Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
ỏnh giỏ v trớ ca bn quờ trong s nghip sỏng tỏc ca Nguyn
Minh Chõu v trong nn vn hc
phần mở đầu
1. lý do chọn đề tài
Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989) là một trong những gơng mặt tiêu biểu
nhất của nền văn xuôi đơng đại Việt Nam. Ba mơi năm cầm bút, từ truyện ngắn
đầu tay Sau một buổi tập đến Phiên chợ Giát "Bản di chúc nghệ thuật cuối
cùng", Nguyễn Minh Châu đã chiếm một vị trí không thể thay thế trong nền văn
học Việt Nam hiện đại "Anh là ngời kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn
xuôi Việt Nam và cũng là ngời mở đờng rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng
sau này"[ 15,11].
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu để lại khá đồ sộ: 7 cuốn tiểu
thuyết(Cửa sông - 1967, Dấu chân ngời lính - 1972, Lửa từ những ngôi nhà -
1977, Miền cháy - 1977, Những ngời đi từ trong rừng ra - 1982, Mảnh đất
tình yêu - 1986, bộ ba tiểu thuyết cho lứa tuổi thiếu niên: Từ giã tuổi thơ,
Những ngày lu lạc, Đảo đá kì lạ - 1985); 4 tập truyện ngắn (Những vùng trời
khác nhau - 1970, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành - 1983, Bến quê -
1985, Cỏ lau - 1989); một tập tiểu luận phê bình Trang giấy trớc đèn - 1985.
Với những giá trị t tởng và nghệ thuật của các tác phẩm trên đây, Nguyễn Minh
Châu đã trở thành một nhà văn lớn, tài năng, có những đóng góp quan trọng vào
nền văn học cách mạng, chiếm một vị trí đáng chú ý trên văn đàn nớc ta. Tuy
nhiên theo đánh giá của giới nghiên cứu cũng nh cảm nhận của chính nhà văn thì
truyện ngắn mới thực sự là sở trờng của ông. Đặc biệt những truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu sáng tác từ sau 1975 đã trở thành một hiện tợng văn học đợc
giới sáng tác, phê bình và d luận xã hội đặc biệt quan tâm bởi những chuyển biến
rõ rệt về t tởng và nghệ thuật đợc bộc lộ trong đó.
Truyện ngắn Bến quê rút từ tập truyện cùng tên của tác giả là một truyện
ngắn đặc sắc. Theo sự đánh giá của Lê Văn Tùng: "Đây là một truyện ngắn có
Hạnh; Hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 của
Vũ Thị Huê; Đổi mới t duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975
của Võ Thị Kiều Phơng.
Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn - nhất là những
truyện viết sau 1975 - là mảng sáng tác thu hút đợc sự chú ý đặc biệt và gây
nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu phê bình và đông đảo công chúng, mà một
trong những lý do là bởi sự cách tân nghệ thuật của nó. Những ý kiến khác nhau,
thậm chí trái chiều đã đợc thể hiện tơng đối đầy đủ trong cuộc Trao đổi về truyện
ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu do tuần báo Việt Nam tổ chức
vào tháng 6/1985.
Tuy nhiên, những quan điểm đối lập khen chê khác nhau đối với truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu chỉ xảy ra trong những năm đầu thập niên 80. Kể từ
khi tập Bến quê ra đời (1985) sau đó là Cỏ lau (1989) thì xu hớng chung của các
nhà nghiên cứu đều là khẳng định những đóng góp của nhà văn, ông đợc coi là
nhà văn tiên phong của sự nghiệp đổi mới.
