1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THANH ĐOÀN
ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Vinh - 2011
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong văn học Việt Nam trước 1975, truyện ngắn là một thể loại
đã đạt được nhiều thành tựu xuất sắc góp phần hoàn thành sứ mệnh của một
“nền văn học tiên phong chống đế quốc”. Bước ra khỏi chiến tranh, đặc biệt
từ sau đổi mới (1986), văn học được “cởi trói” để đi vào khám phá, khai thác
những vùng cấm, những góc khuất, những mảng tối trong bản thể con người.
Thể loại truyện ngắn cũng được đổi mới trên nhiều phương diện. Trên hành
trình đổi mới, Nguyễn Minh Châu được xem là người “mở đường tiên phong
tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) của nền văn học. Tiếp sau đó, sự xuất
hiện của những cây bút xuất sắc đã tạo nên một mùa vụ bội thu của thể loại
truyện ngắn trên văn đàn như: Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Minh Khuê, Trần
Thùy Mai, Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái,... và trong số
đó phải kể đến “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp”.
1.2. Bước sang thế kỷ XXI, văn học Việt Nam vẫn miệt mài, tiếp tục
hành trình đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp luôn biết tự “làm mới mình” với
đem đến một cái nhìn toàn vẹn, đầy đủ hơn về giá trị nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn Việt Nam thời đổi mới.
2. Lịch sử vấn đề
Trong quá trình vận động của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới,
Nguyễn Huy Thiệp là tên tuổi gây được sự chú ý nhiều nhất. Trong suốt một
thời gian dài, đã có nhiều ý kiến tranh luận gay gắt với những phán quyết dữ
dội, nhưng cuối cùng Nguyễn Huy Thiệp cũng được thừa nhận là một tài năng
nghệ thuật truyện ngắn Việt Nam. Đến nay, Nguyễn Huy Thiệp đã có nhiều
thay đổi cả trong cuộc sống và sáng tác nhưng những đóng góp của ông đối
với truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới là hết sức quan trọng. Nguyễn Huy
Thiệp đem đến cho thể loại truyện ngắn một quan niệm nghệ thuật mới với
4
những cách tân mang dấu vết “hệ hình của thi pháp hậu hiện đại”. Đặc biệt,
Nguyễn Huy Thiệp đã mạnh dạn đi vào khám phá những điều mới mẻ về hiện
thực cuộc sống với một quan niệm nghệ thuật mới mẻ và một hình thức nghệ
thuật có nhiều cách tân. Vì thế, Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn gây được sự
chú ý nhiều nhất trên các mặt báo, các diễn đàn của đời sống văn học mấy
chục năm qua. Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những bài
viết, những công trình nghiên cứu liên quan đến phương diện tư duy nghệ
thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Trong số những bài viết, những công trình nghiên cứu về truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, Hoàng Ngọc Hiến là nhà nghiên cứu đã phát hiện tài
năng và những giá trị độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Khi những
bài báo của Hoàng Ngọc Hiến công bố đã mở đầu cho những cuộc bàn luận,
tranh cãi trên diễn đàn văn học những năm cuối thập niên 80. Trong bài viết
Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió (1987), Hoàng Ngọc Hiến phát hiện
Nguyễn Huy Thiệp tìm ra con người của cuộc sống hôm nay “Sòng phẳng,
tính toán, phân minh, nhưng vẫn lấp lánh vẻ đẹp ẩn kín”; trong bài viết Tư
thức thể hiện cảm quan của thời đại và quan niệm nghệ thuật của nghệ sĩ. Ta
nhận ra nghệ thuật hậu hiện đại chủ yếu qua các kiểu kết cấu văn bản” [21].
