chính là những người chịu nhiều đau khổ nhất. Kinh thi thực sự đã để
lại trong lòng người đọc nỗi xót thương trước tình cảnh cùng nỗi bất hạnh của người
nông dân. Tất cả những điều ấy đã thể hiện một cách chân thực và sinh động trong thơ
Quốc phong, một phần thơ Tiểu nhã, các bài: Đệ đồ, Thất nguyệt, Đông sơn, Kích cổ...
Người nông dân trong xã hội ấy phải chịu bao nỗi khổ cực. Đó là chiến tranh, là sự
chia lìa của các cặp vợ chồng. Khói lửa binh đao làm bao gia đình phải ly tán, làng
xóm xác xơ, tiêu điều. Những người nông dân đặc biệt là những người phụ nữ phải
Footer Page 12 of 95.
Header Page 13 of 95.
chịu nỗi bất hạnh mà không biết kêu ai. Họ phải sống trong sự chờ mong khắc khoải.
Qua bài Đệ đồ hình ảnh của những nỗi niềm bất hạnh cứ xoáy sâu vào lòng độc giả:
“Có cây đỗ mọc lẻ loi
Vừa đơm những quả khắp nơi trên cành
Việc vua cẩn thận lo thành
nông dân trong xã hội thời ấy vẫn đi tìm cho mình một câu hỏi về sự bất hạnh của họ,
về những điều mà họ phải gánh chịu. Bức tranh hiện thực xã hội rộng lớn, trong đó có
hình ảnh người nông dân đã được các nhà thơ: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lý Thân, Bạch Cư
Dị... vẽ lên đầy sinh động và chân thực. Họ đã nói lên tiếng lòng, bày tỏ sự xót thương,
sự cảm thông cho số phận người nông dân bằng những vần thơ chứa đầy sự thống thiết
và bi ai. Trong số ấy Đỗ Phủ được người ta nhắc đến nhiều nhất khi viết về nỗi khổ
cực của người nông dân. Ông được coi là một nhà thơ hiện thực tiêu biểu và xuất sắc
nhất của thơ Đường. Nhà thơ ấy bằng cả tâm hồn, cả trái tim thương yêu, ông đã cúi
xuống những số phận bất hạnh trong xã hội. Mỗi bài thơ của Đỗ Phủ là một bức tranh
hiện thực phơi bày mẫu thuẫn xã hội, vạch trần những bất công. Trong các bài thơ:
Thạch Hào lại, Tân An lại, Binh xa hành, Thùy lão biệt, Vô gia biệt... Đỗ Phủ đã nêu
lên nỗi đau khổ tủi hờn của người nông dân, đồng thời là sự đồng cảm xót thương cho
những nỗi đau khổ của họ. Những bài thơ của ông cứ xoáy sâu, trở thành sức lay động
mạnh mẽ trong lòng người đọc. Một số bài thơ: Thạch Hào lại, Tân An lại, đã lên án
một cách trực tiếp hiện trạng xã hội lúc bấy giờ. Đó là tội ác của bọn quan lại, nguyên
nhân của gây nên các cuộc chiến tranh liên miên trên đất nước. Hình ảnh người nông
dân trong tình cảnh của họ hiện lên đầy xót xa, bi thương. Sự bất hạnh, nỗi đau khổ
không ngoại trừ một ai, không ngoại trừ bất cứ lứa tuổi nào. Ngay cả những người
trong tuổi đứng bóng xế chiều cũng phải mang nỗi đau khôn cùng. Điều ấy thể hiện
trong Thạch Hào lại, hay trong Tân An lại sự thực xã hội lại được phơi bày một cách
rõ ràng hơn, rộng lớn hơn, đau đớn xót xa hơn:
“Buổi chiều xuôi nước bạc
Tiếng khóc rộn non xanh
Đừng cho đôi mắt ráo
Hãy mặc lệ long lanh
Mắt ráo trông xương trắng
Trời đất thảy vô tình”
(Tân An lại)
Bao nhiêu giọt nước mắt đã rớt xuống cuộc đời để khóc cho những nỗi đắng cay
một điểm sáng và được khắc họa thành hình tượng trung tâm của một số tác phẩm sau
đời Đường. Người nông dân đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong văn học Trung
Quốc không chỉ ở thời kỳ trung đại mà đến thời cận hiện đại nó càng được thể hiện rõ
nét hơn. Văn học hiện đại Trung Quốc đề cập đến hình tượng người nông dân mà Lỗ
Tấn chính là tác giả tiêu biểu và ngời sáng nhất.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Hình tượng
Hình tượng là một khái niệm khá phổ biến và quen thuộc đối với các ngành nghệ
thuật. Như một tiêu chí cho sự tồn tại, nghệ thuật không thể vắng bóng được hình
tượng. Nó chính là sức sống lâu bền nhất và có giá trị ý nghĩa nhất trong tất cả các
Footer Page 15 of 95.
