VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 32 - Tháng 10 - 2011
28
ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC TƯỚI ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT
LƯỢNG CỦA HAI GIỐNG CÂY HỌ ĐẬU (LEUCAENA LEUCOCEPHALA K636 VÀ
STYLOSANTHES GUIANENSIS CIAT 184 ) TRONG VỤ THU ĐÔNG
Nguyễn Văn Quang
1
, Bùi Việt Phong
1
, Phạm Thị Xim
1
, Nguyễn Thị Mùi
1
và Nguyễn Đình Vinh
2
1
Viện chăn nuôi;
2
Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội
Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Quang -
Bộ môn Dinh dưỡng Thức ăn Chăn nuôi và Đồng cỏ - Viện chăn nuôi
Tel: 04 8.386.132; Mobi: 0989.637.328; Fax: 04 8.389.775; Email :
ABSTRACT
Effect of different level of irrigated water on growth, productivity and quality of two
leguminous varieties (Leucaena leucocephala K636 and Stylosanthes guianensis CIAT
184) in autumn-winter
tưới nước đã duy trì và cho năng suất cao duy trì cho đến tháng 7 (cuối mùa khô) nhưng trong
khi đó diện tích không được tưới nước năng suất xanh giảm nhanh chóng từ tháng 5 trở đi
(Lazaridou và Vrahnakis, 1997). Trong điều kiện đất khô dễ thoát nước việc tưới cho cỏ họ
đậu Lablab and Cowpea làm cây thức ăn xanh đã cho năng suất cao hơn so với không tưới
NGUYỄN VĂN QUANG - Ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng, năng suất
29
(Astatke, A và CTV, 2000). Tăng lượng nước tưới đã làm tăng năng suất vật chất khô của L.
leucocephala (Naji, K. và CTV, 2010). Để tạo ra 1 tấn chất khô, keo giậu cần 5,4 tấn hơi nước
thoát qua lá (Perez và Melendedez, 1980). Ở Việt nam nghiên cứu về ảnh hưởng của nước
tưới đến năng suất của cỏ Stylo, Lê Hà Châu (1999) đã chỉ ra rằng giống Stylo Cook có thể
cho năng suất xanh 21 tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) và bón phân ure (60kg/ha), cùng tưới nước
3-5 ngày 1 lần trong mùa khô đã làm tăng năng suất lên 44% so với không tưới. Nhiều kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra rằng các giống cỏ cây thức ăn gia súc chỉ sinh trưởng mạnh trong mùa hè
và sinh trưởng rất chậm trong mùa đông. Hai nguyên nhân chính dẫn đến năng suất thấp của
cây thức ăn trong mùa đông là do nhiệt độ thấp và độ ẩm thấp. Do vậy hầu hết các giống cây
thức ăn chăn nuôi đang được trồng phổ biến hiện nay ở vùng châu thổ sông Hồng có năng
suất rất thấp trong mùa đông chỉ khoảng 30% so với mùa mưa (Bùi Quang Tuấn, 2005). Một
trong những giải pháp có thể nâng cao năng suất chất xanh cho cỏ trong mùa đông đó là cung
cấp đủ nước cho cỏ phát triển. Chính vì vậy mà chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của
nước tưới đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng của hai giống cây họ đậu (keo giậu K636
và Stylo CIAT 184) trong vụ thu đông” nhằm mục tiêu xác định lượng nước tưới thích hợp
trong vụ thu đông cho 2 giống cây họ đậu Leucaena leucocephala K636 (keo giậu K636) và
Stylosanthes guianensis CIAT 184 (Stylo CIAT 184).
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: được tiến hành trên 2 giống cây họ đậu là Leucaena leucocephala
K636 và Stylosanthes guianensis CIAT 184.
30
Phương pháp tiến hành thí nghiệm
Phương pháp tưới: tưới nước được thực hiện trong tháng mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4.
Lượng nước tưới cho mỗi lứa cắt theo đúng công thức cho mỗi giống. Thời gian tưới sau khi
thu cắt 10 ngày, tưới 2 lần/ lứa cắt, lần 2 cách lần 1 là 2 tuần, tưới phun đều trên thảm cỏ.
Cách gieo trồng: Trước khi gieo, đất được làm kỹ cày 2 lượt, bừa 3 lượt, nhặt tương đối sạch
cỏ dại, lên luống rộng 1,2 – 1,4 m. Hạt giống được cho vào hốc, mỗi hốc 3-4 hạt. Khoảng
cách giữa các cây là 25 – 30cm, giữa các hàng là 70cm. Sau khi gieo hạt xong được phủ 1 lớp
đất mỏng không quá 1 cm.