Cùng quan điểm đó, Phùng Gia Thế trong Dấu ấn hậu hiện đại trong
văn học Việt Nam sau 1986 đã nhận định “ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,
đó là những câu chuyện về sự vô nghĩa của cuộc đời, sự bê tha nhếch nhác
của con người, sự bơ vơ lạc loài của cái đẹp” hay “những chuyển động trong
mô hình truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp như một nguyên tắc cấu trúc để thể
hiện câu chuyện tâm thức thời đại: sự đa dạng và dịch chuyển liên tục của các
điểm nhìn nghệ thuật; không có nhân vật trung tâm, lý tưởng; sự vặn gẫy vai
nhân vật và vai tính cách trong hình tượng; vô số các hình tượng nhại; nhiều
kết thúc; có thể “tháo dỡ” được; sự chuyển dịch, pha trộn làm đứt gẫy những
6
giới hạn thể loại truyền thống; một cuộc "chơi" thể loại, kiểu truyện ngắn - tư
liệu, truyện ngắn - nhật ký, truyện ngắn - dòng chảy ý thức, truyện ngắn chân dung” [48].
Tác giả Đặng Anh Đào tiếp tục đem đến những phát hiện mới về truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Qua bài viết Khi ông tướng về hưu xuất hiện, tác giả
đã đánh giá “cái nhìn dân chủ hóa của người kể chuyện, ở đây chính là chỗ:
tin rằng mình không mách nước cho ai, lên lớp cho ai, thậm chí ở nhiều chỗ,
đứng thấp hơn nhân vật và bạn đọc” [36,23]. Tiếp đó, trong bài viết Biển
không có Thủy thần, tác giả xây dựng thuật ngữ “phản cổ tích”; trong Kiếp
luân hồi của Nguyễn Trãi qua Nguyễn Thị Lộ là thuật ngữ “lịch sử giả”. Thực
ra, “phản cổ tích” và “lịch sử giả” là hình thức nhại của tư duy truyện ngắn
hậu hiện đại.
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn trong Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp (1995)
chỉ ra quan niệm nhân sinh của Nguyễn Huy Thiệp “ông căm thù tất cả những
bức màn thói đạo đức giả đã căng ra trước mắt con người, không cho họ nhìn
vào sự thật (…) đó là sự tức giận cần thiết của người cầm bút trước sự thiếu
vắng của một nền văn hóa chiều sâu, một nền văn hóa mang nặng cái tâm của
Kiền, Đoài, bà Lâm, Hiếu, Hiên…) mà người khác có thể né tránh hoặc nói
chệch đi, tất cả đều có thể xuất hiện dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp. Đó
là điều mà người ta cảm thấy anh “ác”, “thiếu chữ tâm”, “ghê rợn”, “lột trần
không thương xót”… Đặc điểm thứ ba là “đã vượt qua mô hình văn học chính
trị, sử thi nghiêm trang, thành kính để hướng tới một mô hình văn học bình
dân, thông tục với nội dung triết lí về con người và lịch sử” [45].
Tác giả Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Cuốn theo chiều văn Nguyễn
Huy Thiệp cũng có những nhận định khá sâu sắc về vị trí của Nguyễn Huy
Thiệp trong quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật. Tác giả chỉ ra: “Nguyễn Huy
Thiệp không phải là người duy nhất đổi mới phương thức trần thuật. Trước
8
ông đã có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng... tích cực mở
đường. Nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp thì sự khai phóng về tư tưởng
nghệ thuật mới được thể hiện một cách đậm nét” [9]. Với cách nhìn nhận,
đánh giá từ nhiều phương diện, tác giả đã đưa ra đánh giá: “Cũng phải, văn
chương Nguyễn Huy Thiệp có khả năng gây ngạc nhiên. Ngạc nhiên này kéo
theo ngạc nhiên khác. Mỗi lần đọc lại Nguyễn Huy Thiệp là một lần ta thấy
cái khối vuông ru bích ấy chuyển động. Gắn với sự chuyển động của nó là
những độ mở mới, màu sắc mới và những trữ lượng ngữ nghĩa nghệ thuật mới
được khai lộ. Nhưng dường như phía sau "tảng băng trôi" ấy vẫn còn nhiều bí
mật mà không dễ gì nhận biết một cách rạch ròi. Hành trình "Đi tìm Nguyễn
Huy Thiệp", vì thế, vẫn còn tiếp tục” [9]. Đó là đánh giá chân xác và sâu sắc
khẳng định những giá trị độc đáo truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến một số bài viết đề cập đến tư duy
nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trên những biểu hiện cụ thể:
Hồ Tấn Nguyên Minh trong với bài viết Quan niệm nghệ thuật về con
người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã chỉ ra “Đọc truyện Nguyễn
Huy Thiệp, có thể nhìn thấy một “cõi người ta” xù xì, gân guốc, góc cạnh lẫn
Tác giả Phạm Phú Phong tìm hiểu về Giọng điệu văn chương Nguyễn
Huy Thiệp chỉ ra: “Mỗi truyện của anh không chỉ gây một ấn tượng duy nhất
mà từ hệ thóng hình tượng đến giọng điệu văn chương đã tạo dược một mạch
tư tưởng – nghệ thuật phát triển theo cấp số nhân”[42].
