Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao. - Pdf 27

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Cấu trúc đề tài
Chương 1: Giới thiệu về Nam Cao
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao
1.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
Chương 2: Hình tượng người nông dân trong
một số truyện ngắn Nam Cao
2.1. Người nông dân có cuộc sống đói rét, bóc lột
2.2. Người nông dân khát khao cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh thần
2.3. Những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông dân trong một số
truyện ngắn Nam Cao
3.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao
3.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nam Cao là cây bút tiêu biểu nhất của trào lưu văn học hiện thực
phê phán ở nước ta trong thời kỳ 1930 - 1945. Sáng tác của Nam Cao rất đa
dạng và phong phú nhưng ông đạt thành tựu hơn ở thể loại tiểu thuyết và
truyện ngắn. Ông được coi là một bậc thầy về truyện ngắn, một nhà nhân đạo

người nghiên cứu về tác phẩm của ông. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã
bàn về sáng tác của Nam Cao, nhưng mỗi công trình nghiên cứu chỉ dừng lại
ở một vấn đề nào đó trong hệ thống quan niệm và thực tiễn sáng tác của ông.
Chẳng hạn các công trình: Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Nguyễn
Hoành Khung, Nxb GD, H, 1973); Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
nhà văn (Nguyễn Đăng Mạnh, Nxb GD, H, 1996); Nam Cao, đời văn và tác
phẩm (Hà Minh Đức, Nxb VH, H, 1997); Nghĩ tiếp về Nam Cao (Nhiều tác
giả, Nxb Hội nhà văn, H, 1999); Nam Cao, về tác gia và tác phẩm (Nhiều tác
giả, Nxb GD, H, 1999); Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao (Trần Đăng Suyền,
Nxb KHXH, H, 2001).
Nhìn toàn bộ sự nghiệp văn học của Nam Cao, ta thấy những sáng tác
của ông trước Cách mạng tháng Tám phong phú hơn, có giá trị và chiếm vị trí
chủ chốt. Nguyễn Hoành Khung nhận xét về truyện ngắn của Nam Cao như
sau: "Vào khoảng vài chục năm lại đây càng ngày càng có sức hấp dẫn đặc
biệt với công chúng" và "Về nhiều mặt, tác phẩm Nam Cao đã đánh dấu một
bước phát triển mới của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam, mới hình thành trong
vòng hơn nửa thế kỷ nhưng đang hiện đại hóa với một tốc độ thật nhanh
chóng" [Nguyễn Hoành Khung (1990), Truyện ngắn Việt Nam 1930 - 1945
4
(Tập 1), Nxb GD, Hà Nội, tr14]. Trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao,
truyện ngắn của ông xứng đáng được xem là một di sản vô cùng quý báu cần
được nghiên cứu thấu đáo.
Qua những truyện ngắn đặc sắc trước cách mạng tháng Tám, Nam Cao
đã dựng lên một bức tranh tuy không rộng lớn và đồ sộ, nhưng rất mực chân
thực về cuộc sống của xã hội thực dân phong kiến hết sức phản động ở nước
ta thời kỳ khủng hoảng sâu sắc nhất. Truyện ngắn Nam Cao - "Đó chính là
phẩm chất của những gì thật sự ưu tú, là các giá trị đã có thể đi dần vào quỹ
đạo của những gì thuộc về cổ điển" [Phong Lê (1988), Tuyển tập Thạch Lam,
Nxb Văn học, 5].
Vấn đề hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nam Cao cũng

