1
Bộ Giáo dục và đào tạo
Trờng đại học Kinh tế quốc dân
0 Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ
theo nghị định th Năm 2005 Tên nhiệm vụ:
Nghiên cứu phơng pháp luận
xây dựng chính sách x hội nông thôn
của cộng hoà liên bang đức
và vận dụng cho Việt nam
Chủ nhiệm : GS. TS. Mai Ngọc Cờng
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
16 CN. Nguyễn Đình Hng Trờng Đại học KTQD Thành viên
C.ộng tác viên trong nớc
1 PGS.TS. Kim Văn Chính Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
2 PGS. TS. Nguyễn Văn Định Trờng Đại học KTQD
3 PGS.TS. Đỗ Đức Bình Trờng Đại học KTQD
4 PGS.TS Đào Thị Phơng Liên Trờng Đại học KTQD
5 TS. Trần Việt Tiến Trờng Đại học KTQD
6 TS. Phạm Thị Định Trờng Đại học KTQD
7 TS. Chu Tiến Quang Viện Quản lý Kinh tế TW, Bộ KH&ĐT
8 TS. Bùi Văn Hồng Trung tâm nghiên cứu BHXH Việt Nam
9 Lê Văn Phúc Trung tâm NCKH, BHXH Việt Nam
10 Ths. Lu Thị Thu Thuỷ Trung tâm NCKH, BHXH Việt Nam
11 Ths. Nguyễn Thị Hiên Viện Quản lý Kinh tế TW, Bộ KH&ĐT
12 Ths. Lê Thị Quế Trung tâm NCKH, BHXH Việt Nam
13 Lê Anh Dũng Hội nông dân Việt Nam
14 Phan Anh Tuấn Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An
Cộng tác viên nớc ngoài
1 GS.TSKH. Uwe Jens Nagel Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức
2 GS.TS. Matthias Dennhhardt Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức
3 GS.TS. Karl Jaster Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức
4 TS. Astrid Haegar Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức 3
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt 5
Mở đầu 6
2.2.1. Những tác động tích cực và nguyên nhân 145
2.2.2. Những hạn chế của hệ thống chính sách xã hội nông thôn và nguyên
nhân 152
4
Chơng III: Một số Khuyến nghị nhằm hoàn thiện
phơng pháp luận
xây dựng hệ thống chính sách xã hội nông thôn ở nớc ta những
năm tới trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của CHLB Đức 165
3.1. Khuyến nghị vận dụng kinh nghiệm về phơng pháp luận xây dựng chính
sách xã hội nông thôn của CHLB Đức vào điều kiện của Việt Nam 165
3.1.1. Nhận thức rõ những điểm tơng đồng và khác biệt chủ yếu giữa CHLB
Đức và Việt Nam để vận dung kinh nghiệm về phơng pháp luận xây dựng
CSXH nông thôn vào thực tiễn nớc ta 165
3.1.2. Bớc đi vận dụng phơng pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông
thôn của CHLB Đức có thể vận dụng vào điều kiện Việt Nam 166
3.2 Khuyến nghị phơng hớng hoàn thiện nội dung hệ thống chính sách xã
hội nông thôn ở nớc ta những năm tới 169
3.2.1. Phơng hớng hoàn thiện nội dung chính sách việc làm cho nông dân
những năm sắp tới 169
3.2.2. Phơng hớng hoàn thiện nội dung chính sách xoá đói giảm nghèo
trong nông thôn thời gian tới 176
3.2.3. Phơng hớng xây dựng và hoàn thiện nội dung hệ thống chính sách
an sinh xã hội cho nông dân 183
3.2.4. Hoàn thiện chính sách cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho nông
dân 191
3.3. Khuyến nghị về những điều kiện chủ yếu để xây dựng và hoàn thiện hệ
thống chính sách xã hội nông thôn ở nớc ta những năm tới 194
3.3.1. Tiếp tục tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực
nông thôn 194
CSXH: Chính sách xã hội
CTMTQG: Chơng trình mục tiêu quốc gia
DNNN: Doanh nghiệp nhà nớc
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
EU : Liên minh Châu Âu
KCB: Khám chữa bệnh