Header Page 16 of 95.
ngành nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật vì thế, có thể coi là điều cốt lõi và chủ yếu tất
của tất cả các loại hình nghệ thuật.
Có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về hình tượng. Theo từ điển tiếng việt
2006 do Hoàng Phê (chủ biên): “Hình tượng là sự phản ánh một cách khái quát bằng
nghệ thuật dưới hình thức những hình tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức
trực tiếp bằng cảm tính”. Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần
Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) NXBGD 2004 - Tr.147 thì định nghĩa:
“Hình tượng nghệ thuật chính là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng
tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật”.
Nhằm đem đến cho người đọc sự nhận thức sâu sắc về đời sống xã hội, văn
chương cũng dùng hình tượng nghệ thuật làm phương tiện thể hiện. Trong truyện ngắn
của mình Lỗ Tấn, đã xây dựng một hệ thống các hình tượng: Hình tượng con người,
hình tượng con đường, hình tượng cuộc sống ... Thông qua đó Lỗ Tấn muốn thể hiện
những nhận thức của mình về đời sống.
Footer Page 17 of 95.
Header Page 18 of 95.
Chương 2:
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN LỖ TẤN
2.1. Mảnh đất ươm mầm cho các tác phẩm của Lỗ Tấn viết về người nông
dân
Cuộc đời của Lỗ Tấn là cuộc đời của một con người, của một nhà văn từng
chứng kiến bao biến động thăng trầm, những chuyển biến trong lịch sử Trung Quốc.
Trong lịch sử Trung Quốc có thể coi đây là thời kỳ chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc
nhất về đời sống chính trị, về kinh tế và các lĩnh vực khác.
Cùng với sự phát triển, sự đi lên của nhân loại, Trung Quốc trong thời kỳ này
đang cựa mình lột bỏ tất cả những cái cũ kỹ và lạc hậu. Cả dân tộc Trung Hoa như
đang thoát thai, vươn mình tới một xã hội tốt đẹp hơn. Tồn tại trên đất nước này hàng
nghìn năm chế độ phong kiến đã gây ra bao tai vạ cho người dân, kìm hãm và buộc
chân sự phát triển của đất nước. Nó làm cho cả xã hội Trung Quốc phải chìm trong
những năm tăm tối và đau đớn. Và theo quy luật phát triển của nhân loại khi cái cũ
không còn phù hợp sẽ xuất hiện cái mới thay thế.
Trên thực tế, thời kỳ Lỗ Tấn sống và sáng tác Trung Quốc đang có sự chuyển
giao vĩ đại. Chế độ phong kiến đã suy tàn nhưng để lại nhiều hậu quả. Và một hình thái
xã hội mới xuất hiện nhưng còn non yếu. Do đó cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới
trở nên căng thẳng. Cuộc đấu tranh ấy tạo nên những vết thương trong lòng xã hội, gây
ra nhưng bi kịch cho dân tộc. Nhưng trong cuộc hành trình tiến đến những điều tốt đẹp
dân tộc Trung Hoa đã phải trải qua bao khó khăn, bao sóng gió. Lịch sử Trung Quốc
đã ghi nhận những sự kiện liên tiếp xảy ra trong một thời gian ngắn. Cách mạng Tân
Hợi (1911), sự ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga (1917), đặc biệt hơn là sự ra
đời của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (1921)...Tất cả những sự kiện này đã tác động
hình thức truyện ngắn, lần lượt viết ra sự trụy lạc của cái gọi là xã hội thượng lưu và
nỗi bất hạnh của xã hội lớp dưới.” (Tựa tuyển tập bản tiếng Anh)
Cuộc đời của Lỗ Tấn cũng trải qua những năm tháng đầy sóng gió. Con đường
đi tìm chân lý cho cuộc đời, tìm lẽ sống cho chính mình cũng đầy gian nan và vất vả.
Vốn có ác cảm với lễ giáo phong kiến từ lúc bé qua sách vở, lớn lên mục kích cảnh đau
khổ của nhân dân, nhìn rõ con đường suy vong của đất nước, Lỗ Tấn căm ghét, nuôi
một tinh thần chống lại nó. Ông quyết tâm đi tìm “con đường khác, đi xứ khác, tìm
những con người khác”. Lỗ Tấn băn khoăn trăn trở trước vận mệnh của đất nước, trước
số phận của người nông dân. Lý tưởng mà Ông muốn tìm cho cuộc đời mình cũng
chính là những mong muốn mà ông muốn dành cho những người nông dân của quê
hương mình, cũng như những người nông dân trên đất nước Trung Quốc. Sống và gắn
Footer Page 19 of 95.
