Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao - Pdf 35

Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn

Hình tợng ngời nông dân trong
truyện ngắn của Nam Cao
Khoá luận tốt nghiệp: 1999- 2004
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Giáo viên hớng dẫn: Nguyễn Hữu Vinh
Sinh viên thực hiện: Võ Đình Hiền
Lớp:
40 E5 - Văn

Vinh, 5/2004

SVTH: Võ Đình Hiền

1


Lời cảm ơn

Để hoàn thành đ ợc luận văn này, ngoài sự nỗ
lực cố gắng của bản thân, chúng tôi còn đ ợc sự giúp
đỡ tận tình của thầy giáo h ớng dẫn Nguyễn Hữu
Vinh và sự góp ý chân tình của các thầy giáo, cô
giáo trong khoa Ngữ văn, sự động viên khích lệ của
bạn bè.
Nhân dịp hoàn thành luận văn này, chúng tôi
xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo h ớng dẫn cùng các thầy giáo, cô giáo trong khoa.
Vinh, tháng 5 2004

hiện thực và nhân đạo sâu sắc, có nhiều đóng góp về phơng châm quan
điểm sáng tác. Đặc biệt là tính chất hiện đại là một đặc điểm bao trùm lên
sáng tác của nhà văn. Do đó, tác phẩm của Nam Cao là đề tài nghiên cứu
phong phú và "hứa hẹn nhiều khả năng hoán vị" (Phong Lê)
Nghiên cứu về tác phẩm của Nam Cao có thể đứng ở nhiều góc độ,
ở mỗi góc độ khác nhau sẽ có những cách nhìn khác nhau. Chúng tôi nhận
thấy việc tiếp cận tác phẩm Nam Cao từ góc độ cái nhìn từ thế giới nhân
vật ngời nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao, là một hớng có khả
năng thâm nhập sâu vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Khám phá ra
những nét độc đáo của ông so với các nhà văn Hiện thực phê phán cùng
thời trên phơng diện chủ nghĩa hiện thực.
Nam Cao viết nhiều nhng tập trung ở hai mảng đề tài chủ yếu là
cuộc sống ngời nông dân và cuộc sống ngời trí thức tiểu t sản nghèo trong
xã hội trớc cách mạng tháng Tám. ở mảng đề tài nào thì Nam Cao cũng đã
đạt đợc những thành công rất lớn trong sáng tác của mình.
Trong những sáng tác của Nam Cao trớc cách mạng thì giới phê bình
cho rằng : ở đề tài viết về ngời nông dân, là đề tài thành công và đặc sắc
nhất trong cuộc đời sáng tác của Nam Cao. Trong những tác phẩm viết về
ngời nông dân, Nam Cao đã thể hiện một tính nhân văn cao cả với một bút
pháp hiện thực sâu sắc.
Có những chủ đề Nam Cao và có những nhân vật Nam Cao. Song
điều chúng tôi quan tâm trong luận văn này là tập trung hình tợng ngời
nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao. Chúng tôi mong muốn sẽ khám
phá sâu hơn trong thế giới nhân vật, những con ngời nông dân Việt Nam
trong xã hội phong kiến nửa thực dân. Và đồng thời qua đó sẽ khám phá
sâu hơn thế giới nghệ thuật của nhà văn, góp phần khẳng định những đóng