KCN: Khu công nghiệp
KH&ĐT: Kế hoạchvà Đầu t
LĐ,TB&XH : Lao động, Thơng binh và Xã hội
LKK: Tổ chức bảo hiểm cho nông dân
MTQGNS: Mục tiêu quốc gia về nớc sạch
NLN: Nông, lâm, ng nghiệp
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NSNN: Ngân sách nhà nớc
RVO: Hình thức pháp lý sơ khai của BHXH
TNLĐ: Tai nạn lao động
THPT: Trung học phổ thông
UBND: Uỷ ban nhân dân
XĐGN: Xoá đói giảm nghèo
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện nền kinh tế thị tr
ờng định hớng XHCN- lý luận, chính sách và
giải pháp do GS.TS.Phạm Xuân Nam chủ trì đã nghiên cứu nhiều vấn đề có liên
quan đến chính sách xã hội nh công bằng và tiến bộ xã hội, lao động và việc
làm, đói nghèo, giới và hoà nhập xã hội đối với đồng bào dân tộc ít ngời.
7
Trực tiếp hơn là trong cuốn sách Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn
Việt Nam do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996, các tác giả Bùi Ngọc
Thanh, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Đỗ Nhật Tân đã nghiên cứu và khuyến nghị
nhiều vấn đề liên quan tới CSXH nông thôn nớc ta.
Trong cuốn sách Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam của
PGS.TS.Mai Ngọc Cờng do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm
2001, tại chơng VIII, Đổi mới về phân phối thu nhập và đảm bảo bình đẳng xã
hội trong điều kiện nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, tác giả đã phân tích vấn đề bản chất của CSXH, vấn đề đói nghèo, vấn đề
phân phối thu nhập, tiền công, tiền lơng nói chung ở Việt Nam hiện nay nói
chung và trong nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa nói riêng; đồng thời
đã khuyến nghị một số vấn đề về đảm bảo CSXH ở nớc ta những năm tới.
Nhiều đề tài hợp tác của Trờng Đại học Kinh tế quốc dân với Uỷ ban Dân
tộc và Miền núi trong những năm 1996-2000, các đề tài cấp Bộ và cấp cơ sở có
liên quan tới lĩnh vực CSXH khác cũng đã đợc các nhà khoa học nghiên cứu, đề
xuất nhằm góp phần từng bớc xây dựng và hoàn thiện hệ thống CSXH nói
chung, trong khu vực nông thôn nói riêng ở Việt Nam.
Với những khía cạnh khác nhau, các nghiên cứu của Việt Nam đã đề cập tới
những vấn đề về bản chất, mô hình tổ chức, hệ thống quản lý và khuyến nghị cơ
chế chính sách giải quyết những vấn đề xã hội nông thôn nớc ta. Tuy nhiên,
CSXH nông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc. Trong bối cảnh chuyển sang nền
kinh tế thị trờng, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế
diễn ra mạnh mẽ, việc làm, thu nhập, đói nghèo, phân hoá bất bình đẳng, y tế,
liệu các công trình đã có giữa hai nớc CHLB Đức và Việt Nam có liên quan và đề
xuất việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống CSXH nông thôn ở nớc ta chủ
yếu ở bốn loại chính sách trong lĩnh vực kinh tế này 9
4. Cách tiếp cận, phơng pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng
- Phối hợp với các nhà khoa học của CHLB Đức, mà trực tiếp là với
Humboldt Universitat zu Berlin để cùng trao đổi kinh nghiệm, tổ chức khảo sát
và nghiên cứu đề tài.
- Sử dụng các tài liệu đã công bố trong và ngoài nớc. Dự án thu thập, biên
dịch tổng hợp các các tài liệu có liên quan về lý luận và thực tiễn CSXH nói
chung và trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam, CHLB Đức nói riêng làm khung
khổ lý thuyết cho toàn bộ đề tài.
