Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược của
Đảng và Nhà nước, tạo động lực và phát huy mọi nguồn lực để phát triển
một nền giáo dục tiên tiến, chất lượng ngày càng cao trên cơ sở có sự tham
gia của toàn xã hội. Là một trong những phương thức thực hiện để mọi
người dân đều có cơ hội được học tập. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII),
Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), Kết luận hội nghị Trung ương 6 (khoá
IX), Nghị quyết Trung ương (khoá X) đã khẳng định: "Đẩy mạnh xã hội hoá
giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng
để tiếp tục phát triển giáo dục". Chủ trương xã hội hoá giáo dục là xuất phát từ
quan điểm coi giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của nhân
dân.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đòi hỏi phải đào tạo một nguồn nhân lực rất lớn có chất lượng cao.
Vì vậy, phải phát triển mạnh mẽ quy mô giáo dục đào tạo, đáp ứng nhu cầu
học tập ngày càng cao của nhân dân. Trong điều kiện đó, Nhà nước chưa
đủ sức và không thể bao cấp toàn bộ sự nghiệp phát triển giáo dục thì xã
hội hoá giáo dục là một trong những phương thức cơ bản để phát triển giáo
dục.
Vì vậy, cùng với việc tăng cường đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân
sách Nhà nước, cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục nhằm tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ, toàn diện và vững chắc đối với sự nghiệp giáo dục, thể hiện
quan điểm của Đảng "Coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu".
Trong những năm qua giáo dục huyện Thanh Sơn tiếp tục phát triển,
Đã hoàn thành phổ cập Tiểu học năm 1999 ; THCS năm 2003. Tuy nhiên
công tác giáo dục, vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ
trong tình hình mới, cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu, đội ngũ giáo
viên thiếu, chưa đảm bảo cơ cấu giữa các môn, đời sống giáo viên còn
1
giáo dục trong huyện.
2
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến xã hội hoá giáo
dục, những vấn đề quản lý giáo dục, những Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng,
Nhà nước về vấn đề xã hội hoá giáo dục.
- Khảo sát, phân tích thực trạng xã hội hoá giáo dục và công tác chỉ
đạo triển khai xã hội hoá giáo dục ở huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ, những
thuận lợi, khó khăn, tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan.
- Đề xuất và khảo nghiệm biện pháp triển khai thực hiện xã hội hoá
giáo dục mang tính khả thi và hiệu quả trên địa bàn huyện Thanh Sơn - tỉnh
Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tổng hợp chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về xã hội
hoá giáo dục.
- Phân tích những vấn đề lý luận, các công trình nghiên cứu liên
quan đến xã hội hoá giáo dục.
- Hệ thống hoá, khái quát hoá các khái niệm, xác định bản chất của
những vấn đề nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
* Phương pháp bổ trợ
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Sử dụng thống kê toán học xử lý kết quả khảo sát, điều tra.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn chính
được chia làm 3 chương:
đầu tư cho sự phát triển giáo dục. Quá trình này làm nảy sinh mô thuẫn đó
là: Đòi hỏi sự đầu tư cho giáo dục và sức đầu tư của Nhà nước cho giáo
dục, mà đòi hỏi bao giờ cũng lớn hơn mức đầu tư, bởi vậy việc thực hiện
công tác xã hội hoá giáo dục là một việc làm hợp quy luật, việc làm tất
nhiên phải có và nó phải tồn tại cùng với sự tồn tại và phát triển của giáo
dục.
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo.
Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào các bậc cha mẹ cũng mong muốn cho con
cái mình được học hành nên người. Truyền thống hiếu học ấy thể hiện ở
5
chỗ nhân dân ta rất coi trọng việc học, quý mến thầy giáo và quan tâm đến
công tác giáo dục thế hệ trẻ. Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, tuy Nhà
nước chỉ mở trường dạy học dành cho con em các quan lại, các nhà chức
trách và con cái nhà giàu nhưng đại bộ phận nhân dân lao động cũng đã tự
lo liệu để cho con em mình được đi học bằng cách gửi con cho các thầy đồ
dạy hoặc do dân tự mở lớp mời thầy về dạy.
