ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-----------------------------------
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
CHỦ ĐỀ SINH THÁI
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-----------------------------------
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
CHỦ ĐỀ SINH THÁI
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
VÀ NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................2
2.1. Về giới thiệu lí thuyết Phê bình sinh thái .............................................................2
2.2. Nghiên cứu văn chương từ điểm nhìn phê bình sinh thái ở Việt Nam.................6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .........................................................................10
3.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................10
3.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................101
4.1. Mục đích nghiên cứu ..........................................................................................10
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .........................................................................................10
5. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................... 11
6. Đóng góp của luận văn .......................................................................................... 11
7. Cấu trúc của luận văn ............................................................................................12
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ KHUYNH HƯỚNG
VĂN XUÔI SINH THÁI Ở VIỆT NAM TỪ SAU 1975 ..............................13
1.1. Khái quát về lí thuyết phê bình sinh thái ...........................................................13
1.1.1. Định nghĩa phê bình sinh thái .........................................................................13
1.1.2. Đặc trưng của phê bình sinh thái.....................................................................16
1.2. Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng văn xuôi sinh thái Việt Nam từ
sau 1975 ............................................................................................................20
1.2.1. Những tiền đề lịch sử văn hóa xã hội ..............................................................21
1.2.2. Sự hình thành và phát triển khuynh hướng văn xuôi sinh thái .......................22
1.3. Vấn đề sinh thái – mối quan tâm của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy
Thiệp ................................................................................................................28
1.3.1. Sinh thái trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu .....................................28
1.3.2. Sinh thái trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ......................................29
cứu văn chương. Tiếp cận văn chương từ góc nhìn sinh thái trên thực tế đã góp
phần quan trọng vào việc khơi mở những chân trời mới, bổ sung vào các
khoảng trống trong nghiên cứu văn học. Tuy nhiên, với nhiều lí do khác nhau,
phê bình sinh thái hiện chưa có một tiếng nói ảnh hưởng thực sự ở Việt Nam
mặc dù trong những năm gần đây, có một khuynh hướng văn chương sinh thái
đang dần được hình thành. Trong bối cảnh đó, việc vận dụng lí thuyết của phê
bình sinh thái vào việc giải thích các hiện tượng văn xuôi Việt Nam đương đại
là một việc làm có ý nghĩa lí luận - thực tiễn cần thiết. Một mặt điều này giúp
người nghiên cứu tiếp cận với một phương pháp nghiên cứu phê bình mới mẻ,
năng hoạt, mang ý nghĩa nhân văn; một mặt khác, cũng góp phần giúp bạn đọc
giải thích sâu hơn khuynh hướng phát triển và các đặc trưng thẩm mỹ phong
phú của văn xuôi đương đại.
1.2. Trong văn học Việt Nam đương đại, ở những mức độ khác nhau, vấn
đề thời sự này đã được các tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư....đề cập đến. Đặc biệt, trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp, tinh thần sinh thái khiến
“người mở đường tinh anh và tài năng nhất” ấy nhanh chóng thâu nhận và kịp
thời phản ánh những vấn đề nóng hổi của đời sống. Bằng tài năng của mình
Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp đã đóng góp nhiều khía cạnh mới
cho truyện ngắn Việt Nam từ cách chọn đề tài, cách dựng truyện, cách xây
dựng nhân vật, lối hành văn....thường đề cập đến các vấn đề sinh thái, về mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên.
1.3. Vì những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu “Chủ đề sinh thái
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp” làm đề tài
2
luận văn tốt nghiệp của mình. Bằng việc khảo sát cụ thể, chi tiết các tác phẩm
chúng tôi hy vọng có thêm những phát hiện về những nét độc đáo, sáng tạo
không chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu các nền văn hóa và văn học Âu – Mỹ mà
còn phải hướng đến các nền văn học khác như châu Phi, châu Á và Mỹ Latin.
Tóm lại, có thể nói, những giới thuyết của Karen Thornber đang thực hiện “một
trong những hướng đi hứa hẹn nhất của phê bình sinh thái”, đó là “đa dạng hóa
mối quan tâm phê bình môi trường, mở rộng tới phạm vi nền văn học ngoài
phương Tây”. Như chính nhận định của tác giả, bài luận cho thấy nguyện vọng
“hợp nhất những nhận thức luận khác nhau, dù có thể bấp bênh và tạm thời
nhưng tối cần thiết cho một mối quan hệ thay đổi giữa con người và môi trường
trong một thế giới ngày càng trở nên toàn cầu hóa” [91].