- Để làm rõ phơng pháp luận xây dựng CSXH trong lĩnh vực nông thôn,
đề tài tổ chức các đoàn khảo sát nghiên cứu những kinh nghiệm về phơng pháp
xây dựng CSXH nông thôn ở CHLB Đức. Đồng thời đã tổ chức các đoàn khảo
sát, phỏng vấn, thu thập tài liệu tại một số địa phơng ở Việt Nam nh Nghệ An,
Thanh Hoá, Hà Tây, Phú Thọ và Kon và một số cơ quan tổng hợp nh Bộ Tài
chính, Bộ KH&ĐT, Bộ NN&PTNT, Bộ LĐTB&XH để trao đổi với các nhà lãnh
đạo các cấp và nghiên cứu tình huống về vấn đề chính sách xã hội nông thôn ở
Việt Nam hiện nay
Từ đó, đã rút ra những kinh nghiệm thành công và cha thành công về
phơng pháp xây dựng CSXH nông thôn ở Việt Nam những năm qua; làm rõ
những cải cách tiếp tục về CSXH nông thôn thời gian tới.
- Đề tài đã tổ chức 1 Hội thảo tại Việt Nam vào tháng 4 năm 2006. Ngoài
ra còn tổ chức nhiều cuộc hội nghị xin ý kiến chuyên gia ở 2 nớc Việt Nam và
CH LB Đức.
- Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kết hợp phơng pháp nghiên cứu định tính
và định lợng để xây dựng hệ phơng pháp luận xây dựng CSXH nông thôn ở Việt
11
Chơng I
những vấn đề chung về phơng pháp luận xây dựng
chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm chlb đức và
nhận thức của việt nam hiện nay 1.1. Phơng pháp luận xây dựng csxh nông thôn ở
chlb đức
1.1.1. Nhận thức về thực chất, vị trí vai trò của chính sách xã hội nông
thôn ở CHLB Đức
Nghiên cứu về CSXH nói chung, CSXH nông thôn nói riêng đã đợc các
nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm. Trong sách báo đã xuất bản trên thế giới
có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, trong đó, các nhà kinh tế học ở
CHLB Đức có nhiều t tởng quý giá.
Theo các nhà kinh tế học CHLB Đức, các điều kiện xã hội đảm bảo cho
một cuộc sống tốt đẹp thực sự chỉ có thể có ở những xã hội có nền kinh tế thịnh
vợng. Một hệ thống kinh tế và một chính sách kinh tế cân đối vì vậy, nó sẽ có
tác dụng về mặt xã hội do chỗ chúng tạo ra một quá trình phát triển năng động,
tạo ra nhiều công ăn việc làm, dẫn tới tăng sản xuất, tăng thu nhập. Sẽ là lý tởng
với một con ngời có khả năng làm việc, nếu thông qua việc làm đầy đủ, giá cả
ổn định, cũng nh một sự tăng trỏng phù hợp, không ảnh hởng tới môi trờng,
tạo ra đợc các điều kiện cho phép con ngời không chỉ thoả mãn đợc nhu cầu
tiêu dùng hiện tại của mình, trên cơ sở thu nhập theo năng suất, mà còn dự phòng
Hai là, CSXH phải xuất phát từ quyết định có tính nguyên tắc của kinh tế
thị trờng, là nhà nớc đảm nhận càng ít càng tốt việc sản xuất hàng hoá và dịch
vụ, kể cả đối với việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ phục vụ xã hội.
Từ những luận cứ khoa học của việc nghiên cứu CSXH, CHLB Đức đã xây
dựng lên một hệ thống về CSXH, trong đó những vấn đề nguyên lý chung và
những lĩnh vực cụ thể về lao động việc làm, tiền lơng thu nhập, vấn đề về giới,
về tệ nạn xã hội, vấn đề CSXH trong các lĩnh vực giáo dục, nông nghiệp nông
thôn Sự vận hành của các hệ thống này đã giúp cho nền kinh tế thị trờng xã
hội ở CHLB Đức nói chung, trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nói riêng phát
triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự vận động phát triển của nền kinh tế, xu hớng hội
nhập kinh tế thế giới mạnh mẽ đang đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi chính sách
xã hội ở CHLB Đức phải tiếp tục hoàn thiện.