Nếu trớc đây, các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu và khám phá nội dung
xã hội hiện trên bề mặt nổi của tác phẩm thì lúc này các nhà nghiên cứu đã đào
xới những tầng nghĩa sâu xa, trùng điệp của tác phẩm, tìm ra phần chìm dới
"những tảng băng trôi". Thế giới nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu đã đợc soi
chiếu, khám phá trên nhiều bình diện: từ "phong cách trần thuật có chiều sâu"
(trần Đình Sử) tới "Vấn đề tình huống trong truyện ngắn" (Bùi Việt Thắng), từ
"Sự đổi mới cách nhìn về con ngời" (Nguyễn Văn Hạnh) đến những "nét nhoè"
trong "Phiên chợ Giát - văn bản đa thanh cuối đời" (Đỗ Đức Hiểu), từ sự phát
hiện "không gian bến quê và một sự thức nhận đau đớn sáng ngời của con ngời"
(Lê Văn Tùng) đến việc khám phá "một hình tợng nông dân điển hình" (Lê
Quang Hng), từ việc đi tìm "yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn" (Phạm Vĩnh C)
22
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
đến "chất thơ trong truyện ngắn" (Nguyễn Thanh Hùng). Có thể thấy rằng, sáng
Ngoài 2 phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung của bài tập
chuyên đề gồm 2 phần sau:
I. Quá trình nghiên cứu truyện ngắn bến quê của Nguyễn Minh
Châu.
II. Đánh giá vị trí của bến quê trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn
Minh Châu và trong nền văn học.
33
Bài tập chuyên đề Phạm Thị Minh Nguyệt -
44
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
phần nội dung
I. quá trình nghiên cứu truyện ngắn bến quê của nguyễn minh châu
Tác phẩm văn học là mối tổng hoà của hàng loạt tơng quan. Vì vậy khi
nghiên cứu một tác phẩm văn học, để có thể tiếp cận tác phẩm văn học một cách
toàn diện, phơng pháp luận nghiên cứu hiện đại đã quán triệt chủ nghĩa duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và mĩ học Mác-Lênin và đa ra 3 bình diện
nghiên cứu. Có 5 tơng quan trong tác phẩm văn học là: tơng quan nội tại về cấu
trúc, hiện thực khách quan, chủ quan nhà văn, công chúng và di sản văn hoá. 5 t-
ơng quan này không tách rời nhau và lấy những tơng quan nội tại làm tiêu điểm.
Những cái "bên ngoài" từ "tiền đề phát sinh" đã chuyển tải thành cái nội tại và
những tác dụng có đợc đối với công chúng vốn đã có cơ sở và định hớng từ văn
bản tác phẩm. Ngợc lại, muốn hiểu đợc cấu trúc nội tại, cũng phải đặt nó trong t-
ơng quan với những cái "bên ngoài". Vì vậy phân tích, nghiên cứu tác phẩm là
tháo gỡ tất cả những tơng quan vốn không tách rời nhau đó có nghĩa là ngời
nghiên cứu theo 5 hớng tiếp cận trên và tổ chức thành 3 bình diện nh sau: thứ
nhất là nghiên cứu tác phẩm trên bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật từ những
mối liên hệ biện chứng nội tại. Thứ 2 là bình diện văn hoá- lịch sử, nghiên cứu
những mối tơng quan giữa tác phẩm với truyền thống văn hoá của dân tộc và
chuyển sang thể hiện những đề tài và chủ đề khác, nhà văn hớng vào những vấn
đề đời thờng, thế sự, đi sâu khám phá chiều sâu nhân bản con ngời Sáng tác
của Nguyễn Minh Châu về cuối đời càng đậm tính triết lý, những chiêm nghiệm
của cả một đời ngời. Truyện ngắn Bến quê in trong tập truyện cùng tên vào 1985
và chỉ 4 năm sau nhà văn đã ra đi vì căn bệnh hiểm nghèo, để lại bao nuối tiếc
trong lòng các bạn đồng nghiệp cũng nh trong lòng độc giả cùng với các dự định
sáng tác, những suy nghĩ, chiêm nghiệm của một "tâm hồn sáng tạo đang ở độ
chín"[15, 6]. Trong những năm tháng mắc bệnh, nhà văn vẫn mải miết với hành
trình sáng tạo của mình, vẫn không ngừng cho ra đời những đứa con tinh thần
của mình. Có những câu chuyện thật cảm động đợc kể lại khi nhà văn trên giờng
bệnh, vẫn miệt mài sáng tạo nh một sự chạy đa với tử thần. Bến quê là một tác
phẩm ra đời khi nhà văn đã bị bệnh, biết rằng cái chết nó đang đến rất gần mình.
