1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội 2 đỗ thị thuý vân NGI K CHUYN TRONG TRUYN NGN
NAM CAO TRC CCH MNG LUN VN THC S văn học Luận văn thạc sĩ VĂn HọC
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Quang Long
Hà Nội, 2010
3
LI CM N
.
Em xin chân thành cm n các thầy giáo, cô giáo trong t Lí lun Vn
hc - Khoa Ng Vn trng i hc S phm H Ni 2 ã nhit tình ging
dy và chỉ dẫn em trong sut quá trình hc tp, nghiên cu v thc hin lun
vn.
Đặc biệt, em xin thành cảm n sâu sắc ti PGS.TS Phm Quang Long,
ngui ã tn tình hng dn, giúp em hon thnh lun vn ny.
Xin chân thnh cm n các thy cô giáo, cán b ca khoa Ng vn, Th
vin, Phòng Sau i hc, Ban Giám hiu Trng i hc S phm H Ni 2
ã quan tâm, to iu kin thun li cho em trong sut khoá hc ti ây.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã kế thừa những thành quả khoa
học của các nhà koa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn.
Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm
2010
Tác giả luận văn Đỗ Thị Thuý Vân
5
Chơng 2: Loại hình ngời kể chuyện trong truyện ngắn nam
cao
2.1 Quan nim ngh thut v con ngi ca Nam Cao
2.1.1 Quan nim về ngh thut
2.1.2 Quan nim v con ngi
2.2 Mt s loi hình ngi k chuyn trong truyn ngn Nam Cao
2.2.1 Ngi k chuyn k theo im nhìn bên ngoi
2.2.2 Ngi k chuyn k theo im nhìn bên trong
2.2.3 Ngi k chuyn k theo im nhìn di ng
Chơng 3: ngôn ngữ, giọng điệu ngời kể chuyện trong truyện
ngắn nam cao trớc cách mạng
3.1 Ngôn ng k chuyn
3.1.1 c im ngôn ng k chuyn
3.1.2 Các thnh phn cu to nên ngôn ng k chuyn
3.1.3 Mi quan h gia ngôn ng ngi k chuyn vi ngôn ng các nhân vt
khác
3.2 Ging iu k chuyện
3.2.1 Các ging iu c bn trong truyn ngn Nam Cao trc cách mng
3.2.1.1 Giọng điệu buồn thơng, chua xót
3.2.1.2 Giọng điệu khách quan lạnh lùng bên ngoài nhng thơng xót bên trong
3.2.1.3 Giọng điệu triết lí suy ngẫm
.2.1.4 Giọng điệu mỉa mai hài hớc
3.2.2 S an xen nhiu ging iu k chuyn trong truyn ngn Nam Cao trc
cách mng
Kết luận
Tài liệu Tham khảo
7
Mở ĐầU
1. Lý do chọn đề tài
Mặt khác trong bài viết này, ông cũng khăng định giữa ngời kể
chuyện, nhân vật và tác giả có mối quan hệ khá phức tạp. Đặc biệt nhiều
trờng hợp các tác phẩm tự truyện các nhân vật ngời kể chuyện có các sự
kiện đời sống và trạng thái tinh thần gần gũi với bản thân nhà văn nhng
thờng là các số phận, lập trờng cuộc sống và cảm thụ của ngời kể chuyện
khác hẳn với tác giả.
Timôphêep trong Nguyên lý lý luận văn học (1962) cũng khẳng định:
Ngời kể chuyện là ngời kể cho ta nghe về những nhân vật và biến cố.
Đồng thời ông cũng quan tâm đến ngôn ngữ ngời kể chuyện đối với ngôn
ngữ nhân vật. Ông cho rằng ngôn ngữ ngời kể chuyện đợc cá tính hoá cả về
mặt hình thức lẫn ý nghĩa, nó có những đặc điểm riêng giúp phân biệt ngôn
ngữ ngời kể chuyện với các nhân vật khác trong tác phẩm: Tính độc đáo của
ngôn ngữ ngời kể chuyện tức là vấn đề ngôn ngữ ngời kể chuyện có những
đặc điểm các tính hoá, không hoà lẫn với đặc điểm của các nhân vật đợc
miêu tả, trái lại đợc nêu lên một cách riêng biệt, ám chỉ một cá tính ẩn đằng
sau nó [61, tr.44].
