TRƯƠNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HA NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THI PHƯƠNG THẢO
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG CÂY TỎI NỔI GIẬN CỦA
MẠC NGÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
HA NỘI, 2019
TRƯƠNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HA NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THI PHƯƠNG THẢO
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG CÂY TỎI NỔI GIẬN CỦA
MẠC NGÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Người hướng dẫn khoa học
Người thực hiện
Nguyễn Thị Phương Thảo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1.Lí do lựa chọn đề tài....................................................................................... 1
2.Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2
3.Mục đích nghiên cứu...................................................................................... 5
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 5
5.Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 6
6.Đóng góp của khóa luận................................................................................. 6
7.Bố cục khóa luận ............................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chương 1: ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG CÂY TỎI NỔI GIẬN CỦA MẠC NGÔN........................................... 7
1.1. Mạc Ngôn và hành trình đến với giải thưởng Nobel Văn học................... 7
1.2.Khái niệm nhân vật và hình tượng nhân vật ............................................. 11
1.2.1. Nhân vật văn học................................................................................... 11
1.2.2. Hình tượng nhân vật.............................................................................. 13
1.3. Một số đặc điểm hình tượng người nông dân trong Cây tỏi nổi giận của
Mạc Ngôn........................................................................................................ 14
1.3.1. Cây tỏi – người nông dân “nổi giận” .................................................... 15
1.3.2.Con người hiền lành, chất phác, lương thiện ......................................... 18
1.3.3. Khao khát tình yêu tự do....................................................................... 22
1.3.4. Khao khát cuộc sống đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần.......................... 24
1.3.5.Những số phận bi kịch ........................................................................... 25
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 36
Chương 2: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG
xem là “hiện tượng lạ” trên văn đàn. Ông được coi là cây bút xuất sắc của văn
học hiện đại Trung Quốc với một tâm hồn không lúc nào bình lặng, mà luôn
vật lộn gay gắt, chiến đấu cho những lý tưởng thiên lương cao đẹp trong con
người. Ông là hiện tượng độc đáo bởi mỗi tác phẩm đều chứa đựng những
điều mới mẻ, và đặc biệt hơn cả là “sự bùng nổ cảm giác” [1, tr.7] giúp người
đọc như nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy, và cảm nhận thấy qua mỗi trang viết
của ông. Đọc những trang văn của Mạc Ngôn độc giả cũng thấy được những
phức tạp của tâm hồn, và muốn phá vỡ khuôn phép, những chuẩn đạo đức xã
hội để vươn tới cái tự do cả về tâm hồn lẫn thể xác, bởi phương châm khi
sáng tác của ông vô cùng đặc sắc đó là không bao giờ lặp lại mình. Mạc Ngôn
1
xuất hiện giữa văn đàn như một ngôi sao chói lòa, góp vào nền văn học một
tiếng nói mới, một phong cách hoàn toàn mới trong việc tái hiện lại cuộc sống
và con người trong thời đại mới.
Mạc Ngôn đã lao động không ngừng để sáng tạo ra khối lượng lớn tác
phẩm có giá trị nhằm mang đến cho độc giả trong nước và thế giới. Xuyên
suốt trong nhiều tác phẩm, ta thấy nếu như ông không phải người nông dân
trải nghiệm qua bao niềm vui nỗi buồn ở nông thôn thì ông sẽ không thể tạo
ra được những kiệt tác chân thực đến vậy. Phần lớn các sáng tác của Mạc
Ngôn phản ánh đời sống của người nông dân trong các giai đoạn phát triển
lịch sử. Hiện thực nông thôn trong xã hội Trung Quốc mà ông phản ánh là
lịch sử chân thực nhưng được ông lạ hóa, mang đậm những dấu ấn của chủ
thể nhà văn. Cảnh bom rơi đạn nổ, máu chảy, bạo lực, thù hận và yêu thương,
nhân tính và thú tính hòa vào nhau một cách sinh động, hấp dẫn. Nhà văn dẫn
người đọc vào thế giới lịch sử giúp độc giả như nghe thấy, cảm nhận thấy,
ngửi thấy mùi vị tanh tưởi, và cảnh tượng thần bí của cánh đồng cao lương
vùng Đông Bắc Trung Quốc.
dân gian. Ngôn ngữ dân gian trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn sử dụng nhiều
thành ngữ, ngạn ngữ, khẩu ngữ của vùng Đông Bắc Cao Mật.