Việc nhân dân tự chăm lo cho con em mình được học hành bằng
cách kẻ ít người nhiều, kẻ góp công, người góp của bồi dưỡng thầy giáo;
cũng như việc động viên, cổ vũ, tôn vinh người học thành đạt vốn là việc
làm của nhân dân ta đã có từ thời xa xưa. Sự chăm lo vật chất và động viên
tinh thần cho người dạy và người học ấy đã nói lên sự quan tâm của xã hội
đối với công tác giáo dục; hay nói một cách khác, xã hội hóa giáo dục ở
nước ta đã xuất phát từ truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo này.
Trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, xã hội hóa
giáo dục ở nước ta đã có những bước phát triển mới. Từ khi Đảng Cộng
Sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, quan điểm
giáo dục của Đảng và Bác Hồ đã được khởi xướng và dấy lên nhiều phong
trào học tập rầm rộ. Khẩu hiệu “Diệt giặc dốt” và sắc lệnh thành lập Nha
bình dân học vụ của Chính phủ đã mở đầu cho nền giáo dục của dân, do
đang bước sang thời kỳ “làn sóng thứ ba”, vào thời đại văn minh hậu công
nghiệp, khoa học và kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, xu hướng hội nhập quốc
tế, toàn cầu hóa, đa phương hóa là quy luật tất yếu để phát triển đất nước.
Ngày 9/12/1981 Bộ Giáo dục ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt
động của Hội đồng giáo dục các cấp chính quyền ở địa phương nhưng
mãi đến Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), với đường
lối đổi mới của Đảng, đất nước ta bắt đầu chuyển mình để bước sang
một thời kỳ mới, thời kỳ đổi mới tư duy trên các lĩnh vực mà trước tiên
là lĩnh vực kinh tế hàng hóa - kinh tế thị trường với xu thế mở cửa. Hoàn
cảnh khách quan và chủ quan đã đặt ra nhiều thời cơ và thách thức mới
đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải phát triển với tốc độ cao, đạt tới
7
trình độ phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Quan điểm
đa dạng hóa, đa phương hóa trong giáo dục vốn có được tiếp tục khơi
dậy và nâng cao lên một tầm mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của BCH TW khóa VIII đã chính
thức đề cập đến nội dung của công tác xã hội hóa giáo dục: “Nhà nước cần
đầu tư nhiều hơn cho giáo dục nhưng vấn đề rất quan trọng là phải quán
triệt sâu sắc và tiến hành tốt các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây
dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của
toàn xã hội… Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính
của đầu tư phát triển… Phải coi đầu tư cho phát triển là một trong những
hướng chính, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự
phát triển kinh tế - xã hội. Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên
các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự
quản lý của của Nhà nước.” [34, tr 61].
Không riêng ở Việt Nam mà nhiều nước khác trên thế giới như ở
Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, các nước Châu á
Thái Bình Dương cũng đều rất quan tâm đến việc xây dựng và củng cố các
giới"…" Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và
công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu, để phát huy nhân tố con người,
động lực trực tiếp của sự phát triển đổi mới nhanh cơ chế quản lý giáo dục-
đào tạo, khoa học và công nghệ phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn chặt sự phát triển các lĩnh vực này
với sản xuất và mục tiêu kinh tế - xã hội. Một mặt Nhà nước đầu tư, mặt
khác có chính sách để toàn dân, các thành phần kinh tế cùng làm và đóng
góp vào sự nghiệp này"[32, tr 79 và 121].
Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, xã hội hóa được Đảng ta xác
định là cơ sở để hoạch định hệ thống chính sách xã hội: "Các vấn đề chính
sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò
9
nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ
chức xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải
quyết những vấn đề xã hội". Trên tinh thần ấy, văn kiện Đại hội VIII về
GD&ĐT đã nêu: "Cụ thể hóa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
về xã hội hóa sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, trước hết là vấn đề đầu tư
phát triển và bảo đảm kinh phí hoạt động. Ngoài việc ngân sách dành một
tỷ lệ thích đáng cho sự phát triển Giáo dục và Đào tạo, cần thu hút thêm các
nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các thành phần kinh tế, các giới kinh doanh
trong và ngoài nước, đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư cho
Giáo dục - Đào tạo. Những doanh nghiệp sử dụng người lao động được đào
tạo có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách GD&ĐT. Đổi mới chế độ học phí
phù hợp với sự phân tầng thu nhập trong xã hội, loại bỏ những đóng góp
không hợp lý nhằm đảm bảo tốt hơn kinh phí giáo dục, đồng thời cải thiện
điều kiện học tập cho học sinh nghèo" [33, tr 88].
Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định "Nhà nước
dành tỷ lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa phát triển GD&ĐT.
Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho GD&ĐT. Đẩy mạnh
nhau, nhưng việc đưa giáo dục đến với mọi người và mọi người trong xã
hội, mọi tổ chức trong cộng đồng đều phải tham gia xây dựng phát triển
giáo dục. Như ta đã thấy các nước phát triển thì trách nhiệm của mọi người,
của cộng đồng đến giáo dục tốt hơn. Các nhà khoa học đã khẳng định bản
chất của công tác giáo dục: Giáo dục chỉ tồn tại và phát triển dược khi toàn
xã hội cùng tham gia và được hưởng giáo dục. Xã hội hoá công tác giáo
dục là một việc làm tất yếu của quá trình giáo dục. bởi vậy để việc tổ chức
thực hiện XHHGD sao cho hiệu quả cao nhất là tuỳ thuộc vào nhận thức
của mỗi chúng ta.
1.2. Lý luận về xã hội hoá công tác giáo dục
1.2.1. Một số khái niệm liên quan
- Xã hội hoá, xã hội hoá giáo dục, Xã hội hoá giáo dục THCS
- Xã hội hóa
11
Xã hội hóa là quá trình hội nhập của một cá nhân vào xã hội hay một
trong các nhóm của xã hội thông qua quá trình học các chuẩn mực và các
giá trị xã hội. Đó cũng là quá trình tiếp thu và phê phán các giá trị chuẩn
mực và khuôn mẫu hành động mà trong đó mỗi thành viên xã hội tiếp nhận
và duy trì được năng lực hành động xã hội.
Khái niệm trên đây đã nêu lên nội dung cơ bản thuộc phạm trù xã hội
hóa. Từ đó ta có thể rút ra:
Xã hội hóa là quá trình học tập suốt đời của cá nhân. Trong đó, cá
nhân với tư cách là chủ thể hành động không chỉ tiếp thu mà còn làm
phong phú thêm các quan hệ xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần dưới
hình thức cá nhân. Yếu tố xã hội là quan trọng nhất nhưng không phải là cơ
sở duy nhất để tạo nên cái độc đáo có một không hai trong nhân cách, có
thể có mâu thuẫn nảy sinh một cách tự phát hay được tạo ra một cách có ý
thức thông qua những yêu cầu khách quan. Do đó, cá nhân chỉ phát triển
khi có sự định hướng cả về nhận thức lẫn hành động của xã hội và giáo
trong nhân dân.
Thực chất nội dung xã hội hóa là quá trình vận động quần chúng
nâng cao tính tích cực và tự giác, phát huy sức mạnh của quần chúng vì sự
nghiệp giáo dục. Đây cũng là quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và cơ
chế quản lý của Nhà nước để đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo
dục.
Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh cách
mạng nói chung và giáo dục nói riêng đã luôn luôn coi trọng việc huy động
toàn xã hội tham gia giáo dục. Đến đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996) vấn
đề xã hội hóa giáo dục đã trở thành một quan điểm để hoạch định hệ thống
các chính sách xã hội, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
Như vậy, kể từ khi đất nước đổi mới đến nay, thuật ngữ "Xã hội hóa"
được dùng chính thức trong các văn kiện của Đảng. Khái niện xã hội hóa
đã hàm chứa một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối
13
với sự phát triển của đất nước ở một giai đoạn mới trong nền kinh tế hàng
hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Xã hội hóa giáo dục
Giáo dục là một nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người. Điều này chứng tỏ không thể tách giáo dục ra
khỏi đời sống xã hội. Giáo dục chính là một phương tiện để xã hội đổi mới
và phát triển.