Vì vậy Bến quê là sự chiêm nghiệm của Nguyễn Minh Châu về con ngời, về
cuộc đời đồng thời cũng là một sự trải nghiệm đầy đớn đau của một đời ngời trăn
trở với những lẽ sống ở đời.
Để thấy đợc những nét sáng tạo độc đáo, đặc sắc của Nguyễn Minh Châu
trong tác phẩm của mình nói chung và trong truyện Bến quê nói riêng, chúng tôi
tiến hành khảo sát, nghiên cứu các tác phẩm, tác giả cùng thời. Với thời gian và
khả năng có hạn, chúng tôi lựa chọn Nguyễn Huy Thiệp, một cây bút truyện
ngắn đặc sắc những năm 80 làm đối tợng khảo sát, nghiên cứu so sánh và với
dung lợng bài tập chuyên đề, chúng tôi cũng chỉ có thể nêu đợc những nét khái
quát nhất về điểm giống và khác nhau giữa hai nhà văn này. Hai nhà văn này
cùng viết về đề tài thế sự đời thờng với những trăn trở, suy nghĩ về cuộc đời, về
con ngời, về sự sáng tạo nghệ thuật. Nhng ở Nguyễn Huy Thiệp ta thấy một sự
tỉnh táo đến sắc lạnh còn ở Nguyễn Minh Châu bao giờ cũng là sự thâm trầm,
kín đáo mà nhân hậu, bao dung. Xét về nghệ thuật tạo tình huống, Nguyễn Huy
Thiệp tạo trữ tình bất ngờ cho tình huống, tạo cho ngời đọc sự hoài nghi nhìn
nhận, đánh giá lại con ngời. Còn Nguyễn Minh Châu lại cố gắng tạo tính chất tự
nhiên cho tình huống, đa con ngời đến với những suy t,chiêm nghiệm, tìm đến
với chân lý, đến với những giá trị bền vững để thêm tin thêm yêu cuộc sống hơn.
xác vị trí, ý nghĩa của tác phẩm trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của tác giả đó
và trong toàn bộ nền văn học. Còn quan trọng hơn, về cơ bản để nghiên cứu tác
phẩm là phải từ văn bản ngôn từ của tác phẩm, những giá trị nội dung và nghệ
thuật mà ngời nghiên cứu khám phá ra từ bản thân tác phẩm.
Tác phẩm văn học nào cũng là một cấu trúc văn bản nghệ thuật đợc tổ
chức một cách chặt chẽ thành một sinh mệnh, một chỉnh thể. Là một kiểu tổ
chức ngôn ngữ, tác phẩm văn học có đóng mở kết cấu, lớp lang, có sự gắn bó
hữu cơ giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa bộ phận với toàn thể Nh thế
những mối liên hệ nội tại trong tác phẩm văn học bao gồm nhiều mặt. Mối liên
hệ cơ bản nhất là giữa nội dung và hình thức. Sau đó cần chú ý đến các mối liên
hệ bản chất nội tại khác nh: chỉnh thể và yếu tố, chọn lựa và kết hợp, bổ sung và
đối lập, đồng đại và lịch đại.
Nghiên cứu, phân tích truyện ngắn Bến quê, chúng tôi chú ý đến một số
phơng diện, vấn đề sau: tình huống truyện, nhân vật, cách trần thuật, hệ thống
các hình ảnh, biểu tợng. Tìm hiểu những vấn đề này, chúng tôi thấy những giá trị
đặc sắc của tác phẩm về cả nội dung và nghệ thuật, những đổi mới, tìm tòi, khám
phá độc đáo của Nguyễn Minh Châu. Trong khi phân tích tác phẩm chúng tôi
vận dụng những kết quả đã khảo sát đợc qua việc nghiên cứu tài liệu và chỉ rõ
hơn ở những vấn đề cụ thể của tác phẩm.