Tz. Todorov trong công trình Thi pháp học cấu trúc (1971) cũng đã
khẳng định vai trò của ngời kể chuyện trong tác phẩm tự sự. Theo ông:
Ngời kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tởng tợng
Không thể có trần thuật nếu thiếu ngời kể chuyện. Ngời kể chuyện không
nói nh các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Nh vậy, kết hợp đồng
thời trong mình cả nhân vật và ngời kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách
đợc kể có một vị trí hoàn toàn đặc biệt [60, tr.126]. Đồng thời Todorov đã
chia ngời kể chuyện thành ba hình thức dựa vào sự tơng quan về dung lợng
hiểu biết của ngời kể chuyện. Hình thức ngời kể chuyện lớn hơn nhân vật,
9
hình thức ngời kể chuyện bằng nhân vật, hình thức ngòi kể chuyện bé hơn
nhân vật.
Ngoài ý kiến của các nhà nghiên cứu nớc ngoài, các nhà nghiên cứu
Ngọc Kiếm, Vấn đề ngời kể chuyện trong truyện ngắn đơng đại của Bùi
Việt Thắng, Hình tợng ngời trần thuật trong tác phẩm Ngời tình của
Trần Huyền Sâm.[55].
Nh vậy, vấn đề lí thuyết ngời kể chuyện đã thu hút đợc nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu. Các ý kiến đều khẳng định ngời kể chuyện
là ngời đứng ra kể lại câu chuyện, ngời môi giới giữa các tác phẩm với bạn
đọc đồng thời là ngời thay mặt tác giả phát biểu những t tởng, quan điểm
của mình về cuộc sống. Tuy nhiên nhiều ý kiến về vấn đề lí thuyết ngời kể
chuyện vẫn còn nhiều chỗ cha thống nhất với nhau bởi lí thuyết ngời kể
chuyện là khá phức tạp. Từ các ý kiến của các nhà nghiên cứu cho thấy, ngời
kể chuyện trong tác phẩm tự sự là một vấn đề hấp dẫn và còn nhiều phơng
diện cần tiếp tục tìm hiểu.
Trớc đây, khi nghiên cứu vấn đề này ngời ta thờng thống nhất nó
với ngôi kể. Nghĩa là trong truyện ngời kể chuyện có thể xuất hiện ở ngôi thứ
nhất hay ngôi thứ ba. Song lí luận tự sự hiện đại không phân biệt ngôi thứ nhất
và ngôi thứ ba nh trớc vì ngôi kể chỉ là một hình thức ớc lệ. Sự khác biệt
giữa hai loại ngôi này chỉ là mức độ bộc lộ và hàm ẩn của ngời kể chuyện.
Nếu chỉ dừng lại ở ngôi kể thì chúng ta cha thể lí giải hết đợc sức hấp dẫn
của nhân vật nguời kể chuyện. Bởi vậy, để khẳng định ngời kể chuyện không
chỉ đơn thuần là ngời kể, ngời dẫn dắt câu chuyện mà còn là ngời định giá
t tởng, thẩm mĩ của tác phẩm. Luận văn sẽ xem xét ngời kể chuyện từ góc
độ điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu.
Mỗi nhà văn có một phong cách riêng độc đáo tiêu biểu thể hiện trong
các sáng tác của mình. Vì thế với việc nghiên cứu ngời kể chuyện sẽ giúp ta
11
có một công cụ để đi vào tìm hiểu và khám phá thế giới nghệ thuật, tìm ra
phong cách đặc trng của nhà văn đó.
1.2 Nam Cao (1917 - 1951) không chỉ là một nhà văn hiện thực xuất sắc
của văn học giai đoạn 1930 1945 mà còn là một trong những tên tuổi lớn
các nhà văn, các nhà nghiên cứu, phê bình, lí luận văn học. Nhiều những bài
viết, công trình nghiên cứu của Tô Hoài, Nguyễn Huy Tởng, Nguyên Hồng,
Nguyễn Đình Thi, Hà Minh Đứcđã cung cấp nhiều t liệu quí giá giúp
chúng ta tìm hiểu về Nam Cao sâu sắc hơn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu
mới chỉ quan tâm chủ yếu về phơng diện nội dung còn vấn đề về nghệ thuật
của tác phẩm thì cha đợc chú ý nhiều.
