MÔ HÌNH PHẢN ÁNH HIỆN THựC TRONG DẤU CHẦN NGƯỜI LÍNH CỦA NGUYÊN minh châu VÀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
== =MỞ
= os^õ
ĐẦU
80====

1. Lí do chon đề tài
1.1. Phản ánh trong văn học là một trong những vấn đề cơ bản, được
quan tâm bàn thảo rất nhiều trong lịch sử phát triển của mĩ học và lí luận văn
học, nhất là mĩNGUYỄN
học và lí THỊ
luận THIÊN
văn học mácxít, và những quan niệm về phản
ánh trải qua các thời kì khác nhau ít nhiều vẫn được điều chỉnh, bổ sung.
Trong thực tiễn sáng tác, trong từng giai đoạn cụ thể của lịch sử, trước yêu
cầu của hiện thực cuộc sống, của bạn đọc và cả ý thức của bản thân người
sáng tác, mô hình phản ánh trong tác phẩm cũng có những thay đổi nhất định
để phù hợp với tình hình cụ thể. Phản ánh trong văn học nhiều khi trở thành
MÔchí
HÌNH
PHẢN
HIỆN
một trong những tiêu
để nhận
diện ÁNH
lí tưởng
thẩm THựC
mĩ của thời đại. Tìm hiểu
mô TRONG
hình phản DẤU

thực
trong
hai tác phẩm, nhất là
CHUYÊN
NGÀNH:
LÝ hiện
LUẬN
VĂN
HỌC
trong thế đối sánh, để nhận ra những nét khác biệt trong nhận thức về hiện
MÃ SỐ: 60.22.32
thực chiến tranh giữa một bên là trong tình hình nóng bỏng của hiện thực ấy,
VÃN
THẠC
sĩ NGỮ
VÃN
với một bên là LUẬN
một hiện
thực
đã được
chiêm
nghiệm trong một độ lùi nhất
định của lịch sử.
1.3. Tìm hiểu mô hình phản ánh hiện thực trong Dấu chân người lính và
Nỗi buồn chiến tranh cũng là dịp để người nghiên cứu thấy được sự vận động

Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THANH NGA

VINH - 2009


3


thức nghệ thuật thể hiện trong sang tác của nhà văn này. Ngọc Trai trong Sự
khám phá con người Việt Nam qua truyện ngắn đã nhận ra nét đặc sắc trong
sáng tác của Nguyễn Minh Châu. “Thành công chủ yếu của Nguyễn Minh
Châu là đã đem đến cho người đọc một cái nhìn mới đối với hiện thực ... Anh
có lối nhìn sâu sắc và toàn diện đối YỚi con người và hiện thực. Dưới ngòi bút
tài hoa của anh, cái hiện thực nhiều chiều, nhiều vẻ gợi sức liên tưởng thật xa
và rộng” [25, 274]. Song, bài viết này chưa chú ý đến những thành công nghệ
thuật của tác giả trong việc thể hiện hiện thực đó.
Cũng hên tinh thần ấy, Hoàng Thị Văn trong Cảm hứng nhân đạo của
Nguyễn Minh Châu qua hai truyện ngắn cỏ lau và Phiên chợ Giát đã nhận ra
tấm lòng của tác giả đối với những con người bình thường trong xã hội. Qua
việc phân tích hai nhân vật Lực và lão Khứng, bài viết đã cho người đọc thấy
sự đổi mới trong cách cảm nhận con người của nhà văn: “qua những trang
viết, nhà văn gửi lại cuộc đời tấm lòng ưu ái đối với con người lam lũ, chịu
nhiều hi sinh mất mát, nhà văn gửi lại những hiểu biết, khám phá sâu sắc của
mình về thế giới nội tâm con người, về những số phận và những cuộc đời
buồn vui, dang dở” [25, 206]. Tác giả có đề cập đến nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật, tuy vậy, chưa bàn giải một cách kĩ lưỡng những thủ pháp nghệ thuật
miêu tả con người khác như kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu...
Phạm Quang Long ữong Thái độ của Nguyễn Minh Châu đổi với con
người: niềm tin pha lẫn với lo âu đã cho rằng: “Theo tôi, cống hiến lớn nhất ở
ông là sự thức tỉnh một ý thức mới, đúng đắn hơn trong cách nhìn nhận đánh
giá về con người” [25, 267].
Nhìn chung, các tác giả đều thấy được giá trị của những tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu ở mục đích sáng tác vì con người. Các ý kiến đều thống
nhất khẳng định những tác phẩm của ông có giá trị vì con người, phản ánh

