Nông thôn và người nông dân trong truyện ngắn nguyễn kiên - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THU HIÊN

NÔNG THÔN VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THU HIÊN
NÔNG THÔN VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KIÊN
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. ĐINH TRÍ DŨNG
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 7

2.2.2. Hình tượng người phụ nữ nông thôn 66
2.2.3. Hình tượng những người cán bộ lãnh đạo ở nông thôn 70
2.3. Hình tượng thiên nhiên 75
2.3.1. Vẻ đẹp của thiên nhiên làng quê 75
2.3.2. Thiên nhiên gắn bó hài hòa với tâm trạng con người 79
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3
NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI VÀ CUỘC SỐNG
NÔNG THÔN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KIÊN 84
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 84
3.1.1. Chú trọng miêu tả ngoại hình 85
3.1.2. Khắc họa hành động kết hợp với khắc họa nội tâm 91
3.1.3. Ngôn ngữ đối thoại sinh động 96
3.2. Giọng điệu 101
3.2.1. Giọng ngợi ca, tin tưởng 102
3.2.2. Giọng trữ tình, thương cảm 107
3.2.3. Giọng phê phán nhẹ nhàng 110
3.3. Ngôn ngữ 113
3.3.1. Ngôn ngữ dân dã, đời thường, gần gũi với người nông dân
113
6
3.3.2. Sử dụng thủ pháp so sánh 117
3.3.3. Sử dụng phương ngữ Bắc bộ 122
Tiểu kết chương 3 127
KẾT LUẬN 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
7
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nông thôn và người nông dân là một trong những mảng đề tài lớn

chọn, 1974, 1982); Nơi xa (tuyển chọn, 1996); Đáy nước (truyện ngắn, 1985);
Miếu hoang (truyện ngắn, 1992); Những mảnh vỡ (truyện ngắn, 1995); Chim
khách kêu (truyện ngắn, 2001); Lá rụng (truyện vừa,1962); Chân sông (truyện
vừa, 1967); Chặng đường nhớ lại (truyện vừa, 1984); Vùng quê yên tĩnh (tiểu
thuyết, 1974), Nhìn dưới mặt trời (tiểu thuyết, 1981); Một cảnh đời (tiểu
thuyết, 1992); Những ngày đi lưu động (truyện thiếu nhi, 1956, 1986) Đặc
biệt năm 2002, cùng với Chim khách kêu, nhà văn Nguyễn Kiên đã được nhận
giải thưởng văn học Đông Nam Á. Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình
lớn nào tập trung nghiên cứu về những sáng tác của Nguyễn Kiên. Bàn về
những sáng tác của ông còn rất ít, là những bài lẻ tẻ, chỉ dừng lại ở những
khái quát, nhận xét mang tính chung chung.
Trên trang có đăng tải nhận xét về nhà văn như sau:
“Nguyễn Kiên vào làng văn với truyện thiếu nhi “Chú đất nung” (kiểu “Chú
lính chì”của Andersen) cách nay gần 60 năm, có viết và có thành tựu về tiểu
thuyết: “Vùng quê yên tĩnh” và “Nhìn dưới mặt trời” là sách hay trong thời
của nó, nhưng bạn đọc vẫn nhớ Nguyễn Kiên như một bậc thầy truyện ngắn.
Nhiều truyện ngắn của ông đạt đến kinh điển do bố cục vững chãi, miêu tả
tâm lý tự nhiên và tinh tế. Đáng kể nhất trong văn Nguyễn Kiên là, do giữ các
trọng trách trên văn đàn, ông không thể không viết về chiến tranh, về hiện
thực đời sống (công trường, hợp tác xã…) nhưng ông biết nhanh chóng lách
2
qua cái nền thoáng và trong, đưa ngòi bút lách sâu vào số phận éo le của các
nhân vật khiến bây giờ đọc lại, những con người ấy vẫn đọng lại còn thời thế
thì đã nhiều chồng lấn nhạt nhòa”. Như vậy trong lời nhận xét này, người viết
đã ghi nhận những thành công của Nguyễn Kiên ở lĩnh vực truyện ngắn so
với tiểu thuyết và truyện viết cho thiếu nhi. Đặc biệt trong lĩnh vực truyện
ngắn Nguyễn Kiên đã có những khai thác sâu vào số phận éo le của các nhân
vật chứ không đơn thuần là phản ánh một cách đơn điệu những vấn đề lịch sử
dân tộc như chiến tranh, lao động sản xuất và thể hiện một nghệ thuật viết
truyện ngắn già dặn, cao tay. Chính vì thế mặc dù không phải là người đầu