Trong một số bài viết và công trình khoa học khác: Bậc hiền triết – con chó
xồm “hay kĩ thuật nhại của Nguyễn Huy Thiệp (Lê Huy Bắc); Cuộc tìm kiếm hình
thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại qua tổ chức truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp (Châu Minh Hùng); Về cái “ma lực” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
(Đông La); Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Hoàng
10
Mạnh Hà luận văn thạc sĩ Ngữ văn),… cũng đã đem đến những phát hiện mới mẻ
về tư duy nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Từ việc khảo sát những bài viết trên, chúng tôi nhận thấy, Nguyễn Huy
Thiệp là một nhà văn đem đến những cách tân nghệ thuật cho truyện ngắn
Việt Nam thời kỳ đổi mới. Đó là những cách tân bước đầu hình thành những
đặc trưng của tư duy nghệ thuật hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam sau
1986. Qua những công trình nghiên cứu, những bài viết của các tác giả đã đề
cập đến những đổi mới về tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp, tuy nhiên vẫn chưa thật sự sâu sắc, hệ thống hoặc chỉ dừng lại ở một
vài phương diện cụ thể. Tuy nhiên, những nhận định đó đã gợi ý cho chúng
tôi một số ý tưởng khi triển khai đề tài này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định các khái niệm tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật truyện
ngắn.
- Khảo sát và phân tích các đặc điểm tư duy nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp trên hai phương diện chính: cách nhìn về hiện thực đời
sống trong tư duy nghệ thuật và cách thể hiện tư duy nghệ thuật trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
gọi của một thể loại. Tuy nhiên, đó là “vấn đề không hề đơn giản” (Bùi Việt
Thắng). Thuật ngữ Truyện ngắn trong tiếng Anh là Short Story, còn trong
người Trung Quốc gọi là Đoản thiên tiểu thuyết. Thực tế, truyện ngắn có gốc
từ tiếng Italia: Novella - có nghĩa là một cái tin mới, một chuyện mới.
Truyện ngắn là một thể loại văn học có một lịch sử ra đời, hình thành
và phát triển trong một thời gian dài. Ở Trung Quốc, truyện ngắn được manh
nha ra đời từ khoảng thế kỷ thứ III, IV, nhưng chính thức từ truyền kỳ Đường.
Ở phương Tây, truyện ngắn được ra đời từ thời kỳ Trung cổ, thật sự được ra
thoát thai và phát triển mạnh từ thời kỳ Phục Hưng. Ở Việt Nam, nằm trong
khu vực đồng văn với văn hóa, văn học Trung Quốc nên cũng được hình
thành từ truyện truyền kỳ, khoảng thế kỷ XV, XVI, được đánh dấu với
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Cho đến nay, trên thế giới cũng như ở
Việt Nam, truyện ngắn đã có một quá trình vận động, phát triển liên tục với
nhiều thay đổi từ cảm hứng nghệ thuật, khuynh hướng phản ánh hiện thực đến
đặc trưng thi pháp thể loại.
Truyện ngắn là một thể loại còn có nhiều biến đổi về thi pháp, “thể loại
muôn hình muôn vẻ biến đổi không ngừng” (D. Grônôpxki). Đến nay, có hơn
100 định nghĩa về truyện ngắn nhưng chưa có một định nghĩa thật sự thống
nhất về thể loại này. Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng theo định nghĩa từ
cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục, Hà Nội 2004) truyện ngắn:
“tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các
13
phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó
là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi
không nghỉ” [15,370].