Châu, tác giả Trịnh Thu Tuyết đi vào vấn đề cốt truyện, tìm hiểu kĩ ba kiểu

5


cốt truyện chủ yếu trong sáng tác của nhà văn này. Đó là cốt truyện xây dựng
dựa trên nguyên tắc luận đề, cốt truyện sinh hoạt thế sự, cốt truyện dựa vào
những số phận đời tư. Tác giả nhận thấy: “cốt truyện của Nguyễn Minh Châu
đã có sự nới lỏng đến mức nhiều lúc dường như không còn truyện chỉ là
những mảnh đời vụn vặt, những trạng thái tâm lí vu vơ... đó là những thể
nghiệm mới mẻ, độc đáo đưa văn học về gàn với đời sống” [25, 324]. Bài viết
đã làm sáng tỏ ba kiểu cốt truyện chủ yếu của truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu qua việc đi vào tìm hiểu những tác phẩm cụ thể. Nhưng nhìn chung, tác
giả chưa làm rõ sự thay đổi cốt truyện trong sáng tác của ông trong sự đối
chiếu với những tác phẩm trước 1975. Nghệ thuật xây dựng các loại cốt
truyện trên cũng chưa được phân tích kĩ.
Có thể thấy, trong nhiều công trình khác nhau, các tác giả đều có chung
nhận định, Nguyễn Minh Châu là cây bút có nhiều hướng tìm tòi trong việc
đổi mới nghệ thuật tự sự, tạo những hướng đi mới mẻ cho văn học Việt Nam
hiện đại.
Với việc quan tâm tìm hiểu, khẳng định giá trị sáng tác của Nguyễn
Minh Châu, dư luận cũng dành cho Dấu chân người lỉnh sự đánh giá tâm
huyết.
GS. Phan Cự Đệ trong Nguyễn Minh Châu một cây bút văn xuôi nhiều
triển vọng, ngay từ đầu đã khẳng định “cuốn tiểu thuyết đã miêu tả, với một
sức hấp dẫn, cuộc trường chinh kì lạ trong lịch sử chống ngoại xâm của dân
tộc” [25, 57]. Tác giả bài viết đã ghi nhận những thành công của cuốn tiểu
thuyết trong khả năng miêu tả, khả năng tái tạo cuộc sống, nghệ thuật xây
dựng tính cách nhân vật, đồng thời chỉ ra những tồn tại của nó như: kết cấu
chưa chặt chẽ, bố cục còn rời rạc. “Tác phẩm của anh chưa có những tư tưởng

Ở bài viết Từ Dấu chân người lính nghĩ đến những cuốn tiểu thuyết lớn
xứng đảng với dân tộc, với thời đại, tác giả Trần Trọng Đăng Đàn đã khẳng
định thành công của tiểu thuyết này trong việc xây dựng nhân vật điển

7


hình - hình tượng người anh hùng cách mạng. Ngoài ra, còn một số bài viết
liên quan đến tác phẩm này như: Không khí huyền diệu và hào hùng của một
thời kháng chiến trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu [25, 78],
Những cổ gắng lần theo Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu
[25, 83], Từ Dấu chân người lính tới Những người đi từ trong rừng ra, nghĩ về
Nguyễn Minh Châu [25, 101]...
Nhìn chung những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu đã ghi nhận
những đóng góp của Dấu chân người lỉnh, kể cả về nội dung và nghệ thuật
dựa trên những tiêu chí thẩm mĩ của con người ở thời điểm hiện tại. Cũng trên
cơ sở đó, họ cững chỉ ra những hạn chế của cuốn tiểu thuyết. Những hạn chế
đó, một mặt có nguyên nhân từ phía người viết, nhưng mặt khác, chúng ta
thấy đó chính là hạn chế của nền văn nghệ ra đời, tồn tại trong điều kiện chiến
tranh, chịu sự chi phối của quan niệm thẩm mĩ, mô hình phản ánh hiện thực
của văn nghệ trước 1975. Với một nhà văn luôn trăn trở, tìm tòi để làm tròn
vai trò của người nghệ sĩ như Nguyễn Minh Châu, việc khắc phục những hạn
chế đó trong yêu cầu mới, trong điều kiện mới của văn học là điều không khó
và thực tế ông đã ngày càng thành công trên đường viết văn của mình.
2.2. Bảo Ninh là một trong những cây bút viết về chiến tranh trong thời
hậu chiến để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc trong và ngoài nước.
Trong những công trình khác nhau, một số nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu
tác phẩm của ông và chỉ ra những đóng góp của tác giả này đối với sự vận
động và phát triển của văn học nước nhà.
Luận văn thạc sĩ Đề tài chiến tranh chổng Mĩ trong truyện ngắn Bảo