Phân bón: Phân bón lót phân chuồng, phân lân và phân kali. Phân đạm dùng bón thúc một lần
khi cây còn nhỏ (cây có độ cao 10-15cm).
Chăm sóc:Sau khi gieo trồng 10-15 ngày tiến hành kiểm tra nảy mầm và trồng dặm vào những
chỗ có mật độ kém, không lên. Xới xáo váng, diệt cỏ dại ban đầu tạo điều kiện cho cây con phát
triển. Tiến hành làm cỏ dại 3-4 lần trong thời gian đầu đến khi thảm cỏ phát triển ổn định.
Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi
- Tốc độ sinh trưởng, tốc độ tái sinh: tiến hành đo 5 cây ngẫu nhiên/ô theo phương pháp đường
chéo và cứ 10 ngày đo độ cao thảm cỏ 1 lần (tốc độ sinh trưởng và tái sinh tương đối). Từ đó tính
tốc độ sinh trưởng và tốc độ tái sinh tuyệt đối của các giống cỏ trong 1 ngày đêm. Nếu gọi độ cao
sinh trưởng của cỏ trong 10 ngày đầu (1 – 10 ngày) là h
1
, 10 ngày tiếp theo (11 – 20 ngày) là h
2
,
tương tự ta có h
3
, h
4
,… h
n
điểm lấy mẫu vào buổi sáng khi cây đã khô sương.
NGUYỄN VĂN QUANG - Ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng, năng suất
31
VCK và protein được phân tích theo phương pháp của AOAC (1990) (Association of Official
Analyticial Chemists).
Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng Excel và Minitab 13 để tính toán, xử lý thống kê và xây dựng các phương trình hồi
quy.
Mô hình thống kê sử dụng cho thí nghiệm là: Y
ij
= µ + G
i
+ NT
j
+ (G*NT)
ij
+ e
ijk
Trong đó:
Y
ijk
: Giá trị quan sát K của chỉ tiêu theo dõi
µ: Giá trị trung bình mẫu
G
i
: Ảnh hưởng của giống
*TG
Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối lứa đầu, cm/ngày
Stylo CIAT
184
0,33
a
0,31
a
0,36
ab
0,42
b
0,48
c
0,43
bc
0,39
ab
Keo giậu
K636
0,42
b
0,48
c
0,37
de
0,34
e
Keo giậu
K636
1,61
f
1,23
g
0,99
h
0,84
a
0,75
j
0,69
bj
0,72
j
0,022
*** ***
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 32 - Tháng 10 - 2011
17,29
c
23,94
de
32,98
fg
44,03
h
55,94
i
66,88
j
1,156
*** ***
Tốc độ sinh trưởng tương đối lứa tái sinh, cm
Stylo CIAT
184
25,18
a
31,60
b
86,28
j
93,14
k
100,3
m
1,458
*** ***
a,b,c,d,e
Các chữ khác nhau trong cùng 1 hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê; *** Sự sai
khác giữa các số trung bình ở mức xác xuất P<0,05
Kết quả Bảng 1 cho thấy tốc độ sinh trưởng và tốc độ tái sinh giữa hai giống thí nghiệm có sự
khác nhau rất rõ rệt (sai khác có ý nghĩa P<0,05), đã theo đúng quy luật cây thân bụi và cây
thân gỗ. Giữa các mức thời gian khác nhau cũng cho tốc độ sinh trưởng và tốc độ tái sinh
khác nhau (P<0,05). Theo thời gian, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối lứa đầu thể hiện sự phát triển
của cả hai giống cỏ thí nghiệm đều tuân theo sự phát triển thông thường, tuy nhiên ở mỗi
giống lại có sự khác nhau. Giống Stylo CIAT 184, giai đoạn đầu 0-40 ngày sinh trưởng chậm,
sau đó 41-70 ngày tăng mạnh và giai đoạn 71-80 ngày sinh trưởng lại không tăng, đến giai
đoạn 81-90 ngày lại có xu hướng giảm xuống và đạt cao nhất ở giai đoạn 61-70 ngày (0,48
cm/ngày đêm). Giống Keo giậu K636, cũng có sự phát triển tương tự giống Stylo CIAT 184,
tuy nhiên giai đoạn phát triển đạt cao nhất ở 71-80 ngày sau gieo (1,19 cm/ngày đêm) và đến
giai đoạn 81-90 ngày tốc độ sinh trưởng cũng có xu hướng giảm xuống. Đối với tốc độ sinh
trưởng tuyệt đối lứa tái sinh ở các giống cỏ thí nghiệm có xu hướng giảm xuống theo thời gian
(thể hiện rõ ở Biểu đồ 1).