Trong cuốn Bình luận tác giả đương đại Trung Quốc () kỳ
6, tác giả Trình Quang Vỹ có nói: “Hơn hai mươi năm nay trên diễn đàn văn
học Trung Quốc, các bài bình luận về Mạc Ngôn nhiều không kể xiết”. Theo
thống kê trong phụ lục Tư liệu nghiên cứu Mạc Ngôn do Dương Dương biên
soạn, số lượng bài viết về Mạc Ngôn khoảng hơn 350 bài. Con số trên chưa
bao gồm các bài báo mang tính chất địa phương, các trang mạng, các bài viết
trong các trường Đại học. Như vậy có thể thấy tên tuổi Mạc Ngôn đã có vị trí
quan trọng trong nền văn học đương đại Trung Quốc.
Ở Việt Nam, bài nghiên cứu có phần toàn diện về tiểu thuyết Mạc Ngôn
là của giáo sư Lê Huy Tiêu: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
(Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4, năm 2003). Giáo sư khái quát đặc trưng
nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn là thủ pháp lạ hóa. Và ông cũng
cho rằng thế giới nhân vật gồm ba thế hệ nhân vật tiêu biểu cho tinh thần cần
cù dũng cảm của quê hương Cao Mật. Theo ông: “Mạc Ngôn đã có những
sáng tạo nghệ thuật, đưa người đọc đến những nhận thức mới mẻ về cuộc
sống ngay trên những điều hết sức quen thuộc”. Nhưng tác giả chưa đi sâu
làm rõ bản chất người nông dân trong các sáng tác của Mạc Ngôn.
Trong quyển Mạc Ngôn với những lời tự bạch do Nguyễn Thị Thại sưu
tầm và dịch lại những bài viết, những cuộc trò chuyện với nhà văn Mạc Ngôn.
Trong quyển này có bài viết nêu lên quan niệm và phương pháp viết truyện
của nhà văn Mạc Ngôn. “Theo ông, nhà văn muốn viết nên những tác phẩm
chân chính thì hãy viết từ vị trí của những người dân bình thường kết hợp với
trí tưởng tượng phong phú bẩm sinh, và tiểu thuyết hay là tiểu thuyết có mùi
vị độc đáo”.
Trong tiểu luận Một số vấn đề văn học Trung Quốc đương đại (NXB
tổng hợp Đồng Nai, năm 2007) với bài viết: Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc
trên văn đàn Trung Quốc hiện đại.
4.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận này, đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu là hình tượng
người nông dân trong tiểu thuyết Cây tỏi nổi giận của Mạc Ngôn.
4.2.Phạm vi khảo sát
Tiểu thuyết Cây tỏi nổi giận của Mạc Ngôn do Trần Đình Hiến dịch,
NXB Văn học Hà Nội, 2003.
Tuy nhiên, để phục vụ cho việc nghiên cứu, phân tích, đối chiếu, so
sánh, người viết đã mở rộng liên hệ với một số tác phẩm khác có liên quan.
5.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát tác phẩm
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh
6.Đóng góp của khóa luận
Đề tài đã đóng góp một phần nhỏ bé trong nghiên cứu hình tượng người
nông dân trong tiểu thuyết Cây tỏi nổi giận góp phần khẳng định tài năng và
làm nổi bật hơn vị trí, vai trò của Mạc Ngôn trong nền văn học hiện đại Trung
Quốc và nhân loại.
7.Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Đặc điểm hình tượng người nông dân trong Cây tỏi nổi giận.
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông dân trong tiểu
thuyết Cây tỏi nổi giận của Mạc Ngôn.