Thời kì đổi mới, Nam Cao đợc các nhà nghiên cứu khai thác sâu hơn
về mặt nghệ thuật. Đáng chú ý là các bài viết của các nhà nghiên cứu nh: Hà
Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đăng Suyền, Nguyễn Đăng Mạnh,
Phong Lê, Vũ Anh Tuấn, Bùi Công Thuấn
Trớc hết là một số ý kiến bàn về nghệ thuật kể chuyện.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung - ngời đã có nhiều công trình
nghiên cứu về Nam Cao đã nhận xét về cách kể chuyện của Nam Cao:
Cách kể chuyện của Nam Cao rất sinh động, có duyên, lời kể trên của
tác giả thờng xen lẫn độc thoại nội tâm của nhân vật, có truyện đợc kể theo
quan điểm nhân vật (Truyện tình, Từ ngày mẹ chết, Bài học quét nhà) chọn
quan điểm nhân vật nhà văn vừa kể chuyện, vừa miêu tả tâm lí, tính cách một
cách kín đáo, tự nhiên, câu chuyện diễn ra thêm chân thực, sinh động, mới
mẻ. Phải có khả năng đi sâu vào đời sống bên trong con ngời mới có thể kể
chuyện theo cách kể này [27, tr.81].
GS. Nguyễn Đăng Mạnh cũng nhận thấy một trong những yếu tố làm
nên sức hấp dẫn của truyện ngắn Nam Cao đó là:
Lối kể chuyện rất biến hoá, cứ nhập thẳng vào đời sống bên trong nhân
vật mà dẫn dắt mạch tự sự theo dòng độc thoại nội tâm. Lối kể chuyện theo
13
quan điểm nhân vật nh thế, tạo ra ở nhiều tác phẩm của Nam Cao, một thứ
kết cấu bề ngoài có vẻ rất phóng túng, tuỳ tiện mà thực ra thì hết sức chặt chẽ
nh không thể nào phá vỡ nổi [42, tr.93].
Bên cạnh nghệ thuật kể chuyện thì một số ý kiến cũng chỉ ra một số
sự thật trần trụi, tàn nhẫn của hiện thực. Đây đợc xem là một trong những
yếu tố tạo nên nét phong cách độc đáo của nhà văn. Còn với kiểu trần thuật
theo quan điểm nhân vật, ngời kể chuyện có thể thể hiện thế giới tâm hồn
nhân vật, tái hiện nhiều ý thức khác nhau tạo nên tính cách đa thanh của tác
phẩm [56, tr.192].
Vấn đề ngời kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao cũng đã đợc nhắc
đến ở một vài khía cạnh trong một số luận văn thạc sĩ:
- Giọng điệu ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác trớc cách mạng
tháng tám - 1945 của Nam Cao của Lê Hải Anh.
- Nghệ thuật trần thuật của Nam Cao trong truyện ngắn viết trớc
cách mạng tháng tám năm 1945 của Hoàng Thị Tâm.
- Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn (Qua sáng tác của Nam
Cao về đề tài nông dân) của Tiêu Thị Thu Thuỷ.
Từ những nhận định trên của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy
truyện ngắn của Nam Cao đã đợc các nhà nghiên cứu tiếp cận đánh giá theo
nhiều hớng đi và ở nhiều phơng diện khác nhau. Tuy nhiên, những ý kiến
đánh giá còn mang tính khái quát cha đi sâu khám phá một cách toàn diện về
phơng diện ngời kể chuyện. Do vấn đề ngời kể chuyện cha thực sự trở
thành đối tợng nghiên cứu độc lập của bất cứ một công trình nào. Bởi vậy
dựa trên những gợi ý nghiên cứu của những ngời đi trớc, chúng tôi rất muốn
tiếp tục tìm hiểu và làm sáng rõ hơn giá trị của phơng diện nghệ thuật này
trong truyện ngắn Nam Cao trớc cách mạng. Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài
Ngời kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao trớc cách mạng để nghiên cứu.
15
Việc tìm hiểu ngời kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao, một mặt
giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tài năng, phong cách của ông, mặt khác để hiểu
rõ hơn, cụ thể hơn về lí thuyế tự sự mà ngời kể chuyện là một phơng diện
không thể thiếu của lí thuyết này.