2.1. Tình huống truyện
Vai trò quan trọng của tình huống trong truyện ngắn đã đợc các nhà
nghiên cứu, lý luận khẳng định và đợc thực tế sáng tác chứng minh. Nguyễn
Kiên khẳng định điều quan trọng đối với truyện ngắn là "phải lựa chọn cho đợc
cái tình thế, nó bộc lộ ra nét chủ yếu của tính cách và số phận, tự nó đặc trng
77
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
cho một hiện tợng xã hội ". Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cũng khẳng
định:"Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra một tình huống nào đó. Từ tình
huống bật nổi một tính cách nhân vật, bộc lộ một tâm trạng". Chính nhà văn
mong muốn của mình mặc dù nó cũng nhỏ bé và giản dị vô cùng. Và nh thế,
nhân vật thực sự lâm vào tuyệt vọng và bi kịch, một bi kịch đời thờng mà tất cả
chúng ta đều có thể lâm vào. Sự nghịch lý của tình huống trong truyện của Bến
quê đợc thể hiện trên nhiều mặt, cụ thể là:
- Thời trai trẻ, Nhĩ đã từng đặt chân đến không sót xó xỉnh nào trên trái
đất, vậy mà giờ đây Nhĩ bị buộc chặt vào giờng bệnh, việc di chuyển dù đơn giản
nhất cũng không tự thực hiện nổi.
- Nhĩ đi khắp xó xỉnh trên trái đất nhng lại cha hề đặt chân lên bãi bồi bên
kia sông, ngay trớc cửa sổ nhà mình, đến bây giờ khi không còn có thể đặt chân
88
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
lên đó, Nhĩ mới phát hiện ra vẻ đẹp của nó, mới thấy đợc sự giàu có, trù phú của
một bãi sông quê. Và đến bây giờ khi trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, khi
bị buộc chặt vào giờng bệnh, Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp giản dị, thân thuộc của
vùng đất quê hơng, của ngời vợ tảo tần mà suốt đời mình đã bỏ qua, đã không
nhận ra.
- Nhĩ khao khát đến cháy lòng một lần đợc đặt chân lên bãi bồi bên kia
sông nhng không thể thực hiện đợc. Anh nhờ cậu con trai sang sông nhng nó đã
sa vào một đám phá cờ thế trên hè phố, bỏ lỡ mất cơ hội sang bên kia sông.
Nghịch lý mà Nhĩ gặp phải không chỉ là ở hiện tại khi đang ở trên giờng
bệnh mà nó đợc hình thành từ trong quá khứ và tơng lai, nghịch lý ấy tiếp tục đ-
ợc lặp lại(qua hình ảnh cậu con trai). Dờng nh chân lý của cuộc sống, giá trị của
những vẻ đẹp bình dị, gần gũi, thân thuộc, con ngời chỉ có thể nhận ra khi đã trải
nghiệm cuộc sống. Nhng khi nhận ra chân lý của cuộc sống, vẻ đẹp giản dị, thân
thuộc của quê hơng, của ngời vợ, nhận ra nghịch lý của cuộc sống mà suốt một
thời trai trẻ mình đã không nhận ra thì Nhĩ lâm vào bi kịch của nỗi tiếc nuối,ân
hận, xót xa. Nhĩ tuyệt vọng vì cả một đời lăn lộn, bôn ba với cuộc sống, vậy mà
giờ đây, ớc muốn giản dị nhất là đặt chân lên bãi bồi bên kia sông Hồng lại
không thể thực hiện nổi. Nhĩ đã gửi gắm ớc muốn ấy cho con trai, hi vọng đứa
mĩ của nhà văn về con ngời. Vì vậy mà các nhà văn đã rất coi trọng việc xây
dựng nhân vật trong quá trình sáng tác của mình. Nhà nghiên cứu Tôn Phơng
Lan đã nhận xét: "thờng các nhân vật đợc xây dựng bằng sức sáng tạo nỗ lực
của nhà văn, chuyên chở ý tởng của nhà văn, in đậm cá tính sáng tạo của nhà
văn và bao giờ cũng in đậm dấu ấn sáng tạo của thời đại đó" và "chính sức sống
của nhân vật đã làm nên vinh quang cho tên tuổi của nhà văn"[11, 70]. Từ
những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã phân chia nhân vật thành nhiều
kiểu loại khác nhau nh: nhân vật chính, nhân vật chính diện, nhân vật chức năng,
nhân vật loại hình, nhân vật phản diện, nhân vật phụ, nhân vật phụ, nhân vật tiêu
cự, nhân vật tính cách, nhân vật t tởng, nhân vật trữ tình, Trong sáng tác của
Nguyễn Minh Châu, nếu trớc những năm tám mơi, nhà văn chủ yếu chỉ xây dựng
nhân vật loại hình thì càng về sau, ngòi bút của ông đã vơn tới sự khắc hoạ nên
các dạng nhân vật t tởng, nhân vật tính cách - những nhân vật có số phận riêng
so với cộng đồng. Trong hành trình sáng tạo không mệt mỏi với nhiều trăn trở,
tìm tòi tự đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện phong cách nghệ thuật riêng
khi xây dựng, khắc hoạ nhân vật. Qua sự khảo sát, nghiên cứu, phân tích tác
phẩm, nhà nghiên cứu Tôn Phơng Lan đã nhận thấy hai loại nhân vật đặc trng
nhất thể hiện đợc phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, đó là nhân vật
t tởng và nhân vật tính cách - số phận.