Phê bình sinh thái – cội nguồn và sự phát triển (20120 được Đỗ Văn Hiểu
dịch và tổng hợp từ hai cuốn Phê bình sinh thái Âu Mỹ (Nxb Học Lân, 2008)
và Phê bình sinh thái: Phát triển và nguồn gốc, in trong Tuyển tập văn luận văn
học sinh thái Trung Quốc và thế giới (Nxb Đại học Công thương Triết Giang,
2010), bản tiếng Trung, cũng là một tài liệu có ý nghĩa mang đến một hình dung
khái quát về tư tưởng nền tảng, các khái niệm chìa khóa cũng như những
khuynh hướng chính của lí thuyết phê bình sinh thái. Theo nghĩa rộng nhất, phê
bình sinh thái là “Phê bình toàn bộ quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên”, “thông
qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên
cứu tư tưởng, văn hóa, mô hình phát triển xã hội của loài người đã ảnh hưởng
như thế nào đến thái độ và hành vi nhân loại đối với tự nhiên đã dẫn đến tình
trạng xấu đi của môi trường và nguy cơ sinh thái” [55]. Dẫn nhập mang đến
một cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành phê bình sinh thái bằng cách điểm
lại những công trình tiêu biểu nhất theo thời gian. Cho đến thời điểm hiện tại,
phê bình sinh thái đang là trào lưu có sức lan rộng và ảnh hưởng trên toàn thế
giới.
Bài viết Phê bình sinh thái – khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính
cách tân (2012) của Đỗ Văn Hiểu có thể được coi như là bài viết mang tính
đánh giá khái quát những điều mới mang tính đột phá đã khiến phê bình sinh
5
về văn học châu Á, Karen Thornber lật lại những ảo tưởng cố hữu về người
Đông Á như là có sự gắn bó hài hòa với thế giới tự nhiên và văn chương Đông
Á như sự tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên. Với bà, văn học châu Á không nằm ngoài
mạng lưới chủ đề và khái niệm mang tính toàn cầu như nghèo đói, bệnh tật,
tình trạng nô lệ, chiến tranh và sự tàn phá môi trường. Nói cách khác, vì môi
trường là một mối quan tâm liên – văn hóa, Karen Thornber đề cao “tinh thần
chủ nghĩa thế giới sinh thái” và “ý thức hành tinh” trong nghiên cứu văn học.
Một trong những định hướng phê bình quan trọng mà bà đề xuất là sự mơ hồ
sinh thái (ecoambigiuty) hay một thái độ nước đôi đối với tự nhiên trong diễn
ngôn văn chương. Có thể nói, những gợi dẫn của Karen Thornber đã “nêu bật
sự cấp thiết của một nhận thức tốt hơn về sự phức tạp bao trùm” mối quan hệ
của con người và văn học với cái tự nhiên phi nhân vốn tồn tại trong mọi nền
văn hóa.
Thêm một tài liệu có ý nghĩa gợi mở nữa là bài viết Phê bình sinh thái –
nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc (2013) của Nguyễn Thị Tịnh Thy. Ở đây tác giả
chủ yếu tập trung vào việc chỉ ra tính giải cấu trúc mạnh mẽ của phê bình sinh
thái; được thể hiện rõ nét qua các đặc điểm: lệnh tâm, tản quyền, cái chết chủ
thể, lật đổ và tái thiết, tính đối thoại...Bắt đầu từ sự hoài nghi và phản đối thuyết
“nhân loại trung tâm luận”, các nhà lí luận khiến “con người không còn được
độc quyền trong mọi việc mà đã bị tản quyền”; đồng thời tiến hành “phản chủ
thể”, “phi tôi”, “giải tôi”...[12,tr. 26].
Cuối cùng có thể kể đến một số tư liệu lí thuyết được viết hay dịch thuật đã
bắt đầu chạm đến phê bình sinh thái trong một ý nghĩa trào lưu lí thuyết mới, thu
hút sự quan tâm của giới nghiên cứu như: Chuyển hướng văn hóa trong nghiên
cứu văn học Trung Quốc của Trần Đình Sử (2011); Những nét tươi mới trong phê
bình văn học của Nguyễn Duy Bình (2011); Hướng phát triển và những vấn đề
lối mòn tư duy một thời coi nhẹ và bỏ qua thiên nhiên/tự nhiên trong nghiên
cứu văn học, hướng người đọc đến một ý thức mới về giá trị môi trường sống.