Cho đến nay, việc dạy học về Nam Cao và các tác phẩm của ông trong
Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát
truyện ngắn của Nam Cao trớc cách mạng tháng tám 1945. Chúng tôi chủ
yếu tập trung trích dẫn từ hai tập Tuyển tập Nam Cao (tập I và II) do GS. Hà
Minh Đức biên soạn.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, ngời viết luận văn sử dụng những phơng
pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phơng pháp hệ thống tổng hợp
Để tiến hành đề tài này, chúng tôi dùng hệ thống phơng pháp tổng hợp
để tìm hiểu những yếu tố đặc điểm và những biểu hiện cụ thể của ngời kể
chuyện trong truyện ngắn Nam Cao trớc cách mạng. Từ đó rút ra một số kết
luận về những đặc trng nổi bật của hình tợng ngời kể chuyện.
5.2 Phơng pháp phân loại, thống kê
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát và thống kê một
số đặc điểm quan trọng của hình tợng ngời kể chuyện trong truyện ngắn
Nam Cao: điểm nhìn kể chuyện, giọng điệu kể chuyện, ngôn ngữ kể chuyện.
5.3 Phơng pháp phân tích tác phẩm
Cùng với các phơng pháp trên, chúng tôi dùng phơng pháp phân tích
để làm sáng tỏ hình tợng ngời kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao trớc
cách mạng ở những tác phẩm cụ thể. Việc phân tích sẽ đợc thực hiện trên cơ
sở hệ thống những ý kiến của những ngời đi trớc và bằng sự soi sáng của lý
luận, sự tìm tòi của bản thân.
17
5.4 Phơng pháp so sánh
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp so sánh
đối chiếu. Chúng tôi tiến hành so sánh Nam Cao với một số tác giả trớc và
cùng thời với nhà văn trên cùng một phơng diện thể hiện.
Các phơng pháp này đợc phối hợp với nhau để làm sáng tỏ vấn đề
chuyện vẫn cha đợc các nhà nghiên cứu thống nhất hoàn toàn. Có nhiều tên
gọi khác nhau về khái niệm này. Có ngời gọi đó là ngời trần thuật, cũng
có ngời gọi là ngời kể chuyện. Thậm chí có ngời còn đặt ra sự phân biệt
giữa ngời kể chuyện thông thờng và ngời kể chuyện trong tác phẩm tự
sự. Việc sử dụng hai khái niệm này còn cha đợc phân biệt rõ ràng bởi cả hai
đều thể hiện điểm nhìn, quan điểm t tởng và lập trờng của nhà văn trớc
thế giới khách quan. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn hai khái niệm này
đợc chúng tôi xem là đồng nghĩa. Không chỉ có tên gọi khác nhau, việc xác
định nội hàm khái niệm cũng nh các đặc điểm xác định của ngời kể chuyện
trong tác phẩm cũng có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các nhà nghiên cứu.
Theo nhà nghiên cứu Tz. Todorov: Ngời kể chuyện là một nhân tố chủ
động trong việc kiến tạo thế giới h cấu. Chính ngời kể chuyện là một hiện
thân của những khuynh hớng mang tính xét đoán và đánh giá [11, tr.409].
Nh vậy, quan niệm của Tozodov cho thấy ngời kể chuyện không chỉ
là ngời kể mà còn là ngời định giá.
Trong quan niệm của W. Kayser, khái niệm ngời trần thuật mang tính
chất hình thức chức năng: Đó là một hình hài đợc sáng tạo ra, thuộc về toàn
bộ chỉnh thể tác phẩm văn học. ở nghệ thuật kể, không bao giờ ngời trần
thuật là vị tác giả đã hay cha nổi danh, nhng là cái vai mà tác giả bịa ra và
chấp nhận [26, tr.245].
GS. Phùng Văn Tửu lại cho rằng: Nói đến ngời kể chuyện là nói đến
điểm nhìn đợc xác định trong hệ đa phơng không gian, thời gian, tâm lí tạo
thành góc nhìn. Ngời kể chuyện là ai, kể chuyện ngời hay kể chuyện chính
19
bản thân mình, kể chuyện về không gian từ nơi xảy ra sự việc đến chỗ đứng
của ngời kể chuyện cũng nh độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi
sự việc đợc kể lại [62, tr.205].