mô hình phản ánh hiện thực trong văn học sau 1975. Và đã có không ít ý kiến
đánh giá cao những thành công của tác phẩm.
Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại đã viết: “trong
văn học mấy chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu (tên khác của Nỗi
buồn chiến tranh - TG) là cuốn tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết

9


về tình yêu xót thương nhất” và cho rằng “Nỗi buồn chiến tranh thể hiện một
điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi lăm năm” [24, 265].
Dung Nguyên trên www.sachhay.com khẳng định “Nỗi buồn chiến tranh
được coi là một cột mốc sáng chói của văn học thời kì đổi mới (...) Nỗi buồn
chiến tranh không chỉ lạ về hình thức mà còn mới mẻ về nội dung so với thời
điểm nó ra đời”.
Nguyễn Thanh Sơn trên www.tanviet.net khẳng định “Tác phẩm đã tạo
nên những huyền thoại, trong khi bản thân nó cũng là một huyền thoại. Lặng
lẽ, nhưng không vì thế mà kém thuyết phục, tác phẩm tự chọn cho mình một
số phận, tạo nên một điểm nhìn hoàn toàn mới về một miền quá khứ chưa hề
xa xôi”.
Đây là những nhận định đánh giá chung nhất giá trị của Nỗi buồn chiến
tranh, chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu kĩ lưỡng, bài bản về những giá trị
của tác phẩm.
Trên http/thachpx.googlepages.com, Nguyễn Xuân Thạch đã có cái nhìn
tổng quát về Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu chiến từ chủ
nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp. Trong đó, tác giả đã thấy rõ
những thách thức của lối viết đến những mạch ngầm của văn bản. Trong bài
viết, tác giả cũng tìm hiểu thế giới nhân vật tiểu thuyết, biểu tượng và ý
nghĩa của nó. Từ đó, ông khái quát cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và
con đường viết về chiến tranh trong thời hậu chiến và khẳng định: “trong Noi

Các tác giả đều đã nhận thấy sự khác biệt của Nỗi buồn chiến tranh so
với những tác phẩm khác trong cùng thời điểm ở góc độ tiếp cận cũng như thể
hiện hiện thực. Từ những mạch ngầm của văn bản các nhà nghiên cứu cũng
đã có những suy nghĩ về cách tiếp cận và thể hiện hiện thực của những tác
phẩm sau 1975.

11


Bên cạnh những ý kiến đánh giá cao tác phẩm, cũng không ít nhà phê
bình coi Nỗi buồn chiến tranh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện
thực”, “bôi nhọ quân đội”. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chứng ta thấy
những giá trị của cuốn tiểu thuyết về mặt nội dung cũng nhu nghệ thuật đáng
đuợc khẳng định.
Có nhiều ý kiến của nhiều tác giả về Nỗi buồn chiến tranh, và nhu ta
biết, các ý kiến ấy là kết quả có đuợc của nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy
nhiên, chúng tôi đều nhìn thấy trong đó những gợi ý nhất định trong quá trình
thực hiện đề tài.
Nhu vậy, các nhà nghiên cứu đã có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh
hai tiểu thuyết Dấu chân người lính và Nỗi buồn chiến tranh , nhung chua có
công trình hay bài viết về mô hình phản ánh hiện thực qua hai tiểu thuyết một
cách đày đủ, hệ thống. Tiến hành đề tài này, chúng tôi đi vào giải quyết vấn
đề trên tinh thần đó.
3. Đổi tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình
phản ánh hiện thực trong Dấu chân người lỉnh và Nỗi buồn chiến tranh
4. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
4.1. Luận văn đi vào tìm hiểu những vấn đề liên quan phản ánh hiện
thực, mô hình phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam.
4.2. Đi vào tìm hiểu mô hình phản ánh hiện thực trong hai tiểu thuyết

Nguyễn Minh Châu
Chương 3: Mô hình phản ảnh hiện thực trong Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh.