Cần phải kể thêm một người viết phê bình thực sự nhạy cảm với vấn đề
sinh thái trong quan hệ với văn học, đó là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
7
Trong lời Tựa viết cho cuốn tiểu thuyết Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên
năm 1995, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã trực tiếp coi vấn đề sinh thái và sự khai
thác bóc lột tự nhiên của văn hóa nhân loại như một đề tài cần hướng đến trong
văn học: “Những con người đô thị hầu như không thèm biết rằng đến năm bảy
chục phần trăm cái sống hàng ngày của chúng ta là chiến lợi phẩm cướp giật
từ sinh mệnh của Rừng: nhà cửa, đồ gỗ, củi bếp, giấy, hương trầm thờ cúng,
ngà voi cho các biệt thự, áo lông thú cho giai nhân, và vàng cho mọi người....
Tất cả được mang về từ một đầu nguồn bí ẩn mà người ta thường gọi một cách
trịch thượng là của sơn lâm vô tận” [42, tr. 5]. Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Trần Duy Phương đã làm được một điều “chưa từng xảy ra trong văn học của
chúng ta viết về Rừng”: “Rừng như chính bản thân nó” [86, tr. 8]. Như vậy,
nhà phê bình Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ đặt vấn đề cách thể hiện
“không gian hoang dã trong văn học Việt Nam mà còn cho chúng ta thấy được
một cái nhìn mới về không gian ấy, ít lãng mạn nhưng cũng ít tính chinh phục
hơn”.
Luận án Phóng sự Việt Nam trong môi trường sinh thái văn hóa thời kỳ
đổi mới (2008) của Trịnh Thị Bích Liên cũng đã đặt vấn đề về việc tìm hiểu
mối quan hệ giữa môi trường sinh thái và văn hóa trong các văn bản văn học
và phi văn học thuộc cả thể loại phóng sự văn học và phóng sự xã hội.
Đỗ Thị Hòa, trong luận án tiến sĩ Ngữ văn với đề tài Thế giới động vật
trong ca dao cổ truyền người Việt (2010) cũng hướng đến xem xét văn học qua
“mối quan hệ hữu cơ giữa các bình diện: môi trường tự nhiên – con người –
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp với công trình nghiên cứu về Thơ mới
từ góc nhìn phê bình sinh thái học văn hóa (2014). Tác giả đã vận dụng lí thuyết
sinh thái để phân tích biểu tượng “vườn” trong Thơ mới Việt Nam. Tuy nhiên,
cũng như tác giả đã nói, đó là “những vén mở bước đầu”.
Ngoài ra, có thể kể đến các bài tham luận có liên quan đến phê bình sinh
thái Hội thảo khoa học Phát triển Văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và
hội nhập quốc tế do Viện Văn học tổ chức (tháng 5/2014):
Tham luận Nghiên cứu phê bình sinh thái hiện đại và di sản văn hóa: nhìn
từ Sinh thái học tìm về Tam giáo của Trần Thị Hải Yến, sau khi lí giải vì sao có
9
nhu cầu tìm về tam giáo của sinh thái học, và sinh thái học đã tìm thấy gì ở Phật
giáo, Nho giáo, Đạo giáo, tham luận khẳng định có thể khảo sát văn học trung
đại Việt Nam – một giai đoạn chịu ảnh hưởng rõ rệt của tam giáo từ quan điểm
của phê bình sinh thái.
Tham luận của Nguyễn Thị Tịnh Thy Sáng tác và phê bình văn học sinh
thái – Tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam (2014), cho rằng: “Trong
văn học Việt Nam, ngay từ thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, đã có các tác
phẩm mang tư tưởng sinh thái” [102].
Tham luận Cái nhìn tự nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ
góc nhìn phê bình sinh thái của Đặng Thị Thái Hà, Hình tượng loài vật trong
văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (2014) của Trần
Thị Ánh Nguyệt đã vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái để phân tích những
hiện tượng văn học cụ thể. Trần Thị Ánh Nguyệt đã đi sâu vào hình tượng loài
vật trong văn xuôi Việt Nam sau 1975. Tác giả đã chỉ ra những bước chuyển
đổi nhất định so với tự sự truyền thống trong cách xây dựng hình tượng loài
vật. Thứ nhất, loài vật không chỉ còn đóng vai trò giải thích ý nghĩa hay tạo
dựng nền cảnh mà trái ngược lại: “có sinh mệnh thật sự, có số phận, tính cách,
sinh thái nên giáo viên sẽ lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh khai thác
những chủ đề liên quan tới vấn đề này. Những bài viết trên là nguồn tư liệu
quan trọng cho giới nghiên cứu Việt Nam vận dụng những lí thuyết của phê
bình sinh thái vào nghiên cứu văn học.