13
Trong lĩnh vực khoa học ở CHLB Đức, vấn đề CSXH nông thôn đợc tranh
luận khá sôi nổi và vẫn còn cha thật sự thống nhất cho đến ngày nay. Sự cha
thống nhất này có liên quan tới vấn đề khái niệm, đặc trng, vị trí, phạm vi
CSXH nông thôn và mối quan hệ giữa CSXH nông thôn với chính sách nông
nghiệp. Nghiên cứu phơng pháp xây dựng CSXH nông thôn của CHLB Đức, ta
có thể rút ra một số vấn đề sau đây:
1.1.1.1.Về khái niệm, bản chất chính sách x hội nông nghiệp và chính
sách x hội nông thôn
Khi nói tới CSXH nông nghiệp, hay CSXH cho nông dân là nói chính sách
xã hội đối với những nông dân thuần tuý, còn nói CSXH nông thôn là nói tới
CSXH cho cả nông dân và dân c phi nông nghiệp trong nông thôn.
Rõ ràng ngời dân sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ là một bộ phận
những ngời dân sống ở nông thôn. Ngoài những dân c làm việc trong lĩnh vực
nông nghiệp, trong nông thôn còn một bộ phận dân c phi nông nghiệp. Đặc biệt
trong quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá, ở các nớc phát triển hiện nay có xu
hớng gia tăng số dân nông thôn không phải là nông dân. Những ngời này, hoặc
trợ liên kết xã hội, di c từ vùng nông thôn này đến vùng khác, từ ngành nghề
này sang ngành nghề khác, xây dựng chính sách ruộng đất xã hội, định hớng
cho xí nghiệp gia đình, cải thiện cấu trúc nông nghiệp, những cải cách về quyền
lao động nông nghiệp, cũng nh khuyến khích định vị công nghiệp những khu
vực nông thôn .
Mặc dù có những điều chỉnh xã hội thông qua các chính sách nh trên, thì
một CSXH nông nghiệp xã hội nh thế cũng không thể đợc gọi là CSXH
nông nghiệp. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, những đặc trng xã hội của một
thể chế chính trị không chứng minh đợc tính pháp luật của CSXH đó. Theo học,
cần phải phân biệt rõ ràng một mặt là CSXH nông nghiệp và mặt kia là chính
sách nông nghiệp về mặt xã hội.
1.1.1.2. Vị trí của chính sách x hội nông nghiệp
Để làm rõ vị trí của CSXH nông nghiệp, chúng ta cần phân tích mối quan
hệ giữa CSXH nông nghiệp và chính sách nông nghiệp (hay chính sách nông
thôn). Về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau. Tựu trung lại có ba quan điểm:
1/ CSXH nông nghiệp là một bộ phận của chính sách nông nghiệp, hay là
một bộ phận của chính sách nông thôn.
2/ CSXH nông nghiệp là một phân hệ thuộc hệ thống của CSXH.
15
3/ CSXH nông nghiệp vừa là bộ phân của chính sách nông nghiệp, vừa là
bộ phân của CSXH.
- Về quan điểm coi CSXH nông nghiệp là một bộ phận của chính sách
nông nghiệp hoặc một bộ phận của chính sách nông thôn. Có thể nêu lên một
số ví dụ sau đây:
Hiệp ớc thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (CĐKTCÂ) cho rằng,
chính sách xã hội về nông nghiệp là một bộ phận của chính sách nông nghiệp.