1.1.2. Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn
Xét trên bình diện đặc trưng thi pháp thể loại, đối sánh tương quan với
thể loại tiểu thuyết và các thể loại văn xuôi khác, truyện ngắn có những đặc
cấu của truyện ngắn đặt ra thử thách và tài nghệ của nhà văn để góp phần làm
nên thành công và tính độc đáo của một truyện ngắn. Kết cấu của truyện ngắn
“không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo
nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng” [15,156].
Về mặt cấu trúc của truyện ngắn, nếu như tiểu thuyết là một thể loại có
“cấu trúc lỏng lẻo” thì truyến ngắn là một thể loại có cốt truyện chặt chẽ. Cốt
truyện của truyện ngắn yếu tố chi tiết được đề cao. Thành công của một
truyện ngắn trước hết là xây dựng được một sườn truyện hợp lý, một kết thúc
bất ngờ, quan trọng hơn là xây dựng được những chi tiết đắt giá. Nhà phê
bình văn học Bùi Việt Thắng từng khẳng định: “truyện ngắn có thể không có
cốt truyện tiêu biểu nhưng sống được lại nhờ vào các chi tiết hay”. Vì vậy,
thành công của một truyện ngắn trước hết là người viết chọn được những chi
tiết đắt giá. Đó là những chi tiết chân thực và có thể đạt tới ý nghĩa tượng
trưng, nó hàm chứa một cách nhìn, một cách đánh giá và năng lực tưởng
tượng của nhà văn về cuộc sống và con người.
Xét về yếu tố nhân vật trong truyện ngắn, có thể thấy truyện ngắn sống
được phải nhờ vào các nhân vật. Một truyện ngắn thành công trước hết phải
tạo được nhân vật điển hình. Tuy nhiên, nhân vật trong truyện ngắn không
phải hiện lên với đầy đủ tính cách, số phận. Nhân vật truyện ngắn chỉ được
khắc họa ở bình diện nổi bật nhất về tính cách, số phận. Số lượng nhân vật
trong truyện ngắn cũng có giới hạn nhất định. Vì vậy, thành công của tác giả
15
việt truyện ngắn là khắc họa được những nhân vật có sức sống lâu dài trong
lòng người đọc.
Từ sau 1975, cùng với sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật, các nhà
văn viết truyện ngắn được tiếp thu các khuynh hướng sáng tác của những trào
lưu hậu hiện đại trên thế giới. Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới,
cách nhìn mới, cách nắm bắt đời sống rất riêng. Các nhà văn Việt Nam đã tự
thuật là hình thái đặc trưng và cao nhất của hoạt động thẩm mỹ. Chủ thể của
tư duy nghệ thuật trước hết là các nghệ sĩ, những người sáng tạo các tác phẩm
nghệ thuật. Nhưng nghệ sĩ chỉ sáng tạo tác phẩm, công chúng mới là người
làm cho tác phẩm tồn tại, có đời sống thật sự. Như vậy, chủ thể của tư duy
nghệ thuật bao hàm cả công chúng nghệ thuật, tức những người cảm thụ,
thưởng thức nghệ thuật. Tư duy nghệ thuật là hình thái kết tinh và là hình thái
cao nhất của tư duy thẩm mỹ.