13


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm phản ánh và mô hình phản ánh hiện thực
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tuợng vật chất. Nó là
năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ
thống vật chất khác. Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh mới, cao nhất. Nó
chính là nguồn gốc của nhận thức con nguời. Thông qua phản ánh, con nguời
thu nhận đuợc những kiến thức về tụ nhiên, xã hội, con nguời.
Chính vì phản ánh là nguyên lí chung, phổ biến của mọi đối tuợng vật
chất nên nó là một trong những lí thuyết đuợc nhiều nguời quan tâm. Phản
ánh cũng là nguyên lí tổng quát, chi phối quá trình sáng tác nghệ thuật. Thông
qua hình thức này, ý tuởng của các nhà làm nghệ sĩ đuợc tái hiện, bộc lộ, phơi
bày. Nhu vậy, có thể nói, phản ánh là một trong những vấn đề quan trọng của
văn học, nghệ thuật. Nó giúp chứng ta hiểu đuợc bản chất của từng đối tuợng
trong quan hệ với chính nó và với những đối tuợng khác. Trong luận văn này,
chúng tôi đi vào tìm hiểu bản chất của vấn đề phản ánh trong nghệ thuật nói
chung, trong văn học nói riêng.
Đặc trưng của văn học là phản ánh hiện thực. Tuy nhiên, từng thời kì
lịch sử, từng trào lưu nghệ thuật, từng phương pháp sáng tác có kiểu phản ánh
hiện thực khác nhau, nó tạo nên những khuôn mẫu, những mô hình phản ánh
không giống nhau. Tìm hiểu những mô hình phản ánh khác nhau đó chúng ta
cũng thấy được sự vận động, biến đổi của văn học trong tiến trình phát triển.


15


thần tức là những ý niệm; vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của ý niệm. Chính
vì thế, nghệ thuật cũng là sự phản ánh lại những ý niệm, theo đó sự sáng tạo
của người nghệ sĩ là sự bắt chước lại một sự bắt chước khác, phản ánh lại cái
được phản ánh.
Aristote (384 - 322 TCN) - nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại đã
đối lập quan điểm của mình với quan điểm của Platon. Ồng thừa nhận sự tồn
tại khách quan của thế giới vật chất. Thế giới vật chất là đối tượng thực tế của
nhận thức, là nguồn gốc của cảm giác. Aristote cũng khẳng định kinh nghiệm,
kiến thức con người có được là do khả năng bắt chước tự nhiên. Nghệ thuật
cũng chính là sự mô phỏng tự nhiên: “sử thi, bi kịch cũng như hài kịch và thơ
ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn, lục huyền - tất cả những cái
đó, nói chung, đều là những nghệ thuật mô phỏng” [3,11]. Sự mô phỏng ở đây
cũng được ông nói rõ, đó không chỉ là nội dung, đối tượng miêu tả mà còn là
phương tiện, cách thức. Người ta có thể “mô phỏng các sự vật, hiện tượng
bằng các màu sắc hay hình dáng, một số người thì dựa vào tài nghệ, số khác
dựa vào kĩ năng, số khác nữa thì dựa vào thiên bẩm” [3, 12]. Nghệ thuật cũng
vậy, “sự mô phỏng thể hiện trong tiết tấu, trong ngôn từ, trong giai điệu, hoặc
chỉ dùng một thứ, hoặc bằng cả mấy thứ” [3,12].
Như vậy, luận điểm trung tâm của các nhà triết học, mĩ học về vấn đề
phản ánh nghệ thuật là đề cao học thuyết “bắt chước”, “mô phỏng”. Mối quan
hệ giữa nghệ thuật và hiện thực cũng được xác lập và được coi là mối quan hệ
khăng khít. Đây là những cơ sở cho các nhà khoa học về sau nghiên cứu về
vấn đề này.
Cuối thời kỳ Trung cổ, Tômát Đacanh (1225 - 1274) nổi lên như nhà
thần học lớn nhất. Tômát Đacanh cũng coi nghệ thuật là sự mô phỏng, sứ
mệnh cơ bản của nghệ thuật là khả năng giúp con người nhận thức được sự