SVTH: Võ Đình Hiền

3

hình tợng nhân vật trong mảng đề tài nông thôn một cách kỹ lỡng.
Xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là một xã hội phong kiến
nửa thực dân. Ngời nông dân lúc bấy giờ phải sống trong bầu không khí
ngột ngạt và bế tắc, họ phải chịu cuộc sống một cổ ba tròng. Phản ánh
vấn đề này đã có rất nhiều tác giả, nhà văn nổi tiếng nh Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng phụng và đặc biệt là Nam Cao. ở mỗi nhà
văn lại có phong cách nghệ thuật khác nhau. Cũng khai thác ở hai mảng đề
tài trên, đề tài nông dân và đề tài trí thức tiểu t sản, song ở sáng tác của
Nam Cao bức tranh hiện thực không chỉ nghiêng về bình diện phản ánh.,
quan sát mà còn xâm nhập sâu vào bản chất những cái vặt vãnh, tủn mủn
của đời sống hằng ngày. Trong sáng tác Nam Cao, những điều tởng nh
không đâu vào đâu thờng lại tác động mạnh mẽ đến nhân cách con ngời
"Nh tảng đá cứ đè trĩu lên lòng ngời".
Hầu hết các nhà nghiên cứu có chung một nhận xét : Nam Cao tỏ ra
có sở trờng trong miêu tả tâm trạng quá trình diễn biến tâm lý phức tạp của
nhân vật, làm nổi bật bi kịch đời thờng, bi kịch nhân cách, bi kịch tinh thần
cuả con ngời và điều quan trọng hơn là vơn lên trên cái khung đề tài là vấn
đề kiếp ngời, thân phận con ngời vấn đề con ngời bị tha hoá, bị biến chất

SVTH: Võ Đình Hiền

5


về đạo đức và băng hoại về phẩm chất. Nhà nghiên Hà Minh Đức đã nhận
xét : "Nhìn theo đề tài thì trong tác phẩm Nam Cao có sự phân chia giữa
tác phẩm viết về ngời nông dân và tác phẩm viết về ngời trí thức tiểu t sản ,
nhng trong chiều sâu của vấn đề thì chỉ là một"
Trong công trình "Văn hoá văn nghệ 1900 - 1945", Hà Văn Đức khi
viết về Nam Cao đã đề cập đến vấn đề nhân đạo của nhà văn đối với ngời

xem xét đặc điểm tính cách của nhân vật nông dân trong sáng tác của Nam

SVTH: Võ Đình Hiền

6


Cao, cũng nh các biện pháp nghệ thuật khi Nam Cao xây dựng lên những
nhân vật ấy, trên cơ sở đối chiếu với lí luận xây dựng hình tợng nhân vật và
rút ra các kết luận cần thiết. Từ đó góp phần khẳng định các giá trị trong
sáng tác Nam Cao, cũng nh vị trí của ông trong lịch sử văn học nớc nhà.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phơng pháp
nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Vận dụng phơng pháp luận phân tích nhân vật trên cơ sở các thao tác
quen thuộc của nghiên cứu khoa học nh so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng
hợp, khái quát. Phơng pháp so sánh có hai phơng diện: So sánh Nam Cao
với các nhà văn đơng thời ở trong nớc, đặc biệt là các nhà văn Hiện thực
phê phán, và so sánh Nam Cao với một số nhà văn khác trên thế giới có
cùng đề tài sáng tác, cùng hoàn cảnh xã hội. Phơng pháp này đợc thực hiện
khá rộng rãi và tự do, nhng chúng tôi cũng tránh sự tuỳ tiện để cho kết quả
nghiên cứu đợc khách quan.
B- Phần nội dung .
Chơng I
Quan niệm nghệ thuật về con ngời của
nhà văn. nhân vật trong tác phẩm văn học.

I- Quan niệm nghệ thuật về con ngời của nhà văn.
Văn học là nhân học, đối tợng chủ yếu của nó là con ngời, không thể
lý giải một hệ thống văn, thơ, mà bỏ qua con ngời đợc thể hiện trong đó.
Không chỉ con ngời thực tế, mà còn là quan niệm về con ngời ấy một cách