Trên cơ sở kế thừa những định nghĩa trên, chúng tôi tổng hợp lại và đi
đến xác lập khái niệm về ngời kể chuyện nh sau:
ngời nghe. Còn ngời kể chuyện trong tác phẩm nghệ thuật lại không có
đợc quyền đó cho dù phản ứng của ngời đọc với câu chuyện họ kể là nh
thế nào. Những gì đợc kể ra trong tác phẩm là cố định, không thể thêm bớt
hay sửa chữa gì.
Nh vậy, ngời kể chuyện là một công cụ do nhà văn h cấu, sáng tạo
ra để thể hiện ý đồ đem câu chuyện của nhà văn đến với độc giả. Vì thế nó
không phải là một ngời kể chuyện thực tế mà là một công cụ nghệ thuật để
phục vụ cho ý đồ sáng tạo và chuyển tải nội dung t tởng của tác giả.
1.1.2 Ngời kể chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự
Trớc hết, ngời kể chuyện không phải ch là một nhân vật tham gia
trong tác phẩm nh các nhân vật khác mà còn có chức năng tổ chức các nhân
vật khác, đánh giá về các nhân vật khác. Ngời kể chuyện bắt tất cả các đặc
điểm của ngôn ngữ nhân vật mà họ nhắc tới phải lệ thuộc vào mình ngay cả
khi ngời kể chuyện cho nhân vật một sự độc lập đầy đủ về mặt ngôn ngữ
[61, tr.32]. Ngời kể chuyện thể hiện khả năng định giá đối với các nhân vật
ngay trong cách lựa chọn ngôn từ đó cho nhân vât khác sử dụng trong tác
phẩm sao cho hấp dẫn và đúng ý đồ của mình nhất [53, tr.32].
Có thể nói trong bất cứ truyện kể nào cũng khắc in cách nhìn, cách cảm
thụ, phơng thức t duy, năng lực trí tuệ và t chất tình cảm của nhân vật kể
chuyện đặc biệt này. Trong tập Giamilia - Truyện núi đồi và thảo nguyên của
Chingniz Aitmtov, ngời kể chuyện đã bày tỏ một cách trực tiếp tình cảm của
mình đối với ngời chị dâu, đã ca ngợi vẻ đẹp của chị, đồng cảm với việc chị
dám vợt lên cuộc sống, dám bớc qua những tập tục quái gở để tìm hạnh
21
phúc chân chính, đích thực của mình. Dù cho dân bản coi Giamalia là kẻ phản
bội thì ngời kể chuyện vẫn khẳng định: Có một mình tôi không chê trách
Giamlia. Tôi không phản bội chân lí, chân lí của cuộc sống, chân lí của hai
ngời đó.
Hai là vị trí của nhân vật ngời kể chuyện trong tác phẩm thay đổi rất
nhận đợc rằng giữa ngời kể chuyện và tác giả có một mối liên hệ mật thiết với
nhau. Bởi lẽ, xét đến cùng ngời kể chuyện cũng là một nhân vật do nhà văn
sáng tạo ra. Do đó cũng nh toàn bộ hình ảnh tác phẩm ngời kể chuyện hình
ảnh cũng đợc sáng tạo trên cơ sở thống nhất với toàn bộ chỉnh thể nghệ thuật
đợc tổ chức bởi t tởng chủ đạo, bởi thái độ thống nhất của tác giả đối với cuộc
sống, xã hội mà ngời kể chuyện miêu tả lại. Cho nên có thể đoán định âm sắc
của tác giả qua đối tợng câu chuyện kể cũng nh qua chính câu chuyện và hình
tợng ngời kể chuyện bộc lộ trong quá trình kể [6, tr.127].