Xã hội hóa giáo dục là quá trình giáo dục gia nhập và hòa nhập vào
cộng đồng; đồng thời xã hội tiếp nhận giáo dục như là một công việc chung
mà mọi cá nhân, đoàn thể, tổ chức, bộ máy đều có trách nhiệm tham gia.
Xã hội hóa giáo dục có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hóa
con người, xã hội hóa cá nhân. Thực hiện xã hội hóa giáo dục là duy trì mối
liên hệ phổ biến có tính quy luật giữa cộng đồng và xã hội, làm cho giáo
dục phát triển phù hợp với sự vận động của xã hội. Nội dung quy luật này
công tác giáo dục. Là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, trong đó
ngành giáo dục là nòng cốt, đa dạng hóa các nguồn đầu tư: nhân lực, vật
lực, tài lực, trí lực cho giáo dục, phát triển đa dạng các loại hình giáo dục
chính quy và phi chính quy: Công lập, dân lập, tư thục. Mọi người đều có
trách nhiệm đối với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục vừa có quyền lợi
được thụ hưởng những thành quả do giáo dục mang lại. Mọi người đều
được học tập, học thường xuyên, học suốt đời; tiến tới một xã hội học tập.
Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược nhằm phát huy sức
mạnh tổng hợp của toàn dân, của xã hội vào việc tham gia công tác giáo
dục. Đây là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện và phát triển có hiệu
quả sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói riêng và nền giáo dục toàn dân nói
chung. Nói rằng đó là tư tưởng chiến lược vì nó mang giá trị chỉ đạo quá
trình phát triển giáo dục một cách lâu dài. Tư tưởng ấy xuyên suốt toàn bộ
quá trình giáo dục nhằm đạt những mục tiêu đã định.
15
Không nên hiểu xã hội hóa giáo dục chỉ là sự chia sẻ bớt gánh nặng
từ phía Nhà nước sang nhân dân mà quan trọng và sâu sắc hơn xã hội hóa
giáo dục là cộng đồng trách nhiệm và lợi ích, nhằm thu hút sự tham gia của
mọi tầng lớp nhân dân vào phát triển giáo dục, xây dựng nền giáo dục toàn
dân, khuyến khích mọi người học thường xuyên, học suốt đời, gắn bó hữu
cơ giữa giáo dục và phát triển KT- XH. Giáo dục phải đảm bảo công bằng
xã hội, thỏa mãn mọi nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân, đáp ứng, nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khóa
VIII đã nêu rõ: "Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà
nước và của mỗi cộng đồng, của từng gia đình và của mỗi cá nhân. Kết hợp
giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi
trường giáo dục lành mạnh; người lớn làm gương cho trẻ em noi theo. Phát
vị tổ chức, đoàn thể trong xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp phát triển
giáo dục, là sự cộng đồng trách nhiệm chung của mọi người để xây dựng
và phát triển một môi trường giáo dục lành mạnh, đa dạng hóa sự đầu tư
vào các hình thức giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước.
- Xã hội hóa giáo dục THCS
Xã hội hoá giáo dục THCS là một phương thức để thực hiện tốt mục
tiêu giáo dục THCS. Để làm được điều này, xã hội hoá giáo dục THCS
phải huy động được toàn xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá
trình giáo dục.
Trẻ em là đối tượng quan tâm của nhiều ngành, nhiều lực lượng xã
hội, nhiều chương trình. Vì vậy việc huy động các lực lượng xã hội tham
gia vào quá trình giáo dục là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết,
đảm bảo cho việc thực hiện được mục tiêu giáo dục THCS. Cộng đồng địa
phương và các bậc cha mẹ hoàn toàn có khả năng góp phần cụ thể hoá mục
tiêu giáo dục phổ thông vừa phù hợp với địa phương và đáp ứng nguyện
vọng các gia đình. Song tham gia như thế nào để tạo sự đồng bộ và hiệu
quả cao là nội dung khó khăn nhất của cuộc vận động này. Các lực lượng
17
xã hội có tiềm năng và thực sự có khả năng tham gia vào quá trình giáo
dục, giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục, các tổ chức đoàn thể,
xã hội đều có thể tham gia vào việc giáo dục dưới hình thức báo cáo
chuyên đề, nói chuyện nhân ngày kỷ niệm, ngày lễ của dân tộc hoặc địa
phương. Các cơ quan văn hoá thông tin, nhất là các phương tiện thông tin
đại chúng, truyền hình, sách báo và các phương tiện văn hoá khác đem lại
nội dung giáo dục cho học sinh. Các tầng lớp nhân dân có thể cung cấp tài
liệu, bổ sung phần mềm của nội dung giáo dục nhà trường. Để cho cả cộng
đồng cùng tham gia giáo dục thế hệ học sinh, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ
giữa nhà trường, các cơ quan quản lý giáo dục, các tổ chức xã hội và các bậc
cha mẹ.