nhân mình mà chỉ có nghệ thuật mới dám phát hiện ra tính ngời cha bị tiêu
diệt hoàn toàn ở kẻ cớp, hay những con ngời tha hoá biến chất. Vì trong
tình huống kia nó là ác quỷ. Nhng trong tình huống này nó trở thành vị
thánh cứu nhân, độ thế. Nhà văn muốn nêu quan niệm của mình về con ngời thì cần phải hiểu trong một con ngời vừa có những điểm tiêu cực, nhng
đồng thời vừa chứa những điểm tích cực, tuỳ theo tình huống của đời sống
mà yếu tố này hay yếu tố kia nổi lên chiếm u thế. Vì vậy không nên đánh
giá con ngời bằng những bản mẫu về những giá trị cho trớc, cần phải khẳng
định con ngời trong tình huống cụ thể để lý giải và đánh giá nó. Bởi vì con
ngời là sản phẩm sáng tạo độc đáo của nhà văn, nó là cách đánh giá, lý
giải, cắt nghĩa của nhà văn, nó đợc biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật.
Bên cạnh đó quan niệm nghệ thuật về con ngời mang dấu ấn sáng
tạo cá tính nghệ sĩ gắn liền vơí cái nhìn của nghệ sĩ.
Đối với Nguyễn Công Hoan mỗi con ngời là một diễn viên đóng trò
trong tấn trò đời. "Đời là sân khấu hài kịch". Đây là kẻ làm trò thủy chung
"Oẵn tà Roằn", kia là kẻ làm trò thể dục "Tinh thần thể dục" làm trò là
trạng thái không thật của con ngời. Khi mọi ngời đều đóng trò thì ta có một
xã hội giả dối, đánh mất bản chất thật của con ngời. Bên cạnh đó Nguyễn
Công Hoan còn miêu tả con ngời vật hoá: ngời ngựa, ngựa ngời, ngời
tranh cơm với chó, ngời biến thành cây thịt, bộ xơng.
Còn Ngô Tất Tố lại quan niệm bản chất tốt đẹp của con ngời. Đó là
những phẩm chất không bị tha hoá, không tự thay đổi trớc sức ép tàn bạo
của hoàn cảnh, hay đúng hơn, chúng bị đe doạ thay đổi, chứng tỏ rằng
trong bức tranh hiện thực khắc nghiệt nhà văn vẫn giành một khung trời
lãng mạn cho các nhân vật của mình.

SVTH: Võ Đình Hiền

8



1- Khái niệm nhân vật.
Nhân vật là con ngời đợc nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm văn
học. Nó có thể có tên, hoặc không có tên, nhng nó tham gia vào bộc lộ chủ
đề, bộc lộ t tởng trong tác phẩm văn học.
Trên đây là khái niệm mà ngời ta thờng dùng nhng thực chất khái
niệm nhân vật cần đợc hiểu rộng hơn. Bởi vì ngoài việc con ngời là nhân

SVTH: Võ Đình Hiền

9


vật trong tác phẩm văn học nó còn đợc biểu hiện trên nhiều phơng diện
khác nhau nh : Nhân vật trong tác phẩm có khi là những con vật, thần linh,
ma quái. Những con vật đợc nhân hoá có tính cách cuộc sống nh con ngời,
có khi nhân vật chỉ là hiện tợng tự nhiên "Trăng vào cửa sổ đòi thơ" và có
lúc nhân vật chỉ là một hiện tợng trong xã hội, ví nh : Đồng tiền là nhân vật
chính trong tác phẩm của Banzắc hay "Chiếc quan tài" là nhân vật chính
trong truyện ngắn "Chiếc quan tài" của Nguyễn Công Hoan. Hoặc "Thời
gian" là nhân vật của truyện Sê khốp.
2- Những biểu hiện của kiểu nhân vật trong tác phẩm văn học.
Con ngời là đối tợng chủ yếu của văn học. Dù tác phẩm trữ tình, tự
sự, kịch, dù trực tiếp hay gián tiếp thì văn học đều miêu tả con ngời một
cách tập trung. Nhân vật văn học là những con ngời có tên hoặc không có
tên ví nh một "Mụ nào" trong truyện Kiều hay "Tiểu đồng" trong( Lục Vân
Tiên ) có những tính cách địa vị nhất định, xuất hiện trong tác phẩm để
thực hiện hành động nhất định nhằm thể hiện những t tởng nhất định của
tác giả đối với nhân sinh. Nhân vật văn học là do nhà văn h cấu ra, có nghĩa
là do nhà văn "bịa" ra. Điều này chứng tỏ rằng: Nhân vật là một hiện tợng ớc lệ, vì thế khi tìm hiểu hay phân tích, bình phẩm nhân vật trong tác phẩm
, thì không nên đồng nhất nhân vật trong tác phẩm với con ngời ở ngoài