Sự thống nhất giữa ngời kể chuyện và tác giả còn đợc thể hiện rõ hơn
trong các tác phẩm tự truyện. Đây là một thể loại tự sự do tác giả tự viết về
cuộc đời mình, lấy chính cuộc đời mình làm cơ sở cho sự sáng tạo. Vì thế, qua
cái tôi của ngời kể chuyện ta thấy hiện lên cái tôi của tác giả. Chẳn hạn,
trong một số tác phẩm tự truyện của Lan Khai, Nguyên Hồng, Nam Cao đã
xuất hiện những bức chân dung tự hoạ của tác giả. Trong Kiếp con tằm của
Lan Khai, qua lời kể của nhân vật tôi văn sĩ Khải về cảnh tợng bế tắc tủi
nhục của gia đình phải tìm đờng về quê cũng là sự kiện phải rời bỏ Hà thành
hồi hơng của gia đình Lan Khai đầu những năm 1940. Những ngày thơ ấu
của Nguyên Hồng là những kỉ niệm sâu sắc về thời thơ ấu của nhà văn. Cuộc
đời cơ cực và sóng gió của nhân vật tôi trong một gia cảnh éo le cũng chính
là hình tợng nhà văn Nguyên Hồng thời thơ ấu: mồ côi cha, phải sống gửi đói
cơm rách áo, bệnh tật, khao khát tình yêu thơng. Có thể thấy giữa ngời kể
chuyện và tác giả có nét thống nhất. Tuy nhiên ta tuyệt đối không đợc đồng
nhất giữa hai đối tợng này cho dù thái độ, t tởng của ngời kể chuyện đối
23
với thế giới câu chuyện đợc kể là có thể phần nào trùng khít với nhau. Song,
chúng không bao giờ trùng khít hoàn toàn vì: Quan điểm của tác giả chỉ có thể
đợc thể hiện qua điểm nhìn, tầm nhận thức của ngời kể chuyện nh một
hình tợng ít nhiều tồn tại độc lập. Quan điểm của tác giả thờng rộng hơn
những gì ngời kể chuyện có thể phát ngôn trong tác phẩm. Nó không thể bộc
tác giả cho chúng ta thấy rằng nhân vật ngời kể chuyện cũng có một cá tính,
một tính cách riêng độc đáo phân biệt với các nhân vật khác và với chính tác
giả. Nó cũng là một nhân vật đợc cá tính hoá rõ rệt, đó là tính cách của một
ngời kể chuyện với t cách là một điển hình nhất định. Nó có nhiệm vụ phát
hiện một thái độ nhất định đối với cuộc sống xem đó là tiêu chuẩn của hoạt
động con ngời, là một sự khái quát hoá nhất định. Trong bất kì trờng hợp
nào, nhân vật ngời kể chuyện cũng không đợc hoà lẫn với nhà văn mà là
một phạm trù nghệ thuật có những đặc điểm riêng về nội dung và hình thức.
Từ những đặc điểm trên của nhân vật ngời kể chuyện chúng ta có thể
đa ra một khái niệm về nhân vật này nh sau: Nhân vật ngời kể chuyện là
một hình tợng ớc lệ về ngời trần thuật trong tác phẩm văn học, là hình
tợng thống nhất nhng không đồng nhất với tác giả ngoài đời. Hình tợng
ngời kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn, một cách đánh giá bổ
sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trờng xã hội cho cái nhìn tác giả,
làm cho sự trình bày, tái tạo con ngời và đời sống trong tác phẩm thêm phong
phú, nhiều phối cảnh.
1.2 Chức năng của ngời kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Chúng ta đã biết ngời kể chuyện là một sản phẩm của sự sáng tạo nghệ
thuật, là một công cụ do nhà văn h cấu nên để kể chuyện. Vì thế, việc tác giả
lựa chọn đợc một hình thức thích hợp của ngời kể chuyện là một vấn đề
quan trọng có ý nghĩa đối với việc thể hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả và với
sự tác động, truyền cảm của tác phẩm đến ngời đọc. Bởi vậy trong các tác
phẩm của mình, các tác giả khi cầm bút đều cân nhắc rất kĩ khi lựa chọn ngời
25
kể chuyện để chuyển tải t tởng, nội dung một cách hiệu quả nhất. Vốn là
một ngời a triết lí, thích triết luận về những vấn đề có ý nghĩa chính trị, xã
hội, trong các sáng tác của Nguyễn Khải ngời kể chuyện thờng là một nhân
vật xng tôi để có thể bày tỏ quan điểm chính kiến của mình. Với ngời kể
chuyện xng tôi, nhà văn cũng có thể dễ dàng nói về những cái xấu, cái