nhận cuộc sống một cách trực tiếp”. Theo Nguyễn Thanh Hóa thì cái hay của
văn Nguyễn Kiên chính là ở chỗ giản dị, hàm súc. Không cầu kì, hoa mĩ, trau
chuốt mà sức nặng của văn Nguyễn Kiên chính là những bài học nhân sinh
sâu sắc được rút ra sau những cốt truyện, mỗi nhân vật. Những cảm nhận về
cuộc sống của môt nhà văn từng trải, Nguyễn Kiên gửi gắm vào hình tượng
nhân vật và từ hình tượng nhân vật, người đọc lại được chiêm nghiệm về nó.
Trên trang , trong bài: “Những năm tháng
được mùa đẹp đẽ”, Nguyễn Trung Đỉnh đã cho rằng: “Nhà văn Nguyễn Kiên
với các tác phẩm đặc sắc viết về nông nghiệp, nông thôn: Vùng quê yên tĩnh,
Lá rụng, Nhìn dưới mặt trời, Chặng đường nhớ lại, Một cảnh đời. Sách của
ông, cũng như cách sống khiêm nhường ấm áp của ông không bao giờ là
những chuyện gây ồn ào. Nó như cuộc sống đầy ắp tình người của ông vậy.
Thời gian đi qua, nhưng cái tình còn lại. Nó vẫn là tiếng nói ấm áp đầy truyền
cảm của một thời đầy biến động mà đất nước ta phải trải qua - thời gian khó”.
Như vậy Nguyễn Trung Đỉnh cho rằng sự nghiệp của Nguyễn Kiên gắn với
đề tài nông thôn và người nông dân. Những tác phẩm của Nguyễn Kiên hấp
4
dẫn bởi nó chứa đựng tình người ấm áp, nó lưu lại một thời không thể nào
quên của dân tộc - thời gian khó.
Như vậy theo thống kê của chúng tôi thì những bài viết về sáng tác của
Nguyễn Kiên chưa nhiều và còn lẻ tẻ, vụn vặt. Có thể nói rằng đây là một
mảnh đất còn để ngỏ, hứa hẹn nhiều thú vị, hấp dẫn với những ai có hứng thú
khám phá, khai thác về nó.
2.2. Những công trình, bài viết bàn về truyện ngắn Nguyễn Kiên (ở
đề tài nông thôn và nông dân)
Nguyễn Kiên là người chung thủy với đề tài nông thôn và người nông
dân. Trong cuốn Văn học Việt Nam hiện đại (1945-1975), khi đánh giá về
những thành tựu của văn xuôi 1954-1964, tác giả Mã Giang Lân có viết:
“Thành tựu nổi bật của văn xuôi viết về nông thôn thể hiện trong những sáng
tác về thời kì xây dựng hợp tác hóa nông nghiệp. Những tác phẩm tiêu biểu:

trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Kiên vẫn là mảng truyện ngắn, nhất là ở
mảng đề tài viết về nông thôn và người nông dân. Đáng tiếc là cho đến nay
chưa có một công trình nghiên cứu lớn nào về mảng đề tài này trong truyện
ngắn của ông. Chính vì lẽ đó ở luận văn này chúng tôi mạnh dạn khai thác đề
tài: Nông thôn và người nông dân trong truyện ngắn của Nguyễn Kiên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là vấn đề nông thôn và người nông
dân trong truyện ngắn Nguyễn Kiên
3.2. Phạm vi tư liệu khảo sát
Nguyễn Kiên chủ yếu sáng tác trên hai thể loại truyện ngắn và tiểu
thuyết. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về
truyện ngắn của ông. Văn bản khảo sát là tập Truyện ngắn Nguyễn Kiên, Nxb
Công an nhân dân, HN, 2004.
6
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề về nông thôn và người nông dân đặt ra trong
truyện ngắn Nguyễn Kiên.
- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện vấn đề nông thôn và người nông dân
trong truyện ngắn Nguyễn Kiên.
- Bước đầu xác định vai trò, vị trí của truyện ngắn Nguyễn Kiên trong
mảng truyện ngắn viết về nông thôn.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn phân tích và làm rõ những khám phá riêng về con người,
cuộc sống ở nông thôn và những nét đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện con
người, cuộc sống ở nơi đây trên thể loại truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Kiên.