Header Page 20 of 95.
bó với người nông dân, ông đã nhận ra sự khiếm khuyết của họ - sự u mê trong “ngôi
nhà bằng sắt không có cửa sổ”, ngột ngạt và bế tắc. Đồng thời Lỗ Tấn bằng cả tấm
lòng yêu thương bao la, sự cảm thông sâu sắc ông đã nhận ra những phẩm chất tốt đẹp
bên trong con người của họ.
Đời sống khổ cực của người nông dân mà ông từng chứng kiến như ngọn lửa
thôi thúc ông tìm đến con đường văn chương, tìm đến mong muốn và khát vọng cải tạo
xã hội. Từ con đường làm thuốc chữa bệnh về thể xác, Lỗ Tấn đã nhận thức được việc
chữa căn bệnh tinh thần còn quan trọng hơn. “Dân mà còn ngu muội hèn nhát thì dù
cho thân thể khỏe mạnh cường tráng đi chăng nữa, cũng có thể làm thứ người ta đưa ra
chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà
thôi. Còn ốm đau mà còn có phải chết đi ít nhiều thì chưa hẳn phải bất hạnh, cho nên
điều chúng ta làm trước hết phải biến đổi tinh thần của họ, tất nhiên không gì bằng văn
nghệ” ( Tựa viết lấy cho tập Gào thét).
trong một số truyện ngắn của Lỗ Tấn như: AQ chính truyện, Lễ cầu phúc, Cố hương,
Ngày mai, Ly hôn.
2.2.1. Cuộc đời, số phận của những người nông dân
Sự tồn tại của xã hội phong kiến trên đất nước Trung Hoa hàng nghìn năm đã
gây ra bao hậu quả cho con người. Trong đó, người nông dân, nạn nhân của bất công
ngang trái, nạn nhân của những “bữa tiệc thịt người”, phải mang số phận thật bất hạnh.
Vấn nạn của sự áp bức bóc lột ở trong thời kỳ phong kiến đã kéo dài và ăn sâu trong
đời sống nhân dân đất nước Trung Hoa. Những số phận bất hạnh, sự đau khổ dường
như là điều thường tình trong cuộc đời. Ở đó con người lúc nào cũng nơm nớp đề
phòng, người với người là lang sói. Người nông dân trong bối cảnh đó phải sống một
cuộc sống cơ cực về vật chất, tăm tối về tinh thần, sống mà như không sống.
Nguyên nhân gây nên sự đau khổ trong cuộc sống của người nông dân không chỉ
là do tàn tích của hủ tục quá khứ mà còn do chính cuộc sống với những khó khăn và
ngang trái mang lại. Cuộc đời và số phận của mỗi con người như những chiếc thuyền
không người lái, nổi trôi trong dòng nước khổ đau. Dòng đời vẫn chảy và bao nhiêu
điều cay đắng tất cả vẫn phủ lên cuộc đời của họ. Đó là thực trạng và là tất cả những gì
đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trước sự chứng kiến của Lỗ Tấn. Chính vì vậy, trong
những trang văn viết về người nông dân, hiện thực xã hội và hiện thực về số phận
người nông dân đã được nhà văn phản ánh rất chân thực và sâu sắc. Hình ảnh người
nông dân khổ cực trong truyện ngắn của ông hiện lên vừa là nạn nhân của hủ tục quá
khứ vừa là nạn nhân của hiện tại.
Nói đến cuộc sống khổ cực của người nông dân dưới thời kỳ Lỗ Tấn sống người
ta nghĩ ngay đến những hủ tục, có lẽ đây là nguyên nhân sâu xa nhất, nặng nề nhất.
Footer Page 21 of 95.
Header Page 22 of 95.
Chúng ta biết rằng lịch sử phong kiến Trung Quốc bốn nghìn năm là: “lịch sử ăn thịt
Footer Page 22 of 95.
Header Page 23 of 95.
vẫn có cái thói hễ thấy ai có máu mặt thì người ta vẫn nghĩ: Đối với hạng người này thì
thà kính trọng họ một chút còn hơn là tỏ vẻ khinh bỉ”. [5,144]. Từ trước, người dân
làng Mùi vẫn luôn tỏ ra khinh bỉ AQ và không coi y như là một thành viên của làng.
Họ coi AQ như một thứ đồ chơi để chọc ghẹo và châm biếm. Thế nhưng khi thấy ruột
tượng của y nặng hơn, thấy y khác trước nhiều thì mọi chuyện đã khác “ngoài quán
rượu, trong tiệm trà cho đến dưới hiên đình, người ta chỉ trầm trồ dò la từng ấy chuyện.