1.2.2. Đặc điểm tư duy nghệ thuật
Tư duy nghệ thuật mang tính hình tượng. Đó là kết quả của quá trình
vừa tái hiện, tái tạo vừa là quá trình hư cấu, sáng tạo hiện thực đời sống. Tư
duy khoa học hướng đến việc phát hiện bản chất, các quy luật của đối tượng,
sự vật và thể hiện kết quả dưới dạng các khái niệm trừu tượng. Tư duy nghệ
thuật hướng đến tái hiện, tái tạo hiện thực, cuộc sống dưới dạng những hình
tượng cụ thể, sinh động. Trong tư duy nghệ thuật, bản chất các quy luật của
hiện thực, cuộc sống không hiện ra dưới dạng trừu tượng của khái niệm mà
biểu hiện qua hình tượng cụ thể, sinh động. Hình tượng nghệ thuật là sáng tạo
của chủ thể tư duy. Xét về mặt nhận thức luận, hình tượng nghệ thuật về bản
chất, cũng là sự phản ánh hiện thực, tuy nhiên, sự phản ánh này không phải là
trực tiếp, mà là gián tiếp và được thực hiện thông qua sự sáng tạo mang tính
cá nhân, in đậm dấu ấn chủ thể. Vì thế, tư duy nghệ thuật không chấp nhận sự
giống nhau, sự lặp lại, sự sao chép; nó luôn giả định tính cá biệt, điển hình và
17
độc đáo. Trong quá trình tư duy nghệ thuật, người nghệ sĩ lấy chất liệu từ hiện
thực, nhưng kết quả của tư duy nghệ thuật, tức hình tượng nghệ thuật không
phải là sự sao chép hiện thực, là hư cấu, sáng tạo. Tư duy nghệ thuật đích thực
luôn là tư duy sáng tạo. Mỗi hình tượng nghệ thuật, mỗi tác phẩm nghệ thuật,
đều khai mở những cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn nhận cuộc sống và con
người một cách độc đáo, sáng tạo. Sáng tạo không chỉ thể hiện trong tư duy
sống, trách nhiệm và ý nghĩa cuộc đời.
Tư duy nghệ thuật mang tính thẩm mỹ. Đó là sự thống nhất giữa cái
hiện thực và cái lý tưởng, ước mơ. Người nghệ sĩ xuất phát từ hiện thực,
nhưng nhìn nhận hiện thực thông qua lý tưởng thẩm mỹ của mình. Lý tưởng
thẩm mỹ phản ánh xu thế phát triển của hiện thực, cuộc sống và khát vọng
của người nghệ sĩ về những giá trị cuộc sống, đặc biệt là những giá trị về nhân
cách con người. Nó được hình thành trong tư duy nghệ thuật, đồng thời là
phương thức để tư duy nghệ thuật quán triệt hiện thực, nhìn nhận hiện thực
cuộc sống một cách tích cực, lạc quan. Theo nghĩa đó, tư duy nghệ thuật góp
phần tạo ra niềm tin và động lực cho cuộc sống, làm cho lối sống của con
người trở nên năng động và có ý nghĩa hơn. Với sự giúp đỡ của lý tưởng thẩm
mỹ được đem lại nhờ tư duy nghệ thuật, con người sẽ có thêm khát vọng và
động lực vươn lên trong cuộc sống, chiếm lĩnh những mục tiêu, những giá trị
cuộc sống. Chất lượng của lối sống sẽ được nâng lên nhờ sự hiện diện và vai
trò thúc đẩy của lý tưởng thẩm mỹ với tư cách là nhân tố của tư duy nghệ
thuật. Tư duy nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp, tư duy về cái đẹp, cổ vũ cho
cái đẹp. Hình tượng nghệ thuật chính diện là sự phản ánh, sự kết tinh, sự
thăng hoa và tôn vinh cái đẹp trong đời sống hiện thực. Cái đẹp là trung tâm
của quan hệ thẩm mỹ, quan hệ nghệ thuật giữa con người và hiện thực.
Tư duy nghệ thuật là sự thống nhất những mặt đối lập. Tư duy nghệ
thuật hướng đến sự hài hoà nhằm khám phá, thể hiện sự hài hoà của hiện
19
thực, cuộc sống. Đặc trưng của tư duy nghệ thuật là sự phản ứng nhanh nhạy
đối với cái hài hoà. Hình tượng nghệ thuật là sự kết hợp hài hoà các yếu tố, là
sự điều chỉnh trong tư duy những mất cân đối của hiện thực, cuộc sống.