Nhân vật trung tâm của Bến quê là nhân vật Nhĩ thuộc kiểu nhân vật t tởng
là "loại nhân vật tập trung thể hiện một t tởng, một ý thức tồn tại trong đời sống
tinh thần của xã hội"[22, 233]. Các nhân vật phụ cùng với nhân vật trung tâm đã
thể hiện sâu sắc t tởng của nhà văn muốn gửi gắm trong tác phẩm. Các nhân vật
phụ là đối tợng nhận thức của Nhĩ, là hiện thân cho những vẻ đẹp bình thờng, giản
dị, gần gũi, thân thuộc và cùng với nhân vật chính nó biểu hiện những mối quan
hệ của cuộc sống đời thờng. Đi sâu vào phân tích, nghiên cứu hệ thống nhân vật
trong tác phẩm sẽ làm nổi bật t tởng, tài năng của Nguyễn Minh Châu trong nghệ
thuật xây dựng nhân vật, khắc hoạ tính cách nhân vật.
2.2.1. Nhân vật Nhĩ
Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, ở cảnh ngộ bị buộc chặt
một đời. Gần gũi, thân thuộc, giản dị quá mà sao bây giờ Nhĩ mới nhận ra ?
Nghịch lý nằm ngay trong cuộc sống hàng ngày, nằm ngay trong mỗi chúng
ta Nhận ra tấm áo vá nơi vợ, hiểu đợc những vất vả, chịu đựng, hi sinh, tần tảo
của vợ, Nhĩ cảm thấy xót xa, ân hận thốt lên: "Suốt đời anh chỉ làm em khổ
tâm mà em vẫn nín thinh". Muốn bù đắp cho vợ nhng Nhĩ cũng hiểu rằng trong
hoàn cảnh này anh vẫn đang tiếp tục làm ngời vợ của mình khổ với bao vất vả, lo
toan. Nằm trên giờng bệnh, Nhĩ mới cảm nhận đợc tất cả sự chăm sóc ân cần,
chu đáo của vợ. Mỗi hành động, cử chỉ của Liên đều toát lên sự âu yếm, tình yêu
thơng chân thành, đằm thắm dành cho chồng. Cảm nhận đợc điều đó, Nhĩ đã tìm
thấy điểm tựa tinh thần cho mình, cảm nhận đợc bến bờ bình yên của cuộc đời
mình chính là gian nhà nhỏ bé mà chan chứa tình yêu thơng này, là ngời vợ tần
tảo, giản dị của mình
Nhân vật Nhĩ hiện lên trong truyện không đợc miêu tả, khắc hoạ chi tiết
cụ thể ở những nét ngoại hình bên ngoài. Những ngày cuối cùng của đời mình,
Nhĩ ở trong tình trạng không tự mình làm đợc bất kì việc gì, mọi sinh hoạt ăn
uống, nằm, ngồi đều phải có sự giúp đỡ của ngời khác. Cũng chính vì vậy mà
những suy nghĩ, những cảm nhận của Nhĩ về thiên nhiên, về con ngời trở nên
lắng sâu hơn. Khoảnh khắc giao mùa, khí trời đầu thu đã đợc Nhĩ cảm nhận rất
tinh tế. Qua sự miêu tả của Nguyễn Minh Châu, thiên nhiên vừa hiện hữu nh là
một nhân vật, một thực thể của tâm trạng nhân vật trong truyện vừa chứa đựng
một nỗi niềm thảng thốt, lo âu mang tính nhân bản. Trên giờng bệnh, cảm nhận
rất rõ là cái chết đang gần kề, Nhĩ ngạc nhiên "nhận thấy những cánh hoa bằng
lăng càng thẫm màu hơn - một màu tím thẫm nh bóng tối ". Dờng nh đó là dự
cảm của Nhĩ về cái chết đang đến gần kề, rất gần. Và dờng nh không kìm đợc,
Nhĩ đã hỏi vợ: "Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?". Bao nỗi niềm, bao tâm sự
chất chứa trong câu hỏi ấy,. Nhĩ biết mình đang làm khổ vợ, khổ con
1
1
1
1
ngày nằm trên giờng bệnh:
" Hôm nay đã là ngày mấy rồi em nhỉ?