tác phẩm kí sự, tiểu thuyết và truyện ngắn. Riêng mảng truyện ngắn viết về
nông thôn và người nông dân thời kì này cũng có nhiều thành tựu.
Nguyễn Bá Học thuộc lớp những nhà văn nổi tiếng đầu tiên ở Việt
Nam viết truyện ngắn phản ánh xã hội thành thị và cuộc sống nông thôn lúc
bấy giờ. Trong một loạt truyện ngắn của ông: Câu chuyện gia đình, Chuyện
ông lý Chắm, Có gan làm giàu, Chuyện cô chiêu Nhì ta thấy một sự đối lập
giữa cuộc sống nông thôn và thành thị. Ở thành thị là một cuộc sống náo
động, xô bồ, chen chúc với những “ca quán”, “đổ trường” và những kẻ phản
trắc, trụy lạc. Trong khi đó ở nông thôn ngày càng tàn tạ, vắng lặng, ngưng
8
đọng với sự sụp đổ của Nho học, với những người nông dân, đặc biệt là người
phụ nữ, sống an phận thủ thường theo nền nếp cũ.
Tiếp đến phải kể đến Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn. Trong
truyện tác giả đã cho ta thấy cảnh ngộ thương tâm của những người nông dân
trong cảnh phu phen, tạp dịch: hàng nghìn dân phu đang vật lộn với mưa và
bùn, cố làm chắc con đê đang bị nước sông đe dọa; trong khi ấy, giữa đình
làng, viên quan huyện với lính tráng phục dịch sòng bài, với nha lại, chánh
tổng thù tiếp, đang đánh tổ tôm để tiêu khiển. Bỗng có một người nhà quê
mình mẩy lấm láp, quần áo ướt đầm, xông vào đình, thở không ra hơi:
“Bẩm quan lớn Đê vỡ mất rồi!”. Anh ta bị quan đuổi thẳng cánh. Trong
khi ấy thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà
cửa trôi băng, lúa má ngập
Có thể nói, văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX đến
1930 là giai đoạn văn học cận đại có tính chất giao thời. Truyện ngắn nói
chung, truyện ngắn viết về nông thôn và người nông dân nói riêng cũng nằm
trong tính chất giao thời đó, nghĩa là nó chưa có những thành công thực sự.
Văn học Việt Nam viết về nông thôn và người nông dân thực sự nở rộ, nhiều
thành tựu phải kể đến những năm 30, 40 của thế kỉ XX.
Văn học lãng mạn Việt Nam xuất hiện như một trào lưu trong thời kì
1932-1945, bắt đầu với nhóm Tự lực văn đoàn và phong trào “Thơ mới”.

chủ và chắc chắn có chịu ảnh hưởng ít nhiều của phong trào. Trong sáng tác
của mình Thạch Lam thể hiện một tinh thần dân tộc đậm đà và có một sự
cảm thông chân thành đối với những người dân quê nghèo khổ: Gió lạnh
đầu mùa, Nhà mẹ Lê. Cả một đời thơ ấu Thạch Lam sống gần gũi bên những
người mẹ nghèo lam lũ và đông con như mẹ Lê, mẹ Đối, những người dân
10
quê ở Hà Nam, Phủ Lý vì bị lụt lội, đói kém nên phải tha phương cầu thực,
kéo nhau đến kiếm ăn ở một phố huyện vùng trung du. Thạch Lam viết về
những người dân nghèo với một niềm cảm thương chân thành, man mác.
Niềm cảm thương đó trở nên đặc biệt sâu sắc khi nói đến thân phận những
bà mẹ, người vợ Việt Nam đang tần tảo, nhưng chịu đựng, hy sinh thầm lặng
trong cuộc đời cũ. Có thể nói trong Tự lực văn đoàn, Thạch Lam là người có
khuynh hướng hiện thực hơn cả. Kết thúc các truyện ngắn của ông có lúc
đau đớn quá, tàn nhẫn quá, nhưng đó lại là sự thật. Ở đó Thạch lam đã sử
dụng một bút pháp hiện thực tỉnh táo, ông không bằng lòng với bất cứ một
sự tô màu mỹ học lộ liễu nào.
Nếu như Thạch Lam viết nhiều về người dân nghèo làm thuê, làm
mướn ở cái phố chợ tồi tàn gần ngay huyện lỵ Cẩm Giàng vùng trung châu thì
Trần Tiêu hướng hẳn về nông thôn. Trong tác phẩm Con trâu ông nói lên cái
ước mơ suốt đời của người nông dân là có được một con trâu cày để làm ăn
mát mặt hơn. Sau lũy tre ông đi sâu vào những phong tục lễ nghi phiền phức,
tranh nhau ngôi thứ ở nông thôn của bọn hào lý, kì mục sâu mọt, hiếu danh.
Ông cảm thông với nỗi khổ của người đàn bà nông thôn “hết khổ về chồng lại
khổ về con”, suốt đời thầm lặng hy sinh. Trần Tiêu không có được cái phong
cách hiện thực nghiêm ngặt của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan trong khi
trực tiếp miêu tả cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt giữa nông dân và địa chủ,
cường hào gian ác. Nếu bút pháp hiện thực của Thạch Lam mang màu sắc
tình cảm thì ở Trần Tiêu nó mang màu sắc phong tục. Màu sắc phong tục trở
thành đặc điểm phong cách trong sáng tác của Trần Tiêu.
Viết về nông thôn và người nông dân, truyện ngắn của Tự lực văn đoàn