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
đề tài được triển khai gồm ba chương:
Chương 1. Giới thiệu về Nam Cao
Chương 2. Hình tượng người nông dân trong một số truyện ngắn Nam Cao
Chương 3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông dân trong truyện
ngắn của Nam Cao
6
Chương 1
GIỚI THIỆU VỀ NAM CAO
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao
1.1.1. Cuộc đời nhà văn Nam Cao
Nam Cao (1915 – 1951) là bút danh của nhà văn - nhà báo - liệt sĩ Trần
Hữu Tri. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng
Cao Đà, huyện Nam Sang, nay thuộc Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam (cách thành
phố Nam Định chừng hơn 10 km). Học xong thành chung, Nam Cao bôn ba
nhiều nơi, nhưng bệnh tật đẩy ông về quê. Từ đó, Nam Cao sống chật vật
bằng nghề dạy học và viết văn. Năm 1943, ông vào Hội Văn hoá cứu quốc.
Tham gia Tổng khởi nghĩa ở quê hương, ông được cử làm chủ tịch xã.
Sau Cách mạng, với tư cách phóng viên - Nam Cao có mặt trong đoàn
quân Nam tiến, rồi lên chiến khu Việt Bắc làm công tác văn nghệ. Cuối tháng
11 năm 1951, trên đường đi công tác vào vùng địch tạm chiếm, Nam Cao anh
dũng hi sinh tại làng Vũ Đại, huyện Gia Viễn, Ninh Bình, khi tài năng đang
nở rộ; gần đây (1998), mộ phần của ông đã được đưa về quê hương.
Nam Cao là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực (1930 - 1945).
Ông là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền văn học mới. Nam Cao
được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
(đợt 1,1996).
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác
Trước 1945, tài năng Nam Cao kết tinh trong gần 60 truyện ngắn, một
truyện vừa Chuyện người hàng xóm, và tiểu thuyết Sống mòn. Tác phẩm của

lương thiện. Không “bôi nhọ” nông dân, ông đi sâu vào nội tâm nhân vật để
8
phát hiện, khẳng định nhiều phẩm chất cao cả của những người bị xã hội dập
vùi.
Đó là hai đề tài quen thuộc, nhưng vì biết khơi những nguồn chưa ai khơi,
Nam Cao vẫn tạo được sự hấp dẫn. Viết về nông dân hay trí thức, sáng tác
của Nam Cao luôn luôn thể hiện nỗi băn khoăn day dứt trước số phận con
người và thường lấy nguyên mẫu từ quê hương, bản thân. Sáng tác của ông
chứa đựng nội dung triết học sâu sắc. Sau Cách mạng, Nam Cao vẫn tiếp tục
viết về đề tài người nông dân và trí thức nghèo.
1.2. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao
1.2.1. Nhân vật trong tác phẩm văn học
Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tả, thể
hiện trong tác phẩm. Nhân vật có khi là con người có tên, có khi không có tên
như những thằng bán tơ, kẻ nịnh thần, có khi là một hiện tượng nào đó của
thiên nhiên mang nội dung biểu tượng. Nhân vật có thể được thể hiện bằng
nhiều hình thức khác nhau nhất. Những nhân vật khái quát nổi bật những tính
cách có ý nghĩa phổ biến sâu xa sẽ là những nhân vật điển hình. Tuy nhiên,
không phải nhà văn nào trong tác phẩm nào cũng xây dựng được hình tượng
của mình. Một hình tượng chỉ được gọi là điển hình khi hình tượng ấy khái
quát được những nét, những tính cách con người, những tư tưởng, những hiện
tượng có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội lại đươc miêu tả qua những chi tiết
cụ thể sinh động hấp dẫn. Điển hính là khái quát cao của sáng tạo nghệ thuật.
Nhân vật trong tác phẩm văn học có vai trò hết sức quan trọng. Văn học
không thể thiếu nhân vật, bởi vì nó là hình thức cơ bản để qua đó văn học
miêu tả thế giới một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo nên nhân vật là để thể
hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó. Nói
cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người
và các quan niệm của chúng.
Trong tác phẩm văn học, hình tượng người nông dân cũng được đề cập