Ngay từ năm 1960 Uỷ ban kinh tế xã hội của CĐKTCÂ đã ủng hộ việc đa chính
sách xã hội vào chính sách nông nghiệp chung; khi bày tỏ ý kiến đối với những
đề nghị do uỷ ban của CĐKTCÂ đa ra về việc thiết lập và áp dụng chính sách
sách nông thôn đợc tổ chức tại Siena, Italy từ 11-12 tháng 7/2002, các nhà khoa
học các nớc OECD cho rằng, chính sách nông thôn có phạm vi rộng lớn, bao gồm
ba bộ phận là chính sách thu nhập, chính sách cơ cấu và CSXH nông nghiệp.
- Quan điểm coi CSXH nông nghiệp là một phân hệ thuộc hệ thống
chính sách x hội.
Một trong những ngời đầu tiên đa ra quan niệm này là nhà kinh tế học
ngời Đức là Von der Goltz. Trong cuốn sách Nông nghiệp và các chính sách nông
nghiệp của trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Bonn, Von der Goltz đã sử dụng khái
niệm CSXH thuộc về nông nghiệp. Theo t tởng của ông, CSXH nông nghiệp đa
ra những quy tắc chuẩn mực về chính sách quan trọng nhất nhằm thực hiện những
quan hệ xã hội lành mạnh hơn ở nông thôn. Ông đã phân biệt ba bộ phận chính sách,
đó là: chính sách nông nghiệp giải quyết những tranh chấp trong sở hữu gọi là chính
sách sở hữu, chính sách giải quyết các vần đề xã hội đợc gọi là CSXH và chính sách
khuyến khích việc phát triển nông nghiệp.
- Quan điểm coi chính sách x hội nông nghiệp vừa bộ phận của chính
sách nông nghiệp, vừa là bộ phận của chính sách x hội. Theo quan điểm này,
CSXH nông nghiệp vừa có mối quan hệ với chính sách nông nghiệp, vừa có mối
quan hệ với CSXH. Trong cuốn sách: Chính sách xã hội và sự đảm bảo xã hội
trong lĩnh vực nông nghiệp
(Landwirchaftliche sozialpolitik und soziale
sicherheit in der Landwirtschaft), Dr.Walter Wanggler viết: CSXH nông nghiệp
phải đợc nhìn nhận một cách có hệ thống nh là một phần của CSXH chứ
không chỉ là của chính sách nông nghiệp.
Nh thế, thông qua thực hiện CSXH nông nghiệp, một mặt đảm bảo thực
hiện những nội dung của chính sách kinh tế, mặt khác, nó thực hiện những vấn
đề đảm bảo xã hội cho ngời nông dân.
17
1.1.1.3. Nội dung chính sách x hội nông nghiệp
Dù theo quan điểm CSXH nông nghiệp là bộ phận của chính sách phát
18
1.1.2. Bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội cho nông dân - Nội dung chủ
yếu của chính sách xã hội nông thôn ở CHLB Đức
1.1.2.1. Bảo hiểm x hội ở CHLB Đức
a. Khái quát chung về bảo hiểm x hội ở CHLB Đức
Thứ nhất, quá trình phát triển
BHXH của CHLB Đức ra đời gắn liền với thời kỳ bắt đầu của đại công
nghiệp trên cơ sở quyết định của Đại đế Wilhem I về việc xây dựng một hệ thống
bảo hiểm cho ngời lao động.
Quá trình phát triển của hệ thống BHXH của CHLB Đức trải qua hơn một
trăm năm, có thể chia thành các giai đoạn sau đây:
-Từ 1883 đến 1914: Đặc điểm quan trọng nhất của giai đoạn này là sự ra
đời của hình thức pháp lý đầu tiên của BHXH (RVO). Với sự ra đời của RVO, ba
loại hình bảo hiểm là Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm tai nạn và Bảo hiểm hu trí đợc
hệ thống hóa và đặt dới sự điều chính chung thống nhất của RVO. RVO trở
thành cơ sở pháp lý thống nhất chung đầu tiên của hệ thống bảo hiểm xã hội cho
đến năm 1989.