- Anh cứ yên tâm. Vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các con cũng
chăm lo cho anh đợc
- Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm mà em vẫn nín thinh.
- Có hề sao đâu Miễn là anh sống, luôn luôn có mặt anh, tiếng nói
của anh trong gian nhà này ".
Với lũ trẻ quanh nhà, trò chuyện với chúng, Nhĩ đến đợc với những gì hồn
nhiên nhất, trong sáng nhất nhng cũng rất gần gũi, rất đời thờng, giản dị. Những
câu nói lễ phép, ríu rít của lũ trẻ khi vào với Nhĩ, những bàn tay chua lòm mùi n-
ớc da nhng đã nâng đỡ, giúp đỡ Nhĩ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời
này.
Cuộc đối thoại với con trai bộc lộ một nỗi niềm tâm sự và một tâm trạng
lớn, một sự hi vọng lớn của một con ngời trớc lúc nhắm mắt xuôi tay:
1
2
1
2
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
"- Bây giờ con sang bên kia sông hộ bố
- Để làm gì ạ
- Chẳng để làm gì cả. - Nhĩ có vẻ ngợng nghịu vì cái điều anh sắp nói
ra quá kì quặc - Con hãy qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh
rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát, rồi về
- Bố đang sai con làm việc gì lạ thế?
- Hay là thế này nhé. - Nhĩ vẫn không hề thay đổi ý kiến - Con cầm đi mấy
đồng bạc xem bên ấy có hàng quán ngời ta bán bánh trái gì, con mua cho bố "
Tách đoạn thoại trên ra khỏi không gian Bến quê, ngời đọc sẽ cho rằng
những hành vi ngôn ngữ của Nhĩ quá kì quặc. Nhng đằng sau ham muốn có vẻ
nghĩa đằm thắm: "Anh cứ yên tâm. Vất vả, tốn kém đến bao nhiêu em với các
con cũng chăm lo cho anh đợc", "Có hề sao đâu Miễn là anh sống, luôn luôn
1
3
1
3
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
có mặt anh, tiếng nói của anh trong gian nhà này ". Và đến lúc này, khi đã đi
gần hết cuộc đời của một con ngời, Nhĩ mới nhận thấy: "tâm hồn Liên vẫn giữ
nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xa, và cũng chính
nhờ có điều đó mà sau bao nhiêu ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm Nhĩ đã tìm
thấy đợc nơi nơng tựa là gia đình trong những ngày này". Tuấn - anh con trai thứ
hai của Nhĩ đi học xa nhà mới về nhà tối qua. Anh con trai rất yêu thơng, chăm
sóc bố tận tình, chịu thơng chịu khó đọc sách và làm những công việc gia đình
giúp đỡ mẹ. Dờng nh Nhĩ đã nhìn thấy bóng hình, quá khứ của mình qua hình
ảnh đứa con trai. Nhờ con sang bên kia sông thực hiện mong muốn của mình,
Nhĩ đã trao gửi tất cả tình yêu thơng đối với quê hơng, với ngời vợ giàu đức hi
sinh, với cậu con trai, cả nỗi xót xa, ân hận, tiếc nuối lẫn niềm hi vọng. Qua
hành động ấy, Nhĩ cũng muốn thức tỉnh con trai nhận ra chân giá trị của cuộc
sống, nhận ra giá trị của những điều giản dị, thân thuộc, gần gũi. Nhng rồi lịch
sử lại lặp lại, anh con trai lại sa vào bàn cờ thế. Và Nhĩ lại đau đớn nhận ra chân
lý, nghịch lý của cuộc sống "con ngời ta trên đờng đời thật khó tránh đợc những
cái điều vòng vèo hoặc chùng chình". có lẽ sau này khí đã có sự trải nghiệm, anh
con trai mới hiểu đợc tất cả những nỗi niềm, những mong muốn của ngời cha
bây giờ. Và khi đã hiểu ra, đã nhận ra chân lý của cuộc sống, anh cũng không
thể tránh khỏi những ân hận, xót xa, nuối tiếc Cụ giáo Khuyến và lũ trẻ quanh
nhà với những hành động quan tâm, hỏi han nhau thể hiện tình ngời ấm áp, yêu
thơng nhau giản dị, bình thờng mà đầy tính nhân bản, đẹp đẽ biết nhờng nào.