trong xã hội đương thời trước 1945, những nhà văn nghèo, những viên chức
nhỏ. Họ là những trí thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm,
có hoài bão, tâm huyết và tài năng, muốn xây dựng một sự nghiệp tinh thần
cao quý; nhưng lại bị gánh nặng áo cơm và hoàn cảnh xã hội ngột ngạt làm
cho "chết mòn", phải sống như "một kẻ vô ích, một người thừa".
Nội dung các tác phẩm của Nam Cao phê phán sâu sắc xã hội ngột ngạt,
phi nhân đạo bóp nghẹt sự sống, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời nói lên
khao khát một lẽ sống lớn, có ích, có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống con
người
Chương 2
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG
MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN NAM CAO
2.1.Người nông dân có cuộc sống đói rét, bóc lột
Nam Cao đã dựng lên một bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam
trước 1945 nghèo đói, cái nghèo, cái đói xơ xác của người nông dân lúc bấy
giờ. Cuộc sống của họ bần cùng, hết sức thê thảm, sống trong cảnh đời đói rét
tối tăm, càng hiền lành, càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp, bóc lột một cách
không thương tiếc, con người lâm vào cảnh luôn bị hắt hủi và đầy rẫy những
bất công bao quanh. Họ còn bị lăng nhục tàn nhẫn dẫn đến người nông dân bị
đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa dưới một xã hội tối tăm lúc bấy
giờ.
Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Lê Quang
Hưng có viết : "Đi vào số phân người nông dân dưới đáy cùng xã hội ở thời kì
ngột ngạt, đen tối, nhiều tác phẩm Nam Cao thể hiện sự bần cùng hóa của họ.
Đặc biệt, quá trình bần cùng hóa này được Nam Cao gắn với sự đe dọa lưu
manh hóa. Hoàn cảnh xã hội điên đảo với sức tàn phá thật khóc liệt. Con
11
người bị đẩy vào bước đường cùng, bị chà đạp cả thể xác lẫn nhân phẩm.
Điều làm Nam Cao khổ nhất và khai thác nhiều nhất các nhân vật nông dân là
nhân phẩm bị xúc phạm: tâm hồn thui chột, tính cách mèo mó, ngay đến bộ

trung thực nhưng bị vu oan biến anh thành một tên lưu manh mất hết nhân
tính lẫn nhân hình.
Những bi kịch đau đớn nhất như những cơn dông bão ập xuống quất vào
số phận của Chí Phèo. Chí Phèo khi đã mất cả nhân hình và nhân tính thì mất
hết tất cả. Chí không chấp nhận trở lại làm người với lý lịch đầy bất hảo bộ
mặt sứt sẹo, hành động côn đồ, Chí Phèo đã làm cho cả làng Vũ Đại không
một ai tôn trọng. Không còn một chút lương tâm nào hết, vì vậy Chí Phèo bị
cả làng Vũ Đại chối bỏ và sa vào tấn bi kịch đau đớn nhất bị từ chối làm
người.
Xã hội cũ không cho người lao động thực hiện ước mơ được sống hạnh
phúc lương thiện. Bằng thái độ của Thị Nở và lời nói của bà cô Thị. Nam Cao
cho ta thấy xã hội cũ đã hắt hủi, đã phũ phàng chà đạp lên mọi ước mơ chân
chính của Chí. Chí muốn làm người nông dân lương thiện trong điều kiện vẫn
bị địa chủ ràng buộc, lợi dụng đó là điều không thể được. Chí lại căm uất.
Căm thù cao độ và không còn lối thoát, Chí giết Bá Kiến và tự sát.
Cái chết của Chí thật đột ngột. Lấy sự hủy diệt đời mình để giải quyết cái
bế tắc đời mình, cái bi kịch của Chi phản ánh sự bế tắc của một số nông dân
cùng khổ, chưa gặp cách mạng, bị dồn vào con đường cùng. Ý nghĩa phê phán
xã hội qua cái chết của Chí Phèo thật là mãnh liệt. Bọn thống trị trong xã hội
cũ phải chịu trách nhiệm trước hiện tượng xã hội bi thảm này.
Trong tác phẩm Lão Hạc thì hình ảnh Lão Hạc hiện lên cũng không kém
phần đáng thương vì cái nghèo, cái đói mà số phận của Lão lâm vào bần
cùng, cơ cực. Đọc truyện Lão Hạc, ta bắt gặp bao con người, bao số phận, bao
mảnh đời đáng thương, bao tấm lòng đáng trọng: Lão Hạc và cậu con trai
13
“phẫn chí” đi phu đồn điền cao su, ông giáo và người vợ, Binh Tư và thằng
Mục, thằng Xiên…
Lão Hạc là một người nông dân chất phác, hiền lành. Lão vốn góa vợ và
có một đứa con trai nhưng vì quá nghèo nên không thể lo cho người con trai
một cuộc sống hạnh phúc. Người con trai lão do quẫn trí đã đăng kí đi làm ở

chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo
khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: “Kiếp con chó là
kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng
hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”[Tuyển Tập Nam Cao,
trang 253]. Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một
người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm
lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra
khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn
cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố,
dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn
thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho
ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối. Kết
cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi
người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là
giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện
trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn
vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con
người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.
Sống trong chính cuộc đời, con người luôn phải có nhiều nỗi lo toan
trăm bề mà trong truyện "Lão Hạc" của Nam Cao lại là một bức tranh hiện
thực sâu sắc, trong bức tranh ấy người nông dân chân chất hiện lên, với những
suy nghĩ, lo toan, tính toán cho tương lai, cái nghèo cái đói vẫn luôn đeo đẳng
15
trong cái xã hội cũ.
Còn trong Một bữa no, cái nghèo cái đói của người nông dân lúc bấy giờ
cũng thể hiện rõ qua nhân vật bà cái Tý, mà cụ thể là cái chết, chết bất thường
"chết no" đã cho người đọc biết bao suy nghĩ về thực trạng xã hội của nước ta
lúc bấy giờ.
Nhà văn dựng lên bữa tiệc trong nhà bà Phó Thụ như một điển hình về
cách sống của bọn trưởng giả keo kiệt. Đó thực sự là miếng nhục khi bà lão

đọc về thực trạng xã hội cũ.
2.2. Người nông dân khát khao cuộc sống đầy đủ về vật chất và tinh
thần.
Trong cái tình cảnh cái đói, cái rét bao quanh nhưng chúng ta luôn cảm
thấy được sự khát khao tìm ẩn của người nông dân qua tác phẩm của Nam
Cao. Dù cuộc sống có gian khổ đang đeo đẳng họ hằng ngày, hằng giờ nhưng
người nông dân vẫn luôn mơ ước có cuộc sống tốt đẹp hơn và khát khao sống
một cuộc sống đúng bản chất con người, không bị tha hóa dưới chế độ xã hội
cũ.
Trong "Chí Phèo", Chí như một kiếp tồn tại ngoài vòng xa hội, bị gạt ra
ngoài lề của cuộc sống, cô độc. Chí bị đẩy vào bi kịch, bị lãng quên, bị chối
bỏ, tiếng chửi buông xuống kẻ "chết mẹ nào đã đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng
Chí phèo". Tiếng chửi thấm mùi vị xót xa đồng thời mở ra cho người đọc một
từng ý nghĩ. Ai đã tạo nên Chí Phèo, kẻ bị bần cùng hoá, lưu manh hoá? Đó
có phải là Bá Kiến, là xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ. Tiếng chửi
của Chí Phèo là tiếng kêu thống thiết, là tiếng lên án mạnh mẽ xã hội bất
nhân, không công lí của nước ta thời kì đó. Mặt khác, tiếng chửi của Chí còn
chứa đựng một khát khao lớn, khát khao được giao tiếp với cộng đồng, khát
khao được nhìn thấy dẫu chỉ qua tiếng chửi, bởi "không có gì đau khổ bằng
nỗi đau bị tách ra khỏi xã hội". Ẩn sâu trong tiếng chửi rủa của một Chí Phèo
17
trong sự tha hoá, chính là nỗi khát khao rất con người, rất lương thiện.
Chí đã từng mơ ước: "Khi còn trẻ hắn đã ao ước có một mái ấm gia đình
nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải nuôi heo" [Tài liệu, trang].
Mơ ước của hắn thật bình dị bằng sức lao động chân chính, cái hạnh phúc đơn
sơ nhưng ấm cúng tình người tưởng chừng ai cũng có được nhưng với Chí lại
quá xa vời.
Tình yêu của Thị Nở làm cho hắn “bỗng thèm lương thiện”, bát cháo hành
đã đưa Chí rẽ vào bước ngoặc mới, bát cháo hành là biểu tượng của sự cảm
thông, yêu thương giữa những con người cùng cảnh ngộ, nó mãi mãi đi vào