-Từ 1914 đến 1945: Giai đoạn này gắn liến với hai cuộc chiến tranh thế
giới thứ nhất và thứ hai mà Đức có liên hệ mật thiết và sự tồn tại của nhà nớc
Đức quốc xã (1933 - 1945). Trong giai đoạn này đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện
về tổ chức, tài chính và hoạt động kiểm tra đối với các tổ chức BHYT. Tuy nhiên
điều này cũng đã dẫn đến một thay đổi cơ bản trong các nguyên tắc cơ bản của
BHXH. Theo đó, nguyên tắc tự quản bị xóa bỏ, thay vào đó là sự quản lý trực
tiếp của nhà nớc Đức quốc xã. Đối tợng bắt buộc của bảo hiểm y tế nhà nớc
đợc mở rộng cho những ngời nghỉ hu(1941). Giai đoạn này cũng gắn liền với
sự ra đời của hiệp hội bảo hiểm Đức đầu tiên.
- Từ 1945 đến 1969: Giai đoạn này gắn liền với sự thành lập của nhà nớc
Liên bang và nguyên tắc tự quản theo đó đợc thiết lập trở lại. Giai đoạn này
đánh dấu mốc phát triển của bảo hiểm hu trí qua sự ra đời của hiệp hội bảo
Đồng thời bảo vệ quyền hủy bỏ hợp đồng của ngời tham gia bảo hiểm. Giai
đoạn này gắn liền với sự kiện mức tờng Berlin. Sự thống nhất n
ớc Đức dẫn đến
sự thống nhất của hệ thống BHXH ở khu vực Tây Đức và khu vực Đông Đức.
Theo đó, từ 01/01/1991 luật BHXH của Tây Đức đợc đa vào áp dụng tại khu
vực Đông Đức cũ. Tổ chức của hệ thống BHYT nhà nớc cũng thay đổi mạnh
mẽ. Những thay đổi này hớng vào hai mục tiêu cơ bản là: Tăng cờng sự cạnh
tranh giữa các tổ chức BHYT trong hệ thống BHYT nhà nớc và giữa các tổ chức
20
này với hệ thống BHYT t nhân (BHYT là loại hình duy nhất tồn tại sự cạnh
tranh này); Tạo ra sự cân bằng về cấu trúc rủi ro trong lĩnh vực sức khỏe, cụ thể
là cân bằng giữa các rủi ro cao với các rủi ro thấp qua nguyên tắc tơng trợ.
Năm 1995 đánh dấu sự ra đời của loại hình bảo hiểm thân thể. Tuy nhiên
đây cũng có thể xem là một sự mở rộng dịch vụ của BHYT.
Từ 01/01/2000 một sự đổi mới tiếp theo về luật trong lĩnh vực BHYT nhà
nớc đợc ra đời. Theo đó, sự đổi mới hớng vào việc thúc đẩy chất lợng và
hiệu quả kinh tế của các hoạt động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Vai trò của bác
sỹ gia đình đợc nhấn mạnh (ngời đợc bảo hiểm buộc phải thực hiện việc
khám đầu tiên từ bác sỹ gia đình chứ không trực tiếp đến thẳng các bệnh viện, trừ
trờng hợp khẩn cấp. Bác sỹ gia đình phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc
viết giấy xác nhận ốm đau cũng nh chuyển điều trị và trách nhiệm với việc sử
dụng các biện pháp điều trị hợp lý).
Từ năm 2003 luật điều chỉnh trong lĩnh vực BHYT nhà nớc tiếp tục đợc
đổi mới. Theo đó kích thích sự tham gia phòng ngừa của ngời đợc bảo hiểm và
hạn chế các rủi ro thuộc về hành vi (mỗi ngời đợc bảo hiểm bởi BHYT nhà
nớc sẽ phải tự nộp 10 Euro cho lần khám đầu tiên của mỗi quý. Điều này góp
phần hạn chế những cuộc viếng thăm bác sỹ không cần thiết).