NỘI DUNG
được bạn đọc trong và ngoài nước biết đến. Ông được mệnh danh là một nhà
văn lớn xuất sắc của Trung Quốc. Sự nghiệp văn học đạt được những thành
tựu rực rỡ: với 11 bộ tiểu thuyết dài, 30 truyện vừa, 100 truyện ngắn, 5 tập tản
văn, 9 kịch bản phim, 2 kịch bản kịch nói. Tác phẩm của ông được dịch ra rất
nhiều thứ tiếng và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Có thể nói Mạc
Ngôn thành công trên nhiều thể loại nhưng thể loại đưa tên tuổi của ông đến
gần hơn với độc giả đó là tiểu thuyết. Tiểu thuyết là một thể loại quen thuộc
với mỗi chúng ta, nhưng khi đọc tiểu thuyết của Mạc Ngôn người đọc dễ bị
thu hút bởi sự hấp dẫn đặc biệt. Rất nhiều người gọi tiểu thuyết của Mạc
Ngôn là tiểu thuyết: “cảm giác mới”. Cảm giác mới là gì? Là cảm giác bắt
nguồn từ nhận thức luận của chủ nghĩa biểu hiện và phương pháp biểu hiện tư
tưởng của chủ nghĩa đa đa. Tiểu thuyết cảm giác mới trái ngược với tiểu
thuyết hiện thực truyền thống, vì nó không chỉ đơn thuần miêu tả hiện thực bề
ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác chủ quan vào trong
khách thể nhằm sáng tạo hiện thực mới mẻ. Các tiểu thuyết của Mạc Ngôn
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của trường phái cảm giác mới, đó là trường phái
cảm giác của phương tây và của Nhật Bản những năm 20-30. Ông cho rằng:
“trạng thái sáng tác nhẹ nhàng thoải mái, tự do, muốn nói gì thì nói là trạng
thái tốt nhất đối với nhà văn”. Khi cánh cửa hồi ức được mở ra, Mạc Ngôn
thường dùng cảm tính để phê phán, bình phẩm hiện thực cuộc sống, chứ
không dùng lí tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống. Cốt truyện trong tiểu
thuyết của ông không hoàn chỉnh như các tiểu thuyết thông thường, mà nó
còn là “cái khung truyện”. Nhưng cái khung truyện ấy chứa đựng biết bao
cảm giác, nó chính là linh hồn của tiểu thuyết Mạc Ngôn. Mạc Ngôn có biệt
tài nắm bắt cảm giác. Tiểu thuyết của ông thế giới cảm giác nó mang những
sắc thái chủ quan mãnh liệt.
Để có được thành công lớn như vậy, không chỉ tài năng, may mắn, mà
ông đã trải nghiệm bằng chính cuộc đời mình trong mối quan hệ với gia đình,
người Áo. Ông được công nhận là người đầu tiên đặt nền móng và phát triển
lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học. Đồng thời ông bị ảnh hưởng cả tiểu
thuyết dân tộc học, nhân loại học của Frazer(1854-1941). Mạc Ngôn từng nói
rằng, thông qua văn học để thể hiện sự tưởng tượng độc đáo. Tiểu thuyết của
ông mang đậm đà màu sắc nguyên sơ độc đáo, man dại. Những tác phẩm đầu
tay thành công như: Dòng sống khô cạn, Thu Thủy, Âm nhạc dân gian, các tác
phẩm này chủ yếu nói về bản năng sinh tồn, những thể nghiệm nhân sinh mô
tả cảnh vật nông thôn cổ xưa qua lăng kính tuổi thơ của tác giả. Chủ đề trong
tiểu thuyết của Mạc Ngôn da dạng, phong phú, các vấn đề như: Cái đói, cái
rét, thù oán, tôn giáo, tính dục, cái chết, chiến tranh, mê tín dị đoan,…
Một số giải thưởng mà Mạc Ngôn đã đạt được trong cuộc đời sáng tác
của mình như:
Giải nhất hội nhà văn Trung Quốc với tiểu thuyết Báu vật của đời tháng
12 năm 1995.
Giải Mao Thuẫn dành cho tiểu thuyết Đàn Hương Hình.
Giải tiểu thuyết toàn quốc lần thứ tư năm 1987 dành cho Cao Lương
Đỏ.
Giải văn học liên hiệp (Đài Loan).
Giải văn học nước ngoài Laure Batlin của Pháp.
Giải thưởng lớn cho văn hóa Châu Á (Nhật).
Huân chương kỵ sĩ nghệ thuật văn hóa Pháp tháng 3 năm 2004.
Tiến sĩ văn học danh dự do trường Đại học công khai Hồng Công trao
tặng tháng 12 năm 2005.
Tiểu thuyết Ếch đạt giải Mao Thuẫn 2010.
Giải thưởng Nobel Văn học tháng 10 năm 2012 đã khẳng định vị trí của
Mạc Ngôn trên khắp văn đàn Thế giới, ông được coi là nhà văn hiện đại xuất
sắc nhất Trung Quốc hiện nay. Mạc Ngôn là nhà văn đạt được nhiều giải
thưởng và danh hiệu. Có thể thấy ông xứng đáng được xem trọng như một
vật văn học là người dẫn dắt độc giả vào các môi trường khác nhau của đời
sống thể hiện quan niệm và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người.”