1.2.3. Đặc điểm tư duy nghệ thuật truyện ngắn
Trên thực tế, không thể xuất phát từ dung lượng, độ dài ngắn của
truyện ngắn để phân biệt truyện ngắn với các thể loại tự sự khác, bởi “trong
Những hạn chế về dung lượng lại tạo nên những thế mạnh cho thể loại truyện
ngắn. Thể loại truyện ngắn đòi hỏi tư duy nghệ thuật của nhà văn phải tìm
kiếm, phát hiện những chi tiết cô đặc, có dung lượng lớn. Mỗi tình huống
truyện, mỗi chi tiết đặc sắc sẽ định hình cốt truyện của truyện ngắn. Truyện
ngắn là một thể loại linh hoạt, gần gủi với đời sống hằng ngày, khi phản ánh
một mảng hiện thực rộng lớn, kéo dài trong một khoảng nhất định của lịch sử
đòi hỏi tư duy truyện ngắn hình thành những kiểu kết cấu đặc biệt – kết cấu
liên tưởng hoặc tương phản.
Ngoài những đặc điểm trên, tư duy nghệ thuật truyện ngắn còn thể hiện
ở lối hành văn và cách thức tổ chức văn bản. Truyện ngắn thường lựa chọn
những chi tiết đặc sắc, ngôn từ cô nén, sử dụng những hình thức tổ chức lời
văn linh hoạt. Mỗi câu, mỗi đoạn đều tập trung vào chủ đề, vào nhân vật, khắc
họa những tính cách bản chất để người đọc nắm bắt. Bút pháp chấm phá, chi
tiết cô đúc, hành văn mang nhiều ẩn ý.
Truyện ngắn là một thể loại linh hoạt, luôn luôn biến đổi. Vì thế, với hệ
hình thi pháp truyện ngắn hậu hiện đại, tư duy nghệ thuật truyện ngắn có
nhiều biến đổi. Trong cách nhìn về hiện thực cuộc sống, các nhà văn hậu hiện
đại luôn nhìn từ nhiều chiều, đa diện. Tư duy nghệ thuật truyện ngắn hậu hiện
đại thế giới hướng đến khám phá con người với những bi kịch đổ vỡ, những
hoài nghi về niềm tin, hoài nghi về chân lý, hoài nghi về lịch sử. Hiên thực
21
trong mỗi truyện ngắn được tạo nên từ những mảnh vở, những mảnh ghép
trong đời sống hằng ngày. Từ những biến đổi về tư duy tiếp cận, tư duy chiếm
lĩnh, truyện ngắn hậu hiệu đại cũng có sự biến đổi trong tư duy biểu hiện. Nhà
văn viết truyện ngắn phải biết lựa chọn hình thức phù hợp cho truyện ngắn
của mình. Nổi bật trong tư duy nghệ thuật truyện ngắn hậu hiện đại là kiểu
chắp ghép, ngôn từ có sự rối loạn, hình tượng nhân vật được xây dựng từ
nghịch dị của đời sống. Đó là những đặc điểm cơ bản của tư duy nghệ thuật
Đại hội Đảng lần thứ VI, không chỉ đặt ra nhiệm vụ đổi mới về tư duy
kinh tế, chính trị, xã hội đồng thời còn đặt ra nhiệm vụ đổi mới cả về văn học
nghệ thuật. Đại hội Đảng đã “cởi trói”, đánh dấu mốc quan trọng trong quá
trình đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm về nghệ thuật. Đại hội đã giao cho
văn nghệ tham gia vào đổi mới tư duy, đổi mới lối sống là nhiệm vụ cao quý
và cấp thiết nhất trước mắt và cả thời kỳ quá độ. Trong Văn học, nghệ thuật
trong sự đổi mới tư duy đã khẳng định: “Trách nhiệm của văn nghệ sĩ không
chỉ dừng ở nhiệm vụ phản ánh trung thực những gì mình nhận thức được,
hoặc ở lòng mong muốn mang lại những điều từ bài học đã có sẵn mà, cao
hơn nữa, phải vươn lên trước công chúng của mình, dự đoán được những điều
công chúng mong đợi” [58]. Sau Đại hội Đảng, văn học được “cởi trói” để đi
vào những vùng cấm, những góc khuất trong đời sống xã hội, trong bản thân
con người. Mặt khác, văn học lúc này có đủ độ lùi cần thiết để chiêm nghiệm
quá khứ lịch sử. Trên thế giới, kể từ giữa thế kỷ XX, văn học xuất hiện một số
trào lưu mới như: chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa đa đa,
… Những trào lưu văn học này đã ảnh hưởng sâu sắc và tác động mạnh mẽ
đến quá trình đổi mới của nền văn học. Vì thế, từ sau 1986, văn học chịu ảnh
hưởng và mang dấu ấn sâu sắc của chủ nghĩa hậu hiện đại trên thế giới.