rộng, dân chủ hoá được đề cao…Cần khai thác mặt thuận lợi đó đối với
việc hình thành nhân cách cho học sinh. Nhưng các mặt tiêu cực của nền
kinh tế thị trường đang ảnh hưởng không tốt đến việc giáo dục học sinh.
Vì thế cần phải huy động các lực lượng xã hội vào việc xây dựng môi
trường xã hội lành mạnh, có ý nghĩa giáo dục tích cực.
Các môi trường nhà trường, gia đình, xã hội đồng thời tác động sẽ
làm cho thế hệ học sinh được giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc, chất lượng cuộc
sống của học sinh được nâng cao hơn, chủ nhân tương lai của thế kỷ XXI
sẽ được chuẩn bị chu đáo hơn, đầy đủ hơn về các kỹ năng sống về sức khoẻ
và trí tuệ.
Đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống trường, lớp đáp ứng nhu cầu
đến trường của lứa tuổi THCS là một vấn đề rất quan trọng. Trong những
năm tới khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển dự báo số học sinh trong độ
tuổi thu hút vào các loại hình ngoài công lập tiếp tục gia tăng. Vì vậy xu
hướng đa dạng hoá các loại hình giáo dục THCS là một tất yếu, nó chịu sự
chi phối và tác động của quá trình phát triển kinh tế xã hội với đặc trưng nhu
cầu chăm sóc, giáo dục học sinh của các tầng lớp dân cư. Chính sự phát triển
mọi mặt của kinh tế xã hội đã đặt ra những nhu cầu mới và chính nhu cầu về
19
chăm sóc giáo dục học sinh của các bậc phụ huynh khác nhau buộc giáo dục
THCS phải không ngừng đa dạng hoá. Đa dạng hoá giáo dục THCS dựa
trên cơ sở mục tiêu đào tạo, phương pháp, nội dung giáo dục, thống nhất
dưới sự chỉ đạo của Bộ giáo dục và đào tạo. Đa dạng hoá các loại hình
trường, lớp góp phần quan trọng vào tiến trình đổi mới giáo dục và đào tạo
đáp ứng nhu cầu giáo dục của nhân dân trong nền kinh tế thị trường nhiều
thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Góp phần mở rộng cơ hội có số đông học sinh được hưởng dịch vụ giáo
dục với những loại hình thích hợp với từng đối tượng, từng khu vực, địa
phương, tăng thêm nguồn lực cho phát triển giáo dục - đào tạo, góp phần
hội, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người đi học, Xã hội hoá giáo dục là
điều kiện tốt nhất để cả cộng đồng có điều kiện giúp đỡ những người có
hoàn cảnh khó khăn được tham gia học tập và khuyến khích nhân tài.
- Xã hội hoá giáo dục THCS góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Xã hội hoá giáo dục THCS làm cho cộng đồng tham gia vào cụ thể
hoá vào mục tiêu giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, yêu cầu
của cộng đồng và các lực lượng có thể tham gia vào cải tiến nội dung,
phương pháp, xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục, vì vậy làm ảnh
hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục THCS tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị
dạy học, hỗ trợ đời sống giáo viên. Bên cạnh đó xã hội hoá giáo dục còn
tạo điều kiện cho nhân dân tham gia đánh giá, giám sát các hoạt động của
nhà trường.
Do vậy XHHGD THCS chính là phương thức tích cực góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục .
- Xã hội hoá giáo dục THCS huy động được nguồn lực cho phát
triển giáo dục
21
Đối với nước ta, nguồn lực con nguời là quý gía nhất, nên XHHGD
tạo ra một xã hội học tập để góp phần đào tạo nguồn nhân lực là công việc
có ý nghĩa hết sức lớn lao.
Tổ chức huy động nhân lực thực hiện XHHGD THCS là cách làm
tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực của của các cá nhân tham gia vào
quá trình giáo dục, kể cả tự giáo dục và giáo dục người khác trong cộng
đồng. Các tổ chức, cá nhân tham gia vào các phong trào, hoạt động ngoại
khoá, tham gia thuyết trình, minh hoạ, đến xây dựng các mục tiêu giáo dục,
đều cần đến sức mạnh của nguồn lực, tiềm năng to lớn của xã hội. Khi phát
huy được sức mạnh này có thể trở thành lực lượng vật chất thúc đẩy giáo
dục phát triển.
Đối với học sinh phổ thông, phấn đấu thực hiện tốt giáo dục toàn
diện : đức, trí, thể, mỹ, lao động. Coi trọng giáo dục tư tưởng chính trị, chú
ý hình thành tư duy sáng tạo và năng lực thực hành cho học sinh.
Hoàn thành phổ cập Trung học đến năm 2015.
- Nội dung của xã hội hoá giáo dục THCS
- Giáo dục hoá xã hội
Tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội, vận động toàn
dân, trước hết là thế hệ trẻ và những người trong độ tuổi lao động, thực
hiện học tập thường xuyên, học tập liên tục, học tập suốt đời làm cho xã hội
ta trở thành " một xã hội học tập" để làm việc tốt hơn, đáp ứng sự di chuyển
nghề nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
- Cộng đồng hoá trách nhiệm
Huy động các lực lượng xã hội cùng có trách nhiệm đối với giáo dục,
cùng làm giáo dục. Tăng cường trách nhiệm của các cấp uỷ, HĐND,
UBND, các LLXH với sự nghiệp giáo dục.
- Đa dạng hoá các nguồn lực
Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của XHHGD
THCS, cùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà
nước, cần tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế, của nước ngoài để
23
phát triển giáo dục. Huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh và của tổ
chức kinh doanh để phát triển giáo dục.
- Đa dạng hoá các loại hình học tập và các loại hình trường lớp
Trên cơ sở củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt, cần
mở ra nhiều hình thức giáo dục, phát triển các loại hình ngoài công lập, tạo
cơ hội cho mọi người nâng cao trình độ, tiếp cận những vấn đề mới, áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đời sống.
- Thể chế hoá
Sự quản lý của Nhà nước về trách nhiệm, quyền lợi của các LLXH,
lượng trong toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà
nước cùng chăn lo cho sự nghiệp giáo dục. Sự phối hợp không chỉ tạo ra cơ
sở vật chất, nội dung, phương pháp và cả mục đích giáo dục cũng như phối
hợp tạo nên môi trường giáo dục thống nhất.
Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao. Chỉ riêng nhà
trường, chỉ riêng ngành giáo dục, không thể làm tốt công tác giáo dục. Bên
cạnh đấy là đòi hỏi cao về tốc độ, quy mô, chất lượng, hiệu quả giáo dục và
những yêu cầu thực hiện công bằng trong phát triển càng cần sự tham gia
của mọi LLXH vào sự nghiệp giáo dục.
Cộng đồng hoá trách nhiệm là cấp uỷ Đảng phải ban hành được
những quyết định về công tác giáo dục, thể hiện phương hướng, chủ trương
giải pháp có tính khả thi, đồng thời giao trách nhiệm cho chính quyền và các
lực lượng xã hội vận động, động viên các cơ quan đoàn thể các tổ chức xã
hội thực hiện quyết định đó. Nhà trường và ngành giáo dục ở địa phương
phải thể hiện đầy đủ tính chủ động sáng tạo, vai trò trung tâm nòng cốt trong
xã hội hoá công tác giáo dục.
- Tổ chức đại hội giáo dục là hình thức quan trọng để phối hợp các
lượng
Việc thực hiện XHHGD THCS bằng con đường đại hội giáo dục các
cấp có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, tạo nên cuộc vận động có sức lôi cuốn
25