phải thông qua cái cụ thể, cảm tính. Bởi mục đích của nhà văn khi sáng tạo
là nhằm khái quát hiện thực đời sống, khám phá đời sống và nhằm rút ra
nhận định trong đời sống. Nhà văn phát biểu t tởng của mình về đời sống
qua việc kể lại số phận con ngời của cuộc sống. Trong cuộc sống và xã hội
thì con ngời là một thế giới phong phú và đa dạng, mà nhân vật là con ngời
đợc miêu tả trong văn học bằng phơng tiện văn học, do đó nhân vật cũng đợc thể hiện hết sức đa dạng và phong phú, Tuỳ theo từng thể loại văn học
mà biểu hiện nhân vật trong tác phẩm, nên nhân vật trong tác phẩm văn
học mang dấu ấn cá tính và t tởng của nhà văn. Bởi sáng tạo ra nhân vật là
nhà văn nhằm sáng tạo ra tính cách tiêu biểu của thời đại, văn học của thời
đại nào thì tái hiện tính cách thời đại ấy. Nhân vật văn học nh là một hệ quả
khi mô tả, tái hiện cuộc sống của con ngời, tái hiện tính cách nhân vật thì
nhà văn tái hiện hoàn cảnh lịch sử, nhờ thế một bức tranh xã hội rộng lớn
xuất hiện trong tác phẩm.
Trong tác phẩm văn học từ những góc độ khác nhau có thể chia nhân
vật văn học thành nhiều loại khác nhau. Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ
thể, với cốt truyện của tác phẩm thì nhân vật văn học đợc chia thành: nhân
vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm. Còn dựa vào đặc điểm của
tính cách, việc truyền đạt lý tởng của nhà văn, nhân vật văn học đợc chia
thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện. Căn cứ vào cấu trúc hình
tợng, thì nhân vật đợc chia thành nhân vật chức năng (hay mặt nạ), nhân
vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật t tởng.
Tóm lại : Nhân vật văn học dù đợc thể hiện ở hình tợng nào thì nói
một cách khái quát rằng:
Nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả trong văn học bằng phơng
tiện văn học. Nó vừa là phơng tiện khái quát hiện thực của nhà văn. Thông
qua nhân vật thể hiện t tởng, quan niệm nghệ thuật và lý tởng thẩm mỹ của
nhà văn về con ngời về cuộc sống.
III - Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao.

SVTH: Võ Đình Hiền

ngời lơng thiện biết bao, và Chí đã nhận ra những âm thanh của cuộc sống
thờng ngày. Chí còn ớc ao có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mớn làm
thuê, vợ dệt vải, có vốn thì nuôi vài ba con lợn làm giống Vậy thử hỏi nếu
một con ngời không có một tri thức nhất định, hay con ngời đó không còn
ý thức thì làm sao có sự thay đổi và ớc mơ nh vậy.
Đến với Lão Hạc trong truyện(Lão Hạc) thì Nam Cao đã đề cập đến
nhân cách của con ngời rất rõ nét ở hình tợng Lão Hạc, Lão Hạc là một bần
nông nghèo đói nhng vốn có lòng tự trọng, lại là ngời thuỷ chung, có tâm
hồn cao thợng, một phẩm chất trong sáng và một tâm hồn ngay thẳng,
trong sạch và đau đớn. Chẳng hạn nh chi tiết Lão Hạc nói tới chuyện bán
chó. Lão Hạc bán chó không phải vì mình mà sợ thiệt tiền của con. Hay lão
làm ra vẻ kẻ gian để xin Binh Chức bả chó nhng là để tự sát, lão chọn cái
chết để giữ số tiền cho con bởi sau này còn có cới vợ, trớc lúc chết lão còn
dành dụm một số tiền lo ma chay để khỏi phải phiền đến bà con lối xóm.
Rồi lão chết một cách dữ dội mà ngời ngoài không ai hiểu gì. Nam Cao đã
khắc hoạ một con ngời nội tâm sâu sắc, cao thợng bên trong một con ngời
bề ngoài có vẻ tầm thờng.
Qua hai hình tợng Chí Phèo và Lão Hạc Nam Cao đã phát hiện ra
rằng, dù xã hội có mục nát, con ngời có nghèo đói bần cùng, bị tha hoá,
thậm chí bị đẩy vào dới lớp đáy bùn nhơ của cuộc sống và xã hội, nhng
nhân tính con ngời luôn nguyên vẹn. Có thể nói đây là phần nhân tính cao
đẹp của những nhân vật của Nam Cao nh Lão Hạc, Chí Phèo, Điền, Hộ,
Thứ. Đó là những nhân cách sáng ngời, đó là những phẩm chất tốt đẹp của
con ngời dù là nông dân hay là tầng lớp trí thức. Dù xã hội đó có mục nát,
có đầy đoạ, chà đạp hay thậm chí cớp đi quyền làm ngời , quyền sống của
họ thì ở trong sâu thẳm tâm hồn họ, cái bản chất tốt đẹp mang tính chất