Nh vậy, thế giới nhân vật của Bến quê là những con ngời trong cuộc sống đời th-
động. Và ngời vợ dịu hiền, giàu đức hi sinh cũng là một cái bến bình yên neo
đậu tâm hồn Nhĩ sau những tháng ngày mệt mỏi, là một điểm tựa tinh thận của
Nhĩ trong những ngày bị bệnh Hệ thống những hình ảnh biểu tởng đợc Nguyễn
Minh Châu sử dụng trong Bến quê đã đem lại cho tác phẩm chất suy t, chiêm
nghiệm sâu sắc, kích thích trí tởng tợng, nghiền ngẫm, suy nghĩ của tác giả. Đó
là hình ảnh bãi bồi bên kia sống và vẻ đẹp của nó; hình ảnh con đò; hình ảnh
những cây bằng lăng cuối mùa, hình ảnh ngời vợ tần tảo, hình ảnh đứa con trai
sa vào đám ngời chơi phá cờ thế, hình ảnh cụ giáo Khuyến và những đứa trẻ
hàng xóm, hình ảnh Nhĩ giơ cánh tay gầy guộc ra ngoài cửa sổ khoát khoát là
hành động cố gắng cuối cùng của Nhĩ trong cuộc đời, cố gắng trong tuyệt vọng.
Giọng điệu trong Bến quê là giọng thâm trầm trữ tình triết lý. Không phải là
giọng triết lý sắc lạnh, chua xót nh của Nam Cao. Cũng không phải là giọng triết lý
sâu cay nh khiêu khích, đánh thẳng vào cuộc đời nh trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp. Trong Bến quê, Nguyễn Minh Châu triết lý bằng giọng trữ tình, giọng văn
vẫn ấm áp, ấm nóng tình ngời, tình yêu thơng giữa con ngời - con ngời.
ii. đánh giá vị trí của bến quê trong sự nghiệp sáng tác của
nguyễn minh châu và trong nền văn học
Nghiên cứu, phân tích tác phẩm văn học, ngoài việc nghiên cứu trên bình
diện cấu trúc văn bản nghệ thuật từ những mối liên hệ biện chứng nội tại tứa là
chú ý vào văn bản ngôn từ còn cần phải nghiên cứu tác phẩm từ những mối liên
hệ ngang trên bình diện tâm lý- xã hội. Tác phẩm văn học bắt nguồn từ hiện thực
khách quan, thông qua chủ quan của nhà văn và đi về với công chúng bạn đọc.
Vì vậy phải nghiên cứu tác phẩm văn học từ những mối liên hệ giữa nó với hiện
thực, từ nhà văn và từ công chúng. Đồng thời cũng phải chú ý bình diện văn hoá-
lịch sử khi nghiên cứu tác phẩm trong những mối liên hệ dọc đối với di sản của
dân tộc và nhân loại. Trên các bình diện nghiên cứu trên thì mới có thể đánh giá
vị trí của tác phẩm văn học trong toàn bộ sáng tác của tác giả cũng nh vị trí của
nó trong toàn bộ nền văn học.