17


tiến bộ trong quan niệm mĩ học của ông thể hiện ở chỗ, đã đề cập đến sự khái
quát hóa và điển hình hóa trong nghệ thuật. Tuy nhiên, hạn chế của ông là đã
phủ nhận việc hình thành tính cách trong quá trình vận động của nó. Mối quan
hệ giữa tính cách và hoàn cảnh không được chú ý thay vào đó là chủ trương
xây dựng sự tĩnh hóa tính cách. Những tiến bộ của mĩ học thời kì này đã có
ảnh hưởng lớn đến những mĩ học gia ở giai đoạn sau.
Mĩ học khai sáng thế kỉ XVIII đã đạt những thành tựu nhất định, góp
phần đưa hoạt động nghiên cứu và sáng tạo văn học nghệ thuật đạt đến những
giá trị cao hơn.
D.Diderot (1713 - 1784) là nhà mĩ học khai sáng tiêu biểu của Pháp đứng
trên lập trường duy vật, đưa ra luận điểm xuất phát “những gì gặp thường
xuyên trong tự nhiên là hình mẫu đàu tiên cho nghệ thuật”, từ đó cho rằng sự
hài hoà của bức tranh đẹp nhất chẳng qua chỉ là sự bắt chước vụng về tính hài
hoà của tự nhiên, tài năng của hoạ sĩ phụ thuộc vào mức độ khắc phục sự
khác biệt ấy vì thiên nhiên đẹp hơn nghệ thuật. Ông cho tiêu chuẩn để đánh
giá một tác phẩm nghệ thuật là xem nó phù hợp với tự nhiên ở mọi nơi và tất
cả hay không. Bởi, với ông tự nhiên đã trở thành mẫu mực trước tiên của
nghệ thuật. Điều đáng chú ý là tự nhiên mà ông nói đến ở đây không chỉ giới
hạn là “những gì xung quanh con người mà không phải do con người tạo ra”
mà nó được hiểu bao gồm cả giá trị tự nhiên và xã hội. Trong quá trình mô tả
thiên nhiên ông cũng đề xướng “dù là thiên nhiên đẹp, là chân lí chăng nữa,
cũng không nên bắt chước quá sát” [64, 146]. Rõ ràng, ông đã chủ trương
người nghệ sĩ phải tái hiện chân thực hiện thực nhưng một mặt ông lại có ý
khước từ sự mô phỏng tự nhiên ấy. Mặc dù, quan điểm của ông về nghệ thuật
còn có nhiều mâu thuẫn nhưng D.Diderot đã góp phần đặt nền móng cho nghệ
thuật hiện thực chủ nghĩa.