SVTH: Võ Đình Hiền

13

Mỗi nhà văn đều có một thế giới nhân vật riêng của mình. Qua đó ta
hiểu đợc những quan điểm hay cách nhìn đời, nhìn ngời, phản ánh cuộc
sống trên nhiều bình diện khác nhau. Nam Cao một nhà văn hiện thực, một
cây bút sắc sảo trong văn học hiện thực lúc bấy giờ. Truyện của Nam Cao
tập trung miêu tả ở hai đề tài chính: Ngời nông dân và ngời trí thức tiểu t
sản. Nhng đó đều là những tác phẩm xuất sắc. ở đề tài nông dân, Nam Cao
đã đi sâu phân tích tính cách ngời nông dân Việt Nam trớc cách mạng
tháng Tám năm 1945.
Lúc Nam Cao bớc vào con đờng văn học, cũng là lúc xã hội Việt
Nam chao đảo, ngột ngạt và bế tắc nhất, các giai cấp bị phân hoá dữ dội.
Đời sống ngời nông dân bị đe doạ hơn bao giờ hết. Họ phải chịu ba tầng áp
bức bóc lột. Địa chủ, t sản mại bản và thực dân Pháp. Cuộc sống của ngời
nông dân khổ cực trăm bề, họ phải sống trong tình cảnh đói nghèo, vất vả
bần cùng về vật chất lẫn tinh thần. Viết về ngời nông dân trong thời kỳ
cùng quẫn, bế tắc này, Nam Cao không dừng lại ở hiện tợng bề mặt, ông có
gắng đi sâu vào bản chất của sự vật và bày tỏ thaí độ đồng cảm xót thơng
với những số phận lao khổ. Nam Cao không nhìn ngời nghèo với con mắt
khinh bỉ, giễu cợt nhng cũng không thi vị hoá, lý tởng họ. Với tấm lòng
nhân đạo yêu thơng và hiểu biết sâu sắc về con ngời, với vốn sống thôn quê
phong phú đã giúp Nam Cao nhìn cuộc sống của ngời dân một cách sinh
động. Từ một vùng quê của mình, Nam Cao đã khái quát cả một thực trạng
trong thời kỳ đen tối, Nam Cao đã tạo ra một không khí nông thôn rất đặc
biệt của riêng ông.

SVTH: Võ Đình Hiền

15


Ngời nông dân trong "Tắt Đèn" của Ngô Tất Tố phải sống trong bầu

có nhiều chỗ vá thật to.
"Dần không chịu mặc cái áo dài mà mẹ chồng đa cho, thành thử lại
chính bà khoác cái áo ấy trên vai, Dần mặc cái áo ngày thờng. Nghĩa là