[6,235]
Qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy nhân vật trong tác phẩm
văn học có vai trò hết sức quan trọng. Văn học không thể thiếu nhân vật, vì nó
chính là phương tiện cơ bản để nhà văn có thể khái quát hiện thực một cách
hình tượng. Nhân vật trong tác phẩm văn học chính là con người hoặc các loài
cây, các sinh thể hoang đường nhưng mang những đặc điểm giống với con
người. Nhân vật là máu thịt của nhà văn, đồng thời nó cũng là đứa con tinh
thần để thể hiện quan niệm và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người và
cuộc đời. Các nhà lí luận văn học cũng nhấn mạnh tính nghệ thuật và tính ước
lệ của nhân vật văn học. Có thể thấy nhân vật văn học là vô cùng đặc biệt, nó
không hoàn toàn giống con người thật ở ngoài đời vì nó có những đặc trưng
riêng biệt. Bản chất của văn học có mối quan hệ mật thiết với đời sống hiện
thực. Nhân vật văn học là đơn vị nghệ thuật mang tính ước lệ, tượng trưng
cao, nó không đồng nhất với con người trong cuộc sống đời thường. Nhân vật
trong tác phẩm văn học được sắp xếp móc nối liên quan mật thiết với nhau tạo
nên một chỉnh thể. Mỗi tác phẩm văn học đều được cấu thành từ những sự
kiện, ý đồ của nhà văn về nội dung và nghệ thuật.
Như vậy, nhân vật chính là chiếc chìa khóa để giúp nhà văn mở cánh cửa
bước vào hiện thực xã hội rộng lớn, tiếp cận đề tài, chủ đề mới mẻ. Nhân vật
là điều kiện thiết yếu đảm bảo cho sự miêu tả thế giới văn học có chiều sâu và
tính hình tượng.
1.2.2. Hình tượng nhân vật
Khái niệm Hình tượng nhân vật: “Theo góc độ văn học nghệ thuật, hình
tượng được hiểu là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát nghệ thuật qua
hình thức hiện tượng cụ thể nhất, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp
bằng cảm tính”. Cùng với tác phẩm văn học, hình tượng còn được xem là đơn
hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, văn học xuất hiện rất nhiều hình ảnh người
nông dân. Vấn đề người nông dân hay được đề cập đến trong các giai đoạn
phát triển của lịch sử văn học Trung Quốc. Trung Quốc được coi là một trong
những cái nôi của nền văn minh nhân loại. Trải qua lịch sử phát triển của nền
văn học Trung Quốc ta có thể thấy người nông dân luôn được các nhà văn chú
ý một cách đặc biệt. Có thể thấy ngay từ những tập thơ ca dân gian đầu tiên
trong dòng chảy văn học Trung Hoa rực rỡ, hình ảnh người nông dân xuất
hiện như một sự gửi gắm tư tưởng, tình cảm của tác giả dân gian xưa.
Kinh Thi là một tuyệt tác của nhân dân Trung Hoa nội dung không
những phản ánh tình yêu nam nữ tha thiết, mặn nồng, ngợi ca cuộc sống no
đủ, bình yên, mà nó còn phản ánh hiện thực cuộc sống người nông dân.
Người nông dân bị đàn áp, sưu thuế, chiến tranh, bóc lột. Kinh Thi đã để lại
trong lòng người đọc những dư âm xót xa trước những số phận bất hạnh của
người nông dân. Tất cả những xót xa ấy, đều được thể hiện chân thực trong
thơ Quốc phong, một phần thơ Tiểu nhã, các bài Đệ đồ, Thất nguyệt, Đông
sơn,…Người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ phải chịu biết bao tủi cực, đó
là chiến tranh, là sự chia lìa của các cặp vợ chồng trẻ. Khói lửa và hậu quả của
chiến tranh đã làm biết bao con người phải sống trong đau khổ, gia đình ly
tán. Trong bài Đệ đồ hình ảnh số phận bất hạnh cứ ám ảnh trong lòng người
đọc bao xót xa:
“Có cây đỗ mọc lẻ loi
Vừa đơm những quả khắp nơi trên cành
Việc vua cẩn thận lo thành
Chuỗi ngày nối tiếp phận mình rảnh chi
Tháng mười quân dịch dứt kỳ
Lòng em luống những sầu bi đợi chàng
Chinh phu đi được rảnh rang!”.
Người nông dân trong văn học Trung Quốc không còn mới lạ với bạn
Tường cao không ngăn được tiếng thét của dân
Thép gai chặn không nổi lửa hờn ngùn ngụt!”.