Từ 2005, với sự đổi mới của luật bảo hiểm hu trí nhà nớc, tuổi nghỉ hu đối
với ngời lao động sẽ 67 tuổi thay vì 65 nh trớc đây. Điều này xuất phát từ nguyên
nghĩa vụ tối thiểu. Hiện nay khoảng 90% dân số của CHLB Đức là đối tợng bảo
hiểm của hệ thống BHXH.
- Nguyên tắc tự chủ về tài chính. Các chi phí cho việc thực hiện các dịch
vụ và tổ chức quản lý của BHXH không phải từ ngân sách nhà nớc (từ thuế) mà
đợc thực hiện từ nguồn đóng góp nghĩa vụ bảo hiểm hay nghĩa vụ xã hội của
ngời tham gia bảo hiểm. Nói một cách khác thì các tổ chức bảo hiểm của hệ
thống BHXH phải tự cân đối thu chi chứ nhà nớc không làm thay hoặc bao cấp.
Mặc dù các nhiệm vụ của BHXH do nhà nớc đặt ra. Chỉ trong một số trờng
hợp cụ thể, sẽ có sự hỗ trợ tài chính của nhà nớc nhng không phải hỗ trợ các tổ
chức bảo hiểm mà hỗ trợ ngời tham gia bảo hiểm bằng việc nhà nớc đóng góp
thay một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ bảo hiểm của các đối tợng này. Trừ một
vài ngoại lệ trong lĩnh vực nông nghiệp, nhà nớc tham gia cả vào chi phí cho
việc thực hiện một số dịch vụ. Nhng về bản chất đây là các khoản chi tiêu gắn
với mục tiêu bảo hộ nông nghiệp.
- Nguyên tắc về sự tơng trợ. Tất cả các rủi ro có thể có của những ngời
tham gia bảo hiểm sẽ do tất cả những ngời tham gia bảo hiểm cùng gánh vác
22
chung. Điều này hoàn toàn giống nh hệ thống bảo hiểm t nhân. Tuy nhiên, sự
tơng trợ trong BHXH đợc nhấn mạnh ở việc xác định nghĩa vụ bảo hiểm trên
cơ sở thu nhập ròng của ngời lao động chứ không xác định trên cơ sở dịch vụ
đợc lựa chọn nh ở bảo hiểm t nhân.
- Nguyên tắc tự quản. Các tổ chức bảo hiểm trong hệ thống BHXH đợc
xác định là các tổ chức tự quản. Các tổ chức này tự tổ chức bộ máy để thực hiện
các mục tiêu và nhiệm vụ đợc nhà nớc ủy thác. Nhà nớc chỉ đặt ra nhiệm vụ
bảo hiểm và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ bảo hiểm của các tổ chức này
thông qua các Bộ chuyên ngành Liên bang chứ không can thiệp vào tổ chức bộ
máy của các tổ chức này. Tổ chức cao nhất của của mỗi tổ chức BHXH là hội
đồng thành viên, sẽ hoàn toàn do ngời tham gia bảo hiểm và ngời sử dụng lao
động lựa chọn theo nhiệm kỳ 6 năm một lần dới hình thức bỏ phiếu kín.
đi. Ngoài ra, phần thu nhập ròng vợt quá giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm
sẽ không phải gánh chịu nghĩa vụ.
Nông dân là đối tợng bắt buộc tham gia BHXH và đợc xác định là đối
tợng đặc biệt. Đối tợng này tham gia bảo hiểm xã hội ở tổ chức BHXH dành
riêng cho Nông dân và có những điều chỉnh đặc biệt phù hợp với tính chất công
việc của đối tợng này.
Cơ sở cho sự phân biệt này là: Nông dân là ngời có tài sản sở hữu, họ vừa
là ngời tự làm việc và trả thù lao cho chính mình, vừa là ngời sử dụng các lao
động khác (ít nhất là các thành viên trong gia đình) và là ngời thu hởng lợi
nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Do vậy họ không đợc
coi là ngời lao động làm công ăn lơng nhng cũng không hoàn toàn là ngời
chủ sử dụng lạo động.