SVTH: Võ Đình Hiền

16


một cái quần cồng cộc xẩng và đáp những miếng vá thật to, một cái áo
cánh bạc phếch và vá nhiều chỗ lắm, một bên rách quá đã xé toạc gần đến
nách "[4 -112 ] .
Cái nghèo cái đói nh bám chặt cuộc sống của ngời nông dân, họ có
chạy đến cùng trời cũng không thoát khỏi cái nghèo. Biết bao số phận chết
vì đói, vì ốm đau không có tiền mua thuốc. Anh "Đĩ chuột" trong truyện
"Nghèo" phải thắt cổ tự tử để bớt đi gánh nặng cho vợ con, cái chết thật là
thảm thơng "Cái bộ xơng da bọc giãy dụa nh một con gà bị gãy. Sau cùng
nó chỉ giật từng cái sợi dây thừng lủng lẳng [4-10 ]" Phúc trong "Điếu văn"
thì "ốm đau nằm chết khổ chết mỏ" trên giờng, hai đứa con anh "ẻo lẻ nh
một cái lá úa và buồn nh một tiếng thở dài ngồi ủ rũ nhìn anh bằng đôi mắt
dại đi vì đói quá: "Anh chết sau khi đã vắt hết sức nuôi vợ, nuôi con. Cái
đói, cái nghèo, miếng cơm và manh áo đã làm những ngời cha đánh mất lơng tâm trớc những đứa con thơ, nh nhân vật "Hắn" trong truyện "Trẻ con
không đợc ăn thịt chó". Hắn và mấy ngời bạn cứ thế mà đánh chén, mà
dành nhau, hả hê với những cốc rợu và thịt chó. Trong lúc đó có biết đâu
những đứa con thơ thì "Nó lăn vào lòng mẹ, oằn oại vừa hủ hi kêu : Đói!
Bu ơi ! Đói" Rút cuộc đáp lại lời kêu than ấy là một sự thơng tâm đau xót
xẩy ra. "Ngời mẹ xịu ngay mặt xuống, trong mâm chỉ còn bát không thằng cu khóc oà lên. Nó lăn ra chân đạp nh một ngời dãy chết, tay cào xé
mẹ. Ngời mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi rng rng khóc, cái Gái, cu nhớn, cu
nhỏ cũng khóc theo" [ 4 - 127 ]
Số phận của ngời nông dân trong nhiều truyện ngắn của Nam Cao đợc đặt ở những thử thách khốc liệt của cảnh nghèo mà không ít nhân vật đã

nổi. Thật chua xót biết bao khi lão thốt lên: "Kiếp con chó là kiếp khổ thì
ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp ngời, may ra có sung sớng hơn một
chútkiếp ngời nh kiếp tôi chẳng hạn" [4-92 ] . Không muốn ăn tiêu hao
dần vào đồng tiền giành dụm cho con, lão buộc phải kết liễu đời mình bằng
cái chết thật thảm khốc. "Lão tru tréo bọt mép xùi ra, khắp ngời chốc chốc
lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên"c [4- 96] . Lão chết. Một mặt lão Hạc
thấm thía cái kiếp sống vô nghĩa, sống thừa của đời mình. Lão sống là sẽ
ăn lẹm vào tiền của con. Trớc lúc lão chết, lão còn lo chuyện trớc để khỏi
phiều đến bà con lối xóm.
Nh vậy lão Hạc đã chọn trung thành với tính cách của mình. Lão đã
xoá mình ra khỏi mảnh vờn để nó đợc tồn tại. Lão xoá mình khỏi cuộc
sống của đứa con để cho nó niềm hy vọng gắn bó với cội nguồn. Lão xoá
mình ra khỏi cõi thế phiều trợt này để giữ gìn lẽ sống của chính mình. Lão
là nhân vật tập trung nhiều phẩm chất đẹp đến bất ngờ.Lão Hạc là ngời lơng thiện dới ngòi bút tài hoa của Nam Cao. Ta thấy rõ một ông lão nông
dân quay quắt trong sự ràng buộc nghiệt ngã của đói nghèo và cô quạnh,
thế mà tâm hồn của lão cha hề bị cắt vụn, thế mà thể xác của lão cha bao
giờ là bản năng. Ngợc lại trong tất cả những tính toán chi li tội nghiệp của
lão là một sự vật vã tinh thần dữ dội vật vã cho đến chết. Nhng cuối cùng
lão vẫn là ngời tự do, tự do trong sự lựa chọn bi đát của mình. Đó là điều bí