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước, chúng
tôi tập trung tìm hiểu “Chủ đề sinh thái trong truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu và Nguyễn Huy Thiệp” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn hướng trọng tâm đến tìm hiểu dấu ấn sinh thái và giá trị xã
hội, thẩm mỹ trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy
Thiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Sinh thái là vấn đề rộng. Ở đề tài này chúng tôi chỉ quan tâm đến hai
11
phương diện chính là biểu hiện của sinh thái môi trường và sinh thái nhân văn
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp.
- Chúng tôi khảo sát ở một số truyện ngắn:
+ 25 truyện ngắn trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nxb
Văn học, năm 2009.
+ 42 truyện ngắn trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb
Văn hóa Sài Gòn, năm 2006.
+ Một số tác giả văn xuôi Việt Nam đương đại như: Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ
Phấn, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Ngọc Thuần....(để làm tư liệu đối sánh).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nội dung và nghệ thuật trong các truyện ngắn của Nguyễn Minh
Huy Thiệp
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện tinh thần phê bình sinh thái trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp
13
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ KHUYNH HƯỚNG VĂN
XUÔI SINH THÁI Ở VIỆT NAM TỪ SAU 1975
1.1. Khái quát về lí thuyết phê bình sinh thái
1.1.1. Định nghĩa phê bình sinh thái
Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latin nghĩa là nhà ở, nơi cư trú. Sinh
thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, gồm oikos (chỉ nơi sống)và
logos (học thuyết). thuật ngữ sinh thái học ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật
học người Đức Ernst Haeckel đưa ra. Sinh thái học là học thuyết nghiên cứu về
nơi sinh sống của sinh vật, mối tương tác giữa sinh vật và môi trường xung
quanh. Ngày nay, sinh thái học không chỉ là một bộ môn thuộc khoa sinh học
mà nó còn được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân
văn.
Thuật ngữ Ecocritsim (Phê bình sinh thái) còn được gọi bởi những cái tên
khác nhau “phê bình (văn hóa) xanh” (green (cultural) studies), “thi pháp sinh
thái” (ecopietics) hay “phê bình văn học môi trường” (environmental liturery
criticism)...Tên gọi phê bình sinh thái được Wiliam Rueckert sử dụng năm 1978
trong khảo luận Văn học và sinh thái học: một thử nghiệm mới trong phê bình
sinh thái (Liturature and Ecology: An Exneriment in Ecocritism). Mục đích của
ông là ứng dụng sinh thái học và các thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu
văn học.
Giữa thập kỉ 80 của thế kỷ XX, các học giả cộng tác với nhau xây dựng
phê bình sinh thái trở thành một phong trào mạnh mẽ. Năm 1992, Hiệp hội
sinh thái, phơi bày căn nguyên văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái, là có
thể được xem là văn học sinh thái” [70, tr. 6]. Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm
của những người đi trước, Vương Nặc đưa ra một định nghĩa về văn học sinh
thái được giới học thuật thừa nhận như sau: “Văn học sinh thái là loại văn học
lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tư tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của
hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh
15
thái” [70, tr. 11]. Định nghĩa này xuất phát từ chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái, vừa
tránh khỏi sự trói buộc của “lối viết tự nhiên”, vừa phủ nhận tư tưởng chủ nghĩa
nhân loại trung tâm của văn học môi trường; đồng thời cũng thoát khỏi hạn chế
của văn học tự nhiên và văn học ô nhiễm. Nó phản ánh được mấu chốt của văn
học sinh thái là sinh thái. Một tác phẩm sinh thái không đơn thuần miêu tả tự
nhiên hoặc sinh thái, mà quan trọng hơn là phải có đầy đủ tư tưởng sinh thái và
góc nhìn sinh thái. Hạt nhân của tư tưởng sinh thái là quan niệm về tính hệ
thống, tính chỉnh thể và tính liên hệ của sinh thái. Tư tưởng sinh thái lấy tính
bình đẳng, ổn định, bền vững và lợi ích chung của hệ thống sinh thái làm điểm
xuất phát và tiêu chí cuối cùng để bình xét phương thức sống, sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật, sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của nhân loại;
không lấy chủ nghĩa nhân loại làm thước đo giá trị văn học. Văn học sinh thái
lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái hoặc quan niệm chỉnh thể sinh thái làm kim
chỉ nam để khảo sát mối quan hệ giữa tự nhiên và con người. Văn học sinh thái
còn thể hiện trách nhiệm sinh thái, lý tưởng sinh thái, phê phán mặt trái của
văn minh, phản ánh nguy cơ sinh thái, nguy cơ tinh thần, nguy cơ tư tưởng và
nguồn gốc xã hội của các nguy cơ.