19


cái đẹp trong tự nhiên YỚi cái đẹp trong nghệ thuật. Cái đẹp trong nghệ thuật
được ông đồng nhất YỚi “lí tưởng”. Như vậy, ông đã chú ý đến sự sáng tạo
trong nghệ thuật và khẳng định đặc trưng của nghệ thuật là sự sáng tạo ra “lí
tưởng”. Mĩ học Hêgen được coi là đỉnh cao của mĩ học cổ điển Đức, là một
trong những nguồn lí luận trực tiếp quan trọng cho mĩ học Marx- Lênin.
Sự ra đời của chủ nghĩa Marx tạo nên những biến đổi lớn trong đời sống
tinh thần của nhân loại. Marx và Angghen đã kế thừa những công trình của
các bậc tiền bối, phát huy thành tựu khoa học của giai đoạn trước để hình
thành hệ thống tư tưởng riêng của mình, trong đó có mĩ học. Cơ sở lí luận của
chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Đó cũng chính là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của mĩ học macxit.
Xuất phát điểm của những luận điểm mĩ học Marx và Angghen là dựa trên
những vấn đề cơ bản của triết học như: mối quan hệ giữa cơ sở hạ tàng và
kiến trúc thượng tàng, vật chất và ý thức, bản chất và hiện tượng...
Marx và Engenl chú trọng ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật. Vì thế, họ
ca ngợi những tác phẩm của Banzac. Những tác phẩm của ông đã phản ánh
được hiện thực bề bộn của cuộc sống. Tác phẩm của Banzac là sự tổng họp
của kiến thức liên ngành, vì thế, nó có giá trị nhận thức to lớn, đem lại những
hiểu biết phong phú cho người đọc. Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực
cũng được hai ông quan tâm. Cả hai đều chú ý đến tính giai cấp của nền văn
nghệ trong xã hội có giai cấp: “khi mà mâu thuẫn giai cấp đã tự phơi bày, đấu
tranh giai cấp đã được ý thức đầy đủ, thì tính giai cấp nói chung, và tính giai
cấp của văn nghệ nói riêng, cũng sẽ công khai tự giác hơn” [46, 79]. Những
tư tưởng mĩ học của Marx và Engenl là nền tảng cho sự phát triển của mĩ học
về sau.
Lênin đã phát triển tư tưởng của Marx và Engenl. Ồng đã đưa ra những


21


thể hóa là kết quả của sự phản ánh đúng đắn. Giữa các chi tiết nghệ thuật và
chi tiết trong đời sống không có sự liên quan với nhau. Ý kiến này hoàn toàn
trái ngược với yêu cầu chi tiết chân thực của chủ nghĩa hiện thực. Như vậy,
điểm đáng ghi nhận trong quan niệm của nhà mĩ học này là, ông đã chú ý tới
mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, đề cao vai trò của chủ thể sáng tạo.
Tuy nhiên, ông chưa phân biệt rõ ràng giữa chủ thể phản ánh nghệ thuật và
chủ thể nhận thức luận nói chung.
Khác với G.Lukacs, C.Caudwell - nhà mĩ học người Anh đã cho rằng,
phản ánh nghệ thuật là sự thể hiện các đối tượng tạo ra những ảo ảnh của hiện
thực. Đối tượng phản ánh của nghệ thuật là hiện thực bên trong, còn hiện thực
bên ngoài chỉ là đối tượng của phản ánh khoa học. Ồng đã lí giải được mối
quan hệ giữa chủ thể phản ánh và chủ thể nhận thức thẩm mĩ. Đồng thời
C.Caudwell cũng thấy được tác phẩm nghệ thuật là sự suy tư và gợi nhớ về
hiện thực, không đơn giản là bản sao hiện thực. Như vậy, theo ông, tiêu chí để
đánh giá giá trị của một tác phẩm nghệ thuật là sự sáng tạo của chủ thể thẳm
mĩ và sự tác động của nó đối với người tiếp nhận như thế nào.
Những ý kiến của G.Lukacs, C.Caudwell đã góp phàn giải quyết vấn đề
phản ánh trong văn nghệ.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề phản ánh trong văn nghệ đã từng được một số nhà
nghiên cứu đề cập nhưng chủ yếu tập trung ở những bài viết nhỏ, những cuộc
tranh luận văn học, nghệ thuật. Trong lịch sử, dường như chưa có công trình
nào quy mô, đưa ra cái nhìn toàn diện và tập trung về vấn đề này.
Những thế kỉ trước, vấn đề phản ánh của văn nghệ đã được một số tác
giả đề cập đến như: Lê Qúy Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Siêu... Lê Quý
Đôn cho rằng: “thơ tả cảnh lầu son gác tía thì thường nhớp nhúa, thơ viết về