Khi quan niệm về nghệ thuật văn chương được “cởi trói”, nền văn học
bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện. Một phương diện quan trọng đó là đổi
23
mới về tư duy nghệ thuật. Đổi mới về tư duy nghệ thuật thực chất là đổi mới
về cách nhìn, cách nghĩ về hiện thực xã hội, về đời sống con người. Đổi mới
tư duy nghệ thuật còn là đổi mới về cách phản ánh hiện thực xã hội, cách thể
hiện trên các tác phẩm nghệ thuật. Văn học thời kỳ đổi mới quan niệm về hiện
thực không đơn giản xuôi chiều mà hết sức phức tạp, bề bộn. Văn học thời kỳ
đổi mới khám phá con người ở cái nhìn nhiều chiều, đa diện; khám phá con
người với tư cách là con người đời thường, đời tư. Cùng với sự đổi mới trong
hiện đại xuất hiện trong văn học Việt Nam: kiểu truyện ngắn kịch câm, kiểu
truyện ngắn dòng ý thức,… Kiểu kết cấu chắp vá, mảnh ghép cũng xuất hiện
trong truyện ngắn sau 1986. Truyện ngắn mở rộng đề tài, ngôn ngữ truyện
ngắn xuất hiện kiểu nhại trong lời văn. Sự đổi mới tư duy nghệ thuật truyện
ngắn góp phần làm nên một sự nở rộ trong truyện ngắn Việt Nam những năm
cuối thế kỷ XX.
1.3.2. Quá trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Đời sống văn học trong hơn 25 năm qua, Nguyễn Huy Thiệp là một tên
tuổi được nhắc đến nhiều nhất. Trong quá trình vận động đổi mới về truyện
ngắn Việt Nam, Nguyễn Huy Thiệp giữ một vị trí của người lính tiên phong
quả cảm. Nếu Nguyễn Minh Châu làm “người mở đường tinh anh” để rồi làm
nên một thời đại mới cho văn học, đến Nguyễn Huy Thiệp trở thành người
tiếp sức xuất sắc, góp phần xác lập hệ hình thi pháp hậu hiện đại trong văn
học Việt Nam.
Hơn hai mươi năm cầm bút, Nguyễn Huy Thiệp đã có một sự nghiệp
văn học đáng kể. Những đóng góp quan trọng của ông vào quá trình đổi mới
đã góp phần đưa văn học Việt Nam ra mắt công chúng của nhiều nước trên
thế giới. Người ta khen nhiều, chê cũng nhiều, ngợi ca nhiều, lên án cũng
nhiều, Nguyễn Huy Thiệp mặc nhiên để đem đến cho độc giả nhiều bất ngờ.
Đến nay, người đọc vẫn chờ đợi những truyện ngắn “có ma lực” của Nguyễn
25
Huy Thiệp, thì ông lại tạo những bất ngờ khi chuyển sang thử sức ở những địa
hạt khác. Nguyễn Huy Thiệp đã cho ra mắt bạn đọc nhiều thể loại từ bút ký,
kịch bản văn học, tiểu thuyết đến cả lý luận phê bình. Thế nhưng, tài năng của
ông có lã chỉ dành riêng cho thể loại truyện ngắn.
Nguyễn Huy Thiệp sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, ông cũng từng tốt
nghiệp khoa Sử - trường Đại học sư phạm Hà Nội. Nguyễn Huy Thiệp tình
nguyện lên miền núi Tây Bắc làm nghề dạy học. Rời xa Hà Nội, Nguyễn Huy