SVTH: Võ Đình Hiền

18


mật sau cùng mà Nam Cao tìm thấy ở ngời nông dân. nhìn con ngời từ phơng diện nh vậy tạo cho Nam Cao những cái mới mẻ trong quan niệm về
con ngời của ông, đồng thời cũng là sự khẳng định lập trờng vì con ngời
hay những bớc đi kiên định, không chệch hớng sa vào chủ nghĩa tự nhiên
nh một số ngời đã nhận xét.
Viết về ngời nông dân, Nam Cao không chỉ tập trung miêu tả về cái

mệt mỏi. Ngời nông dân trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ phải chịu bao
nhiêu là khổ cực: sự bắt bớ đi lính, đi phu, sự chia lìa tình yêu và cái đói
nghèo, lễ giáo phong kiến luôn luôn hành hạ họ. Nam Cao đã nắm bắt đợc
hiện thực cuộc sống này để miêu tả nó.
Trong truyện "Chí Phèo", Chí Phèo trong cuộc sống của mình đã
từng mơ ớc có một gia đình Chồng cuốc mớn cày thuê.Vợ dệt vải. Chúng
lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào
ruộng làm" [ 4-38 ] .
Đó là mơ ớc chính đáng. Sau khi Chí đi tù về đã trở thành con quỹ
dữ. Cuộc gặp gỡ thị Nở, bằng tình yêu chân chính của thị, bằng bát cháo
hành ấm nặng tình ngời đã thức dậy trong ngời Chí những mơ ớc để trở
thành ngời lơng thiện, làm sống dậy trong con ngời tội nghiệp này khát
khao làm ngời. Lâu lắm rồi anh nghe đợc tiếng chim ríu rít, tiếng chân ngời
đi chợ về "Nhng hôm nay hắn mới nghe thấy".Lần đầu tiên trong đời hơn
bốn mơi tuổi Chí mới cảm nhận đợc cái cô đơn, cái buồn và sự chờ đợi. Chí
khát khao làm ngời lơng thiện "Y muốn làm ngời lơng thiện biết bao". Nhng khát khao đó không thực hiện đợc, bởi từ lâu mọi ngời đã coi Chí là con
vật, một kẻ bỏ đi. Ngời ta không quan niệm một kẻ nh Chí Phèo lại có ớc
mơ làm ngời "lơng thiện". Khát khao chính đáng ấy đã bị phủ nhận một
cách phũ phàng. Anh rơi vào bi kịch vô cùng đau xót, bi kịch bị cự tuyệt
làm ngời. Uất đến cực điểm anh đã vùng dậy đâm chết kẻ thù và tự kết liễu
cuộc đời."Anh chết giãy dụa trên một vũng máu", cái chết mang tính chất
bi kịch. Một cái chết gây nên sự đồng cảm sâu sắc của ngời đọc vì đó là
cái chết để khẳng định sự sống, khẳng định bản chất lơng thiện của con ngời.

SVTH: Võ Đình Hiền

22


Trong tác phẩm "Dì Hảo", Dì Hảo mong có một ông chồng, dù đó là

ở nhà cố mà chăm lấy" [ 4-437 ] .
Nhận đợc tình yêu, một sự cảm thông của Nhi, một con ngời xấu xí
nhng biết nhìn nhận Đức nh một con ngời - Đức một ngời đờ đẫn bỗng trở