23


đề này vẫn chưa được giải quyết một cách thỏa đáng. Nhưng cuộc tranh luận đã
góp phần làm cơ sở cho việc xác lập mối quan hệ này trong giai đoạn sau.
Sau cách mạng tháng Tám 1945, văn học phát triển trong điều kiện đất
nước có chiến tranh. Nhiệm vụ chủ yếu của nó trong giai đoạn này là phản
ánh cuộc cách mạng của dân tộc, ca ngợi tinh thần chiến đấu của nhân dân, cổ
vũ cách mạng. Đối tượng phản ánh của văn nghệ được xác định là hiện thực
khách quan. Nó trở thành tiêu chí đánh giá các tác phẩm văn học giai đoạn
này. Đồng thời, do sự tác động của lí tuận phản ánh của Lê nin, Đảng đã có
những ý kiến về lí luận phản ánh con người trong quan hệ với cuộc sống mới.
Con người có vai trò cải tạo xã hội, con người được nhìn nhận trong sự vận
động, phát triển. Những nhân vật điển hình trong văn học được miêu tả dựa
trên nguyên tắc ấy.
Mĩ học, lí luận văn học giai đoạn này, một mặt, chịu ảnh hưởng của mĩ
học macxit, một mặt, do yêu càu của ngọn cờ độc lập dân tộc nên đã có sự
phát triển có tính đặc thù. Những đặc thù đó được quy định ngay từ đề cương
văn hoá 1943. Và từ đó, ít có sự biến đổi cho đến sau 1986. Tuy nhiên, đó là
về mặt lí thuyết, còn trong thực tế sáng tác, vẫn có số ít tác giả cựa quậy để
thoát khỏi ràng buộc của hệ thống quan niệm ấy.
Vấn đề phản ánh trong văn học nghệ thuật ngày càng được nhiều người
quan tâm, luận giải một cách cởi mở. vẫn trên cơ sở triết học phản ánh luận
Mác Lênin, nhưng Phương Lựu đã giải quyết mối quan hệ này theo cách
khác. Ồng cho rằng, vận dụng phản ánh luận vào văn học nghệ thuật, không
phải chỉ là sự minh họa giản đơn cho việc phản ánh, mà là xuất phát từ khâu
phản ánh triển khai thành một hệ thống quan hệ biện chứng: phản ánh với
nhận thức, phản ánh với biểu hiện, phản ánh với sáng tạo, phản ánh với tác
động (và thông báo) V.V.. Từ luận điểm trên, chúng ta thấy, điểm đáng chú ý

đến những lệch lạc trong cách hiểu về bản chất hoạt động sáng tạo nghệ thuật,

25


coi nhẹ những tìm tòi, những thể nghiệm, sự thể hiện, giãi bày của cá nhân
nghệ sĩ.
Những ý kiến của Lê Ngọc Trà dẫu chưa luận giải một cách kĩ lưỡng về
mặt học thuật, nhưng rõ ràng đã thể hiện quan niệm mới, tiến bộ về lí luận
phản ánh.
Nhìn chung, phản ánh trong văn nghệ là một trong những vấn đề phức
tạp từ trước cho đến nay. Từ Tây sang Đông, từ cá nhân đến những trường
phái cụ thể đều có những ý kiến khác nhau, thể hiện quan điểm của mình
trước vấn đề quan trọng của văn học nói riêng, văn nghệ nói chung. Sự khác
nhau đó là do sự chi phối của lịch sử, đặc trưng nghệ thuật của tùmg trào lưu,
trường phái ở những giai đoạn phát triển nhất định. Tuy nhiên, ở thời điểm
nào thì các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận vấn đề văn học phản ánh hiện thực
một cách khách quan.
1.3. Vài nét về sư vân đông của mô hình phản ánh hiên thưc trong
văn hoc Viêt Nam
••
Phản ánh hiện thực là một trong những mục đích của văn học. Ở mỗi giai
đoạn khác nhau, văn học có mô hình phản ánh riêng.
1.3.1. Trong văn học dân gian, đặc biệt là truyện cổ tích, tác giả dân gian
cũng đã đi vào phản ánh hiện thực của xã hội. Truyện cổ tích phản ánh số
phận của những con người nhỏ bé, qua đó, thể hiện ước mơ, khát vọng của họ
về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Để phản ánh hiện thực xã hội phong kiến,
truyện cổ tích thường xây dựng nhân vật theo mô hình chung. Đó là kiểu nhân
vật chức năng. Kết cấu theo kiểu nhất định, dựa vào sự phát triển của số phận
nhân vật. Truyện cổ tích bao giờ cũng kết thúc có hậu. Yếu tố thần kì là đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status