Giữa BHXH nói chung với BHXH dành riêng cho nông dân chỉ khác biệt ở
cách xác định nghĩa vụ bảo hiểm và điều kiện để nhận các lợi ích từ các dịch vụ
của bảo hiểm.
Thứ t, nghĩa vụ bảo hiểm x hội
- Trừ một vài ngoại lệ, nghĩa vụ BHXH đ
ợc xác định với một tỷ lệ nhất
định cho phần thu nhập ròng thấp hơn giới hạn xác định nghĩa vụ xã hội của
ngời lao động. Tổng cộng mức nghĩa vụ BHXH cho đối tợng tham gia bảo
hiểm bắt buộc hiện nay là 46,5 % thu nhập ròng.
- Mức giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm đợc xác định khác nhau ở các
loại hình bảo hiểm khác nhau và đợc điều chỉnh hàng năm. Điều này tùy thuộc
24
vào mục tiêu và những nhu cầu thực tế cho việc thực hiện các dịch vụ bảo hiểm
mỗi năm. Hiện nay (năm 2006) mức giới hạn nghĩa vụ xã hội áp dụng ở Bảo
hiểm y tế và Bảo hiểm thân thể là 3.487,5 euro mỗi tháng; Bảo hiểm hu trí và
Bảo hiểm thất nghiệp là 5.250 euro mỗi tháng đối với khu vực Tây Đức cũ và
4.400 Euro mỗi tháng đối với khu vực Đông Đức cũ. Mức giới hạn nghĩa vụ bảo
sử dụng lao động trong trờng hợp này cho nghĩa vụ bảo hiểm hu trí sẽ không
vợt quá 9,75% của 6.000 Euro.
Thứ năm, tổ chức và cơ sở pháp lý của bảo hiểm x hội
Các tổ chức BHXH là các tổ chức tự quản phải tự chủ về các hoạt động thu
chi và thực hiện các nghĩa vụ xã hội đợc Nhà nớc đặt ra. Nhà nớc chỉ đặt ra
và kiểm soát việc thực hiện các nghĩa vụ xã hội của các tổ chức này thông qua
các Bộ chuyên ngành nh: Bộ y tế và xã hội Liên bang; Bộ Kinh tế và Lao động
Liên bang; Bộ bảo vệ ngời tiêu dùng Liên bang và Bộ Nông nghiệp Liên bang.
Hội đồng thành viên của các tổ chức BHXH sẽ do ngời tham gia bảo
hiểm và ngời chủ sử dụng lao động sẽ lựa chọn kín theo nhiệm kỳ 6 năm. Hội
đồng thành viên có nhiệm vụ tiếp tục lựa chọn các thành viên của hội đồng quản
trị. Cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức BHXH là Luật BHXH với các
điều chỉnh chung và điều chỉnh theo từng lĩnh vực bảo hiểm.
b. Các loại bảo hiểm x hội cho nông dân
Thứ nhất, bảo hiểm y tế cho nông dân
- Khái quát chung về bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm bắt buộc, mọi công dân, ngời làm
việc và học tập tại CHLB Đức đều có nghĩa vụ phải tham gia BHYT. Tuy nhiên
chỉ các đối tợng sau đây, đợc xác định là đối tợng bắt buộc của BHYT nhà
nớc: Ngời lao động và nhân viên văn phòng; Những ngời liên quan đến tiền
thất nghiệp hoặc nhận hỗ trợ thất nghiệp; Những ngời hoạt động nghệ thuật và
phóng viên; Những ngời khuyết tật; Sinh viên; Thực tập sinh và thực tập nghề
nghiệp không lơng; Những ngời nghỉ h
u. Nông dân và các thành viên trong
gia đình. Những đối tợng khác không thuộc đối tợng bắt buộc của BHYT nhà
nớc, sẽ phải tham gia bảo hiểm ở các tổ chức BHYT t nhân hoặc một số trờng
hợp có thể tham gia ở BHYT nhà nớc dới hình thức tự nguyện.