nông dân lao động. Truyện không có chuyện này lại nói được những gì thật
12
xúc động. Cái xác chết người nghèo đã chôn rồi còn bị bật lên để trôi nổi dập
dềnh trên cánh đồng quê lụt lội, mênh mông kia, chẳng là biểu tượng xót xa
cho kiếp sống khốn khổ, chết còn bị đầy đọa, gió dập sóng dồi không yên của
người nông dân trong cõi trần gian mà như địa ngục rùng rợn. Tinh thần thể
dục (I, II) là hai truyện ngắn chung chủ đề, đã lật mặt trái cái chủ trương thể
dục, thể thao bịp bợm của chính quyền thực dân nhằm tô vẽ cho cái trật tự
thối nát của mình và làm lạc hướng thanh niên. Cuộc đá bóng mà quan trên,
quan dưới dàn dựng hết sức hăng hái và hò hét, đôn đốc người xem một cách
gắt gao ấy, đối với người nông dân lại là một tai họa. Ta thấy một thảm cảnh
của người nông dân khi bị điều đi xem bóng đá: người van xin, lạy lục, đút
lót, lẩn trốn và cuối cùng, trời chưa sáng cả làng náo loạn vì cuộc lùng sục,
tróc nã những kẻ được cử đi xem đá bóng mà lẩn trốn.
Tuy nhiên trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan phạm vi phản ánh
hiện thực vẫn còn chủ yếu xoay quanh đời sống thành thị. Bức tranh nông
thôn và người nông dân chưa thật sự xuất hiện nhiều và có những thành công
đáng kể.
Nam Cao có một vị trí đặc biệt trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930
- 1945. Tác phẩm của Nam Cao phần lớn ra đời trong Chiến tranh thế giới lần
thứ hai, đánh dấu bước phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán
trong một thời kì tưởng như bế tắc. Những tác phẩm của Nam Cao đã phản
ánh chân thật cuộc sống ngột ngạt, đen tối của xã hội thực dân phong kiến, và
thể hiện sinh động thân phận khổ đau bế tắc của những người nông dân những
năm 1940 - 1945.
Nông thôn trong tác phẩm Nam Cao là nông thôn Việt Nam vốn triền
miên trong bần cùng, giờ đây đang tiến tới thảm họa khủng khiếp 1945. Lão
Hạc ăn bả chó tự tử để tránh chết đói. Anh Cu Phúc chết lặng lẽ trong xó nhà
ẩm thấp trước đôi mắt "dại đi vì quá đói " của hai đức con. Bà cái Tí chết vì
13