Mỗi nhà nghiên cứu chọn cho mình một hướng đi khác nhau nhưng cùng
chia sẻ một hoang mang lớn của lịch sử nhân loại. Nói cách khác phê bình sinh
con người – môi trường và tự nhiên bên trong con người – bản năng.
Ngày nay, tự nhiên trở thành một diễn ngôn mơ hồ, luôn luôn biến đổi,
nó là cái tồn tại đương nhiên từ buổi hoang sơ nhưng đã bị con người dần chiếm
hữu theo nhiều cách. Do đó, tự nhiên không còn là nó một cách nguyên thủy
mà các yếu tố cấu thành nó ít nhiều đã bị quy định bởi con người. Theo sự biến
thiên này, cặp từ tự nhiên (nature) và văn hóa (culture) không còn là sự đối lập
mà còn có sự xuyên thấu lẫn nhau, thật khó để có thể phân loại rõ ràng, rành
mạch. Trong cuốn Beginning theory – An introduction to literary and cultural
theory, Perer Barry đã chứng minh bằng cách lấy ví dụ. Chúng ta gọi môi trường
bên ngoài là một chuỗi các khu vực xâm nhập, dịch chuyển dần từ khu vực tự
nhiên sang khu vực văn hóa theo trật tự sau:
17
Khu vực 1: cái hoang dã (the wilderness), gồm sa mạc, đại dương, những
nơi không có người sinh sống.
Khu vực 2: cảnh quan hiểm trở (the scenic sublime) như rừng núi, hồ, thác
nước.
Khu vực 3: vùng nông thôn (the coutryside) như đồi, cánh đồng, rừng
cây.
Khu vực 4: cảnh quan nhân tạo (the domestic picturesque) như công viên,
vườn, đường.
Khi chúng ta dịch chuyển trong suy nghĩ giữa các khu vực này tức là đã
dịch chuyển từ khu vực thuần túy tự nhiên (khu vực 1) sang khu vực phần lớn
là văn hóa (khu vực 4). Cái hoang dã bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng nhà kính – do
văn hóa tạo ra và các khu vườn lại tồn tại phụ thuộc vào ánh nắng – vốn thuộc
về tự nhiên.
Các nhà phê bình sinh thái thường sử dụng cặp thuật ngữ
human/nonhuman khi nói về mối quan hệ giữa con người và môi trường tự
sinh bên trong của con người, quan tâm nhiều đến tri giác. Họ cho rằng con
người cảm nhận thế giới bằng chính cảm giác, trực giác của mình.
Đặc biệt, phê bình sinh thái ảnh hưởng trực tiếp nhất từ tư tưởng triết học
các trường phái của luân lí học môi trường phương Tây hiện đại như: Sinh thái
học bề sâu, Đại địa luân lí học, Tự nhiên giá trị luận, Động vật giải phóng....Sinh
thái học bề sâu cho rằng thế giới tự nhiên là một sự cân bằng tinh tế của mối
quan hệ phức tạp, trong đó sự tồn tại của sinh vật phụ thuộc vào sự tồn tại của
những sinh vật khác trong hệ sinh thái. Can thiệp của con người hoặc phá hủy
thế giới tự nhiên đặt ra mối đe dọa không chỉ đối với các sinh vật khác trong hệ
sinh thái mà còn đe dọa đến sự sống của con người. Quan niệm Đại địa luân lí
học làm thay đổi vai trò của nhân loại trong văn minh truyền thống phương
Tây. Con người từ kẻ chinh phục, thao túng tự nhiên trở thành một thành viên
trong đó. Con người cần phải có sự tôn trọng thích đáng đối với tất cả các thành
viên thuộc giới hữu tình và vô tình, và cùng tồn tại với các loài vật khác hợp
thành một cộng đồng rộng lớn, con người có nghĩa vụ trách nhiệm bảo vệ “cộng