Kết quả là AQ lại càng được người ta trọng vọng thêm” [5,145]. Một điều đau đớn và
xót xa là cái điều mà người nông dân làng Mùi quan tâm không phải là đến cuộc sống
của y, không phải là sự thay đổi trong tính cách của y mà lại chính là đồng tiền. Sự
thực ấy thật phũ phàng biết bao khi AQ lại là một thành viên của làng Mùi, mà không
được coi như một người trong làng. Thì ra con người ta, con người sống mãi trong sự
áp bức bóc lột của thuế khóa cũng bị đồng tiền làm cho lóa mắt và quên đi tình người.
Tính cách của AQ mặc dù rất phức tạp, nhưng đặc điểm mà người đọc nhận thấy
rõ nhất, đó là phép thắng lợi tinh thần. Việc tìm chiến thắng trong tưởng tượng lại cũng
chính là bi kịch, là số phận và là cuộc đời của AQ. Phép thắng lợi tinh thần không chỉ
nông dân lạc hậu mới có, mà rất phổ biến, có thể thấy ở những con người bị áp bức, bị
bóc lột chưa được thức tỉnh, lại càng có thể thấy ở bọn thống trị bóc lột tàn bạo. Vạch
trần tính chất tiêu cực trên con người AQ, Lỗ Tấn không những chỉ trích một cách đau
xót đối với nông dân lạc hậu mà còn tố cáo phong kiến thống trị. Thông qua một số
phận nhỏ nhoi trong cuộc đời như AQ, Lỗ Tấn muốn lên án chủ nghĩa AQ đang hoành
hành trong bọn thống trị và sự đầu độc của nó đối với nông dân. Phép thắng lợi tinh
thần không đơn thuần là một bệnh thời đại từ sau chiến tranh nha phiến trở đi, mà nó
được “hun đúc” nên bởi bao nhiêu trang lịch sử thê thảm trước đó. Nó gắn liền với xã
hội tư hữu phong kiến và chế độ đẳng cấp tôn pháp. Chính vì cái xã hội tư hữu đó mới
đẻ ra việc thắng lợi tinh thần. Vì không chỉ những đẳng cấp dưới “thắng lợi” mà ngay
đã có từ bao đời nay. AQ luôn cho rằng chuyện nam nữ là xấu và tỏ ra khinh bỉ theo
quan niệm của Nho giáo, nhưng cũng nghĩ “đã là đàn ông phải có vợ, tuyệt tự rồi ai
cúng cơm cho”, phải có một người vợ “bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại” [5,132]. Và rồi
AQ đã quyết đi tìm cho mình một tình yêu để thực hiện điều mong muốn của mình.
Nhưng AQ đã bị rơi vào một tấn bi kịch của tình yêu, trớ trêu thay tấn bi kịch đó lại do
chính lễ giáo phong kiến với những lễ nghi khắt khe, cũ kỹ tạo ra. Vú Ngò đã cho rằng
hành động của AQ là một hành động ghê tởm và để chứng tỏ cho sự trong sạch của
mình, người phụ nữ khốn khổ mê muội ấy đã tìm đến cái chết. Như vậy những ý nghĩ
theo những nghi lễ cũ kỹ, lạc hậu đã len lỏi ăn sâu trong tâm hồn của tất cả những
người dân làng Mùi.
Footer Page 24 of 95.
Header Page 25 of 95.
Xây dựng nhân vật AQ, Lỗ Tấn đã chỉ ra cái lừa người dối mình của người
Trung Quốc “Người Trung Quốc không dám nhìn thẳng vào mọi mặt, dùng dối trá và
lừa phỉnh để tạo cho mình một lối thoát diệu kỳ và tự cho đó là con đường đúng. Trên
con đường đó quốc dân tỏ rõ sự khiếp nhược lười biếng, xảo trá...càng ngày càng tự
mãn, tức là càng ngày càng sa đọa, nhưng lại cảm thấy ngày càng vinh quang” (
Trương mắt mà nhìn - Tập văn 57 ).
Bên cạnh AQ còn có biết bao con người khác cũng phải chìm đắm trong sự bất
hạnh. Những ngày tháng trong cuộc đời của họ là sự nối tiếp những bất hạnh triền
miên. Thế lực phong kiến, thế lực của thần quyền và tộc quyền chính là nguyên nhân
gây nên nỗi bất hạnh. Thím Tường Lâm trong Lễ cầu phúc là một con người phải chịu
những điều đó. Cuộc đời của người phụ nữ này là một chuỗi ngày lăn lóc đau đớn dưới
áp lực tàn khốc của lễ giáo phong kiến. Chính quyền, tộc quyền, nam quyền và thần
quyền là bốn sợi dây thòng lọng vô hình thắt cổ thím Tường Lâm, gây nên nỗi bất hạnh
triền miên trong cuộc đời thím, gây nên sự tự ti, sợ hãi trong tính cách của thím. Chế