người nông dân lượng thiện và dõng dạc bênh vực nhân phẩm của họ ngay
trong khi bị nhục mạ một cách độc ác bất công. Số phận người nông dân có
thay đổi được không ? Câu hỏi đó, Nam Cao cũng như mọi nhà văn hiện thực
phê phán chưa trả lời được. Truyện Nam Cao bao trùm một không khí buồn
thảm, u ám. Ðó là cái u ám của hiện thực. Nhưng cũng là u ám trong tâm hồn
Nam Cao.
Có thể nói đời sống nông thôn và số phận người nông dân trong văn
học hiện thực phê phán đã được nhìn nhận khác, một cách tiến bộ hơn so với
cái nhìn của các nhà văn lãng mạn. Đi sâu vào bản chất của đời sống hiện
thực, các nhà văn đã phản ánh được mâu thuẫn đang diễn ra gay gắt trong xã
hội, lật tẩy bộ mặt thống trị, gieo vào lòng người đọc một tinh thần phản
kháng mạnh mẽ. Đồng thời phát hiện, nâng niu trân trọng vẻ đẹp của người
nông dân kể cả khi họ mất hết cả nhân hình và nhân tính.
Tuy nhiên viết về nông thôn và người nông dân truyện ngắn hiện thực
phê phán vẫn tồn tại những hạn chế: người nông dân vẫn là những con người
bất lực trước hoàn cảnh, là nạn nhân của hoàn cảnh, chưa có ý thức và khả
năng thay đổi cuộc sống của mình. Mặt khác nông thôn trong con mắt của các
nhà văn hiện thực chỉ là những bức tranh xám xịt, đen tối. Các nhà văn chưa
nhìn thấy được tương lai của nông thôn Việt Nam.
1.1.2. Nông thôn trong truyện ngắn từ 1945 đến 1975
Cách mạng tháng Tám thành công đưa đất nước ta sang một kỉ nguyên
mới, kỉ nguyên độc lập, tự do, thủ tiêu nền thống trị của thực dân phong kiến.
Nhưng chỉ mấy hôm sau với sự đồng lõa của thực dân Anh, giặc Pháp quay
lại gây hấn ở Nam Bộ. Ngày 23-9-1945 Nam Bộ bắt đầu cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp. Tình hình lịch sử đó đã đem lại một sứ mệnh mới cho
15
người nông dân: vừa bắt tay thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
vừa phải tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giải
phóng đất nước.
Văn xuôi nói chung, truyện ngắn viết về nông thôn thời kì này nói

mạnh lớn lao của cách mạng đối với việc giải phóng nhân dân miền núi. Ở
đây quá trình hình thành con người mới là quá trình nhiều gian khổ, hi sinh
đòi hỏi sự nỗ lực bản thân của người nông dân và tác động lớn lao của cách
mạng đối với họ. Truyện Tây Bắc là một bản cáo trạng, chứa chất căm hờn tố
cáo thực dân phong kiến miền núi vừa là bản tình ca ca ngợi cảnh đẹp, tập
quán hay tinh thần cách mạng, quan hệ giữa người với người, giữa quần
chúng và cán bộ ở Tây Bắc và tất cả những điều ấy được thể hiện bằng một
bút pháp giàu chất thơ.
Truyện Đợi chờ của Nam Cao kể về một người phụ nữ nông thôn, nuôi
con, tăng gia sản xuất khi chồng công tác ở nơi xa. Đánh trận giặc lúa của
Bùi Hiển miêu tả cuộc sống sản xuất chiến đấu của cán bộ nhân dân ở một
vùng gian khổ nhất: Bình Trị Thiên trong hình thái cài răng lược của cuộc
chiến tranh nhân dân. Con đường sống của Minh Lộc, hình ảnh người nông
dân hiện lên rõ nét, tính cách có sự vận đông phát triển. Bị giặc dồn đến bước
đường cùng, những người nông dân Nam Bộ hiền lành, lương thiện đã phải
đấu tranh mưu trí dũng cảm để tìm con đường sống
Về đề tài cải cách ruộng đất thời kì này mặc dù chưa có nhiều thành
tựu, tuy nhiên ta vẫn thấy những truyện ngắn xuất hiện trong những năm 1953
- 1954 và 1955. Những đợt thâm nhập thực tế theo phương thức cùng ăn,
cùng ở, cùng làm với quần chúng đã giúp cho người viết hiểu sâu hơn những
tội ác và sự bóc lột dã man của địa chủ, từ đó mà lý giải nguyên nhân nỗi khổ
của người nông dân. Truyện Vạch khổ của nhiều tác giả, tập truyện Gợi khổ
17
của Trọng Hứa, Bóng nó còn bám lấy xóm làng của Nguyễn Tuấn, Thửa
ruộng vỡ hoang của Xuân Trường đều đã phản ánh chân thành cuộc đấu
tranh chống phong kiến ở nông thôn và thể hiện tình cảm gắn bó chân thành
với nông dân của các nhà văn.
Có thể nói truyện ngắn viết về nông thôn và người nông dân thời kì này
đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Đặc biệt nếu như những anh Pha, chị
Dậu, Chí Phèo của văn học hiện thực phê phán trước đây xuất hiện với tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status