Bến quê là một sáng tác thành công trên nhiều phơng diện của Nguyễn
Minh Châu những năm cuối đời. Là một nhà văn có tên tuổi, đạt đợc nhiều thành
truyện sáng tạo, độc đáo, tính triết lý, chiều sâu của quá trình nhận thức, t tởng
mà tác giả gửi gắm đợc thể hiện một cách tinh tế, sâu sắc. Tính triết lý và chất
trữ tình đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn tạo nên một giọng điệu rất đặc sắc
của Bến quê. Cốt truyện trong Bến quê rất đơn giản, rất ít biến cố, sự kiện, các
nhân vật cũng rất ít hành động, nhân vật trung tâm hầu nh chỉ nằm suy nghĩ, ng-
ời đọc bị cuốn hút vào theo dòng suy nghĩ của Nhĩ, cùng suy ngẫm, cùng trải
nghiệm cùng nhân vật. Đây không phải kiểu cốt truyện mới mẻ, nó đã xuất hiện
trong lịch sử văn học nhân loại và văn học Việt Nam nh truyện ngắn của Nam
Cao, Thạch Lam. Tuy vậy một trong những ngời mở đờng của thời kì quá độ từ
những cốt truyện truyền thống mang phong cách sử thi sang kiểu cốt truyện tâm
lý, cốt truyện dựa vào những hành động bên trong của con ngời. Nguyễn Minh
Châu đã đóng góp những truyện ngắn có giá trị vào nền văn học nớc nhà, góp
phần đa văn học về gần với cuộc đời, với con ngời. Bến quê là một đóng góp đặc
sắc của Nguyễn Minh Châu vào nền văn học dân tộc đặc biệt là văn học thời kì
đổi mới.
1
6
1
6
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
phần kết luận
Truyện ngắn Bến quê là một thành công của cây bút viết truyện ngắn xuất
sắc những năm 80 - một thời kì văn học có nhiều biến động. Nghiên cứu tác
phẩm này cho chúng ta một góc độ nhìn vào một thời kì văn học nớc ta. Viết
Bến quê cho thấy nghệ thuật viết truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã đạt đến
độ chín, từ cách xây dựng tình huống nghệ thuật nghịch lý bộc lộ rất rõ tính cách
nhân vật, t tởng chủ đề của tác phẩm, trần thuật qua dòng nội tâm nhân vật, ngôn
ngữ và giọng điệu giàu chất suy t, hệ thống hình ảnh biểu tợng là nét nghệ thuật
độc đáo của Bến quê. Nghiên cứu Bến quê cho thấy những nét phong cách nghệ
12. Nguyễn Văn Hạnh - Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách
nhìn về con ngời, Tạp chí văn học, số 3, 1993.
13. Hoàng Ngọc Hiến - Những điểm sáng, những vùng tranh cãi, Tạp chí văn
học, số 4, 1995.
14. Vũ Thị Huê - Hình tợng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau
1975, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, HN, 2006.
15. Mai Hơng (Tuyển chọn và biên soạn) - Nguyễn Minh Châu tài năng và
sáng tạo nghệ thuật, NXB Văn hoá thông tin, HN, 2001.
16. Tôn Phơng Lan - Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, NXB Khoa
học xã hội, HN, 2002.
17. Phơng Lựu (chủ biên) - Lý luận văn học (3 tập), NXB Giáo dục, HN, 1988.
18. Nguyễn Đăng Mạnh - Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn,
NXB Giáo dục, HN, 1991.
19. Lã Nguyên - Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới t duy
nghệ thuật, Tạp chí văn học, số 2, 1989.
1
8
1
8
Bi tp chuyờn Phm Th Minh Nguyt -
20. Nhiều tác giả - Nguyễn Minh Châu con ngời và tác phẩm, NXB Hội nhà
văn, HN, 1991.
21. Nhiều tác giả - Nguyễn Minh Châu - Kỷ yếu Hội thảo nhân 5 năm ngày
mất, Hội Văn nghệ Nghệ An xuất bản, 1995.
22. Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) - Từ điển
thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, HN, 1992.
23. Bùi Việt Thắng - Vấn đề tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,
Tạp chí văn học, số 2, 1994.
24. Nguyễn Huy Thiệp - Những ngọn gió Hua Tát, NXB Văn học, HN, 1989.