SVTH: Võ Đình Hiền

23


nên khác hẳn. Đức nhanh nhẹn hẳn lên, hay tủm tỉm cời, hay trò chuyện,
biết lo xa tính toán và mu cầu hạnh phúc của gia đình.
Nhng tình yêu và khát khao của Đức và Nhi, hai kẻ khốn cùng tủi
nhục ấy bị vùi dập phũ phàng bởi sự tàn nhẫn của ông Cửu Hoà, bởi thành
kiến, định kiến độc ác của những kẻ "ngứa mồm". Những quân "quân dông
dài" đã khiến họ phải chịu bao bao sự đày đoạ và tủi nhục. Tình yêu bị li
tán, khát khao hạnh phúc bị vỡ tan. Nhi thì mất tích, Đức trở thành du côn
trong làng, phá phách nhà cửa và gây biết bao sự đau khổ, tủi nhục cho một
ngời bà gần nh trong cuộc đời còm cõi chỉ biết làm lụng nuôi con rồi nuôi
cháu.
Trong truyện "Làm tổ", Thai trở thành kẻ say rợu,say mê cờ bạc, bán
mảnh vờn, trở thành kẻ làm thuê cuốc mớn. Không có vợ con nhng tận
trong sâu thẳm tâm hồn gã trai cờ bạc này vẫn khát khao "Thai nghĩ đến
vợ, đến đứa con nhỏ, đến những buổi tối cuả những mùa rét mớt, cái ổ rơm
nóng ấm, mẻ ngô rang thơm ngọt, tiếng trẻ em cời giòn". Trong con ngời
này mong muốn có một chốn đi về nh con chim có tổ. "Cái khó bây giờ là
làm sao có nhà" [ 4-324 ] .
Vậy mà gia đình Thai phải rơi vào bi kịch của cái khó khăn giữa
một bên là gia đình,vợ chồng và một bên là nhà để ở.
III. Những phẩm chất tốt đẹp của ngời nông dân trong truyện
ngắn Nam Cao .

Có những cuộc đời cơ cực, lầm than. cuộc sống của họ lúc bấy giờ là
thân mình cũng cha nuôi nổi thân mình, vậy mà có những con ngời vẫn mở
tấm lòng nhân đạo "lấy lá lành đùm lá rách" để đón nhận những sinh linh
nhỏ bé mồ côi, không cha, không mẹ hay những đứa con, đứa cháu bất
hạnh. Họ gạt cái đói, cái nghèo sang một bên để sẵn sàng làm một việc tốt
lành, đức độ, ví nh : Bà Quản Thích trong truyện "Nửa đêm". "Bà là ngời
nhân đức mà vùng này đều quen biết". Bà đã nhận nuôi con bé không có lai
lịch. "Đây là con cuả một kẻ khốn cùng, đi lang thang từ làng này sang
làng khác để xin gạo thừa cơm nguội của những nhà phúc đức, không lấy
gì nuôi con đợc, nó đem đến sân nhà tôi rồi bỏ đi. Bà cha có trẻ nhỏ trong
nhà, hãy nhận lấy nó mà nuôi nh là con đẻ vậy"[ 4-420. ] . Và bà đã nhận
lấy với tất cả tấm lòng trìu mến, thơng yêu."Bà nhận lấy nh là một việc tốt
lành, bà nâng niu nó chẳng khác gì con của bà". Bà yêu thơng nó, và nó lớn
rất nhanh. Rồi tới "Đức" - sản phẩm của "ông Thiên lôi đâm lòi bụng vợ"
và ngời đàn bà bỏ Đức theo trai. Một lần nữa bà Quản Thích lại nới rộng
vòng tay âu yếm tình ngời, bà giữ tất cả niềm tin yêu vào cho đứa cháu của
bà. Vậy mà cái nghèo, cái đói, sự vùi dập, sự dèm pha đầy thành kiến của
ông bà Cửu Hoà và những ngời xung quanh đã cớp đi tình yêu, khát khao
tổ ấm gia đình của Đức, đã biến Đức thành kẻ du côn, giết ngời ở nơi đất
khách quê ngời. Nhng với trái tim nhân đạo và cái nhìn sắc sảo Nam Cao
đã hớng ngòi bút của mình vào việc khám phá con ngời trong con ngời,
miêu tả và phân tích mọi chiều sâu, mọi chuyển biến trong thế giới nội tâm
của nhân vật. Do vậy, ông đã phát hiện ra ở trong sâu thẳm tâm hồn của kẻ
du côn giết ngời vẫn có những giây phút là một con ngời. Con ngời đó có
nhân tính. Đúng vậy ! Đức đã sa vào con đờng lu manh nhng Đức vẫn có
khoảnh khắc nhớ đến ngời bà và nhớ đến công ơn của bà. Hắn bảo: "con về

SVTH: Võ Đình Hiền

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status