Một số quần chúng xông vào chi cục thuế và phòng cân, đánh đập mấy
người bị người nông dân căm ghét từ lâu. Lúc này Huyện trưởng sai người
xây tường nhà cao lên, trên tường cắm nhiều mảnh chai dày đặc, lại chăng
dây thép gai cao hơn nửa mét. Khấu mù hát trước cổng huyện kêu gọi và cổ
vũ người dân. Cao Dương được biết đến là một người nông dân hiền lành,
chăn chỉ, hợp cung tiêu kêu gọi người dân trồng tỏi, anh cũng trồng, anh luôn
hy vọng sẽ bán được tỏi, số tiền đó anh dùng để trang trải cho cuộc sống gia
đình, người vợ mới đẻ và đứa con gái bị mù. Nhưng anh không những không
bán được tỏi mà còn bị thu nhiều thứ thuế vô lí khiến anh kinh ngạc. Anh
không có tiền và phải lấy tỏi trả thay tiền. Không chỉ Cao Dương, Cao Mã
trong tác phẩm là một chàng trai khỏe mạnh, chăm lao động, tỏi với anh rất
quan trọng vì chỉ khi bán được tỏi anh mới có đủ tiền cưới vợ. Nhưng những
mong ước nhỏ nhoi của Cao Dương, Cao Mã, gia đình chú Tư Phương hay
những người nông dân huyện Thiên Đường đều không thể thực hiện được vì
tỏi ứ đọng, không bán được. Và con giun xéo lắm cũng quằn, họ đã đứng lên
đòi lại công bằng, đốt nhà kho, đập phá trụ sở huyện. Nhờ những lời hát của
Khấu mù động viên họ, họ đã dám đứng lên hòa vào dòng người đòi lại công
bằng.
“Dù tội phanh thây
Cũng phải lôi Huyện trưởng Bí thư xuống ngựa!
Quần chúng làm reo phạm quốc pháp
Họ dung túng tay chân bóc lột dân
Họ phạm quốc pháp hay không?”.
Khấu mù hát trước phòng thẩm vấn công an Cục. Những người nông
dân trồng tỏi mặc dù biết đập phá cơ quan là phạm pháp, nhưng chính nguyên
nhân tắc trách của Huyện trưởng khiến họ không khỏi bức xúc, khi cao trào
Mở đầu tác phẩm, Mạc Ngôn đưa người đọc vào một không khí lao động
hăng say của những người nông dân huyện Thiên Đường. Tác giả viết:
“Xin bà con lắng nghe tui kể ngọn nguồn
Về Thiên Đường nơi hạ giới
Đồng ruộng phì nhiêu hai mươi vạn mẫu
Dòng sông xanh nước chảy hiền hòa
Đã nuôi dưỡng nam thanh nữ tú
Nổi danh thiên hạ ngồng tỏi quê ta!”.
Đó là một trích đoạn Khấu mù hát sẩm vào một buổi trưa nắng như đổ
lửa. Huyện Thiên Đường đồng ruộng rộng lớn, bát ngát bao la, đất đai phì
nhiêu màu mỡ, hợp cung tiêu kêu gọi người dân trồng tỏi bán ngồng. Có thể
thấy trồng tỏi bán ngồng đã thay đổi cuộc sống của người dân qua lời hát của
Khấu mù:
“Uỷ ban huyện hô hào trồng tỏi ~ Ban cung tiêu mua tỏi theo cân ~ Một
cân ngồng là một tệ chẵn ~ Ngồng đã mua cất trong kho lạnh ~ Tết bán ra
được bộn tiền…”
“Bán tỏi được tiền vui như Tết, gan lợn xào, bánh tráng cuốn hành. Bà
già Trương bụng như cái chĩnh…”
Không khí vui tươi của người nông dân khi bán được tỏi, họ có tiền
trang trải, cuộc sống được cải thiện.
Mạc Ngôn luôn trân trọng người nông dân, ông là một nhà văn hiểu sâu
sắc tầng lớp dưới đáy của xã hội, đặc biệt là người nông dân, viết về họ dường
như ông đã dành một sự ưu ái hơn cả. Trong tiểu thuyết, Mạc Ngôn đã xây
dựng được những cái tên tiêu biểu Cao Dương, Cao Mã, vợ chồng Tư
Phương, Kim Cúc, hiện lên chân thực mang những phẩm chất tốt đẹp của
người nông dân Trung Hoa thời bấy giờ.
Cao Dương xuất hiện là một người nông dân khỏe mạnh, hiền lành,
chăm chỉ lao động, hiếu thảo với cha mẹ, là một người chồng luôn nghĩ tới