tình cảnh như bà cái Tý.
Từ những ước mơ, khát khao trong cuộc sống, các tác phẩm trên đã ngấm
ngầm đưa ra giải thích định nghĩa về con người và cuộc sống con người: Loài
người phải có khả năng sống bằng bàn tay, sức lao động của mình, làm người
phải biết tự trọng, có quyền được sống, được hưởng hạnh phúc và công bằng.
Tuy nhiên, họ bị bóc lột đến tận xương tủy, những người nông dân bị rơi vào
tình trạng bi kịch, bị trù dập, đối xử thiếu công bằng.
Và ý nghĩa của những ước mơ đó như ngôi sao Bắc đẩu lấp lánh rọi
đường cho những nhân vật trong truyện của ông mò mẫm đi giữa bối cảnh mờ
mịt của chế độ phong kiến thực dân đương thời, nhờ đó họ có thể ngẩng mặt
sống trườn qua cơn xoáy ác liệt của hư vô.
2.3. Những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân
Nam Cao đã dựng lên hình ảnh đặt sắc - đôi lúc đến dị hợm như: cái chết
vật vã của Lão Hạc vì ăn bã chó, cái chết no của bà cái Tý trong Một bữa no,
cũng như vẻ lưu manh hóa của Chí Phèo khi ra tù nhưng đều đáng thương.
Họ là những tầng lớp thấp cùng của xã hội phong kiến, họ có đời sống bần
cùng, nhưng lại có phẩm chất cao đẹp. Cao đẹp chứ không phải “cao thượng”,
những điều hoa mỹ, sự tế nhị dường như không có chỗ đứng trong tác phẩm
19
của Nam Cao.
Trong "Giáo trình văn học việt nam hiện đại", tác giả Lê Quang Hưng có
viết "Mọi vấn đề xã hội, mọi số phận con người đều được Nam Cao gắn với
câu chuyện và nhân cách trong tình cảnh xót thương, trân trọng và đòi hỏi cao
của con người. Tính nhất quán và tầm lớn lao tư tưởng nghệ thuật Nam Cao
chính ở chỗ đó. Miêu tả người nông dân, Nam Cao không chỉ vạch ra cảnh
bần cùng hoá, nghèo đói thê thảm ở phương diện nghèo đói vật chất mà chỉ
quan tâm đến vấn đề nhân phẩm bị chà đạp, tinh thần bị hủy hoại" [Giáo trình
văn học việt nam hiện đại, trang 265].
Nam Cao dùng ngòi bút của ông giành cho những nhân vật nồng nàn yêu
thương. Ông phát hiện trong chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ

vui tiếc hạnh.
Trong tác phẩm Một bữa no của nhà văn Nam Cao, chi tiết hay nhất và có
ý nghĩa nhất chính là "cái chết của bà lão". Cái chết ấy là tiếng nói tố cáo hiện
thực xã hội lúc bấy giờ. Nạn đói năm Ất Dậu 1945 đã khiến cho "từ Quảng
Trị đến Bắc kỳ, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói" [Tuyên ngôn độc lập - Hồ
Chí Minh, trang 2]. Trong bối cảnh lịch sử đó, con người thường chết vì đói,
nhưng nhân vật "bà lão" trong tác phẩm này lại chết vì "một bữa no".Cái chết
của bà lão thể hiện một cái nhìn nhân đạo, một sự cảm thông sâu sắc của tác
giả đối với những thân phận nghèo nàn, bất hạnh: Dù họ có vùng vẫy tìm sự
sống trong cái chết, dù họ có thể trở thành "thực dụng" đi nữa thì thẳm sâu
trong nhân cách của những người nghèo vẫn toát lên vẻ đẹp tuy có phần
nghiêng về bản năng sinh tồn: "Bà lão đến thăm con cháu đang ở đợ cho bà
chủ nhà giàu, đã cố tình đến vào giờ cơm trưa để được "một bữa no" vì mấy
ngày nay Bà bị đói, bà lại cố ăn hết cả phần cơm chấy ở đáy nồi cho thật no"
[Tài liệu, trang]. Tuy nhiên, ở bà vẫn lấp lánh tình yêu thương đối với cô cháu
gái. Tội hơn nữa là có thể nói gặp cháu gái lần này của bà là lần gặp cuối
21
cùng
Bên cạnh cái đói và sự tha hóa, chúng ta còn cảm nhận được vẻ đẹp tâm
hồn, những phẩm chất cao quí của họ qua ước mơ, khát khao nhu cầu hạnh
phúc chính đáng và cuộc sống ấm no bình yên con người trong xã hội cũ lúc
bấy giờ. Đồng thời lên án những tàn dư và sự áp bức bất công mà cái xã hộ đó
mang lại dẫn đến biết bao sự khốn khổ của người nông dân.
Chương 3
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
3.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
Nam Cao đã xây dựng ngoại hình của một số nhân vật như: vẻ lưu
manh hóa của Chí Phèo, hình ảnh Lão Hạc, bà cái Tý…và để lại những ấn
tượng khó phai mờ trong lòng người đọc.

đặc trưng có sức lôi cuốn mạnh nhất trong tài năng và phong cách của Nam
Cao là chất trữ tình ấm áp, thể hiện rõ qua các tác phẩm của Ông. Chất trữ
tình này bắt nguồn từ nỗi buồn thương của Ông trước nỗi khổ khốn cùng của
con người, về lòng khao khát của Ông về cuộc sống có tình người, có phẩm
giá, có tư cách.
(Phân tích một chút về diễn biến nhân vật Chí Phèo lúc gặp Thị Nở và
lúc đến nhà Bá Kiến. Nhân vật Lão Hạc có tâm trạng thế nào khi phải bán con
vàng )
3.3. Ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao biến hoá. Lúc thì trần thuật gián tiếp,
lúc thì xen kẽ các câu mệnh đề vừa trực tiếp vừa gián tiếp và là sự phối hợp
giữa ngôn ngữ bên trong, ngôn ngữ bên ngoài, ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ
nhân vật.
23
Các từ ngữ xưng hô trong tác phẩm Chí Phèo được Nam Cao sử dụng vô
cùng phong phú. Có thể nói mỗi một nhân vật lại có một kho các từ ngữ xưng
hô khác nhau. Trong từng hoàn cảnh nhất định, Nam Cao gắn cho nhân vật
của mình một lối xưng hô riêng, đầy dụng ý. Từ xưng hô trong tác phẩm này
chính là một loại phương tiện hữu hiệu để biểu đạt ý nghĩa tình thái: thái độ
của nhà văn đối với nhân vật, thái độ của các nhân vật trong tác phẩm đối với
nhau và trong tác phẩm Lão Hạc cũng như tác phẩm Một bữa no cũng như
vậy.
Tóm lại, cách xây dựng nhân vật: điển hình, sinh động và độc đáo bằng
sở trường phân tích tâm lí nhân vật. Kết cấu không theo trình tự thời gian mà
vẫn rất chặt chẽ, cách kể chuyện tự nhiên, linh hoạt, hấp dẫn. Ngôn ngữ lời
văn giản dị, gắn với khẩu ngữ, mang hơi thở của đời sống và có nhiều giọng
điệu đan xen tạo nên ấn tượng cho người đọc.
(Phân tích một chút về ngôn ngữ đối thoại của Thị Nở, Bá Kiến, Chí
Phèo "Ai cho tao lương thiện")
KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status