y = 0.0189x + 0.3143
r = 0,69
chặt chẽ (với r
= 0,69) và lứa tái sinh tốc độ sinh trưởng có mối tương quan nghịch rất chặt với
tuổi tái sinh (r = 0,95). Kết quả chỉ ra cho thấy cần xác định thời điểm thu cắt thích hợp cho cỏ
Stylo khi tuổi tái sinh càng dài tốc độ sinh trưởng của cỏ Stylo sẽ chậm lại.
Đối với giống Keo giậu K636, không có xu hướng tuyến tính đối với tốc độ sinh trưởng lứa
đầu (hàm log thuận với r = 0,94 ) và lứa tái sinh (hàm log nghịch với r
= 0,98). Kết quả cho
thấy đến 60 ngày tuổi tốc độ sinh trưởng của Keo giậu đã bắt đầu giảm ở cả lứa đầu và lứa tái
sinh
Tốc độ sinh trưởng tương đối lứa đầu và lứa tái sinh thể hiện chiều cao thảm cỏ ở các giai
đoạn phát triển khác nhau của cây. Kết quả bảng 1 cho thấy, có sự khác biệt rất rõ giữa hai
giống cỏ thí nghiệm (P<0,05). Tốc độ sinh trưởng tương đối lứa đầu và lứa tái sinh của giống
Keo giậu K636 luôn cao hơn nhiều so với giống Stylo CIAT 184, điều này thể hiện sự đúng
quy luật của cây thân gỗ và cây thân bụi.
Tốc độ sinh trưởng theo mức nước tưới
Kết quả Bảng 2 cho thấy, ảnh hưởng của mức độ tưới nước khác nhau các giống thí nghiệm
cho thấy tốc độ sinh trưởng lứa đầu và lứa tái sinh cũng khác nhau (P<0,05). Giống Keo giậu
có tốc độ sinh trưởng cao hơn rất nhiều so với giống cỏ Stylo và là sự biểu hiện rất rõ về sự
khác biệt giữa giống cây thân bụi mềm (Stylo CIAT 184) và giống cây thân gỗ (Keo giậu
K636).
Sự khác nhau rất rõ rệt về tốc độ sinh trưởng lứa đầu và lứa tái sinh ở các mức tưới nước khác
nhau. Chỉ tiêu theo dõi về tốc độ sinh trưởng tuyệt đối lứa đầu đối với giống Stylo CIAT 184
cho thấy: Không tưới nước cho Cỏ Stylo đã ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của
cỏ. Khi tưới nước với các mức CT2 (10000 lít/ha) và CT3 (20000 lit/ha) tốc độ sinh trưởng
tuyệt đối lứa đầu đã tăng rõ rệt so với CT1: 0,29cm/ngày đêm (P<0,05), tuy nhiên giữa 2 mức
tưới ở CT2 và CT3 sự khác nhau là không có ý nghĩa (P>0,05). Khi tăng lượng nước tưới đến
CT4 (30000 lít/ha), tốc độ sinh trưởng tuyệt đối lứa đầu đã tăng cao nhất: 0,52 cm/ngày đêm
(P<0.05) và mặc dù tăng lượng nước tưới lên tới CT5 (40000 lít/ha) và CT6 (50000 lít/ha) tốc
b
0,41
ab
Keo giậu
K636
0,68
c
0,80
b
0,94
a
0,86
b
0,88
ab
0,84
ab
0,049
*** NS
Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối lứa tái sinh (cm/ngày đêm)
Stylo CIAT
184
0,39
d
0,49
c
0,50
Tốc độ sinh trưởng tương đối lứa đầu (cm)
Stylo CIAT
184
15,57
a
19,80
a
21,37
a
29,76
b
20,14
a
22,10
a
Keo giậu
K636
29,20
c
33,97
c
43,00
a
a
Keo giậu
K636
66,33
c
74,25
b
88,90
a
77,50
b
77,39
b
76,54
b
3,101
*** NS
a,b,c,d,e Các chữ khác nhau trong cùng 1 hàng chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê; *** Sự
sai khác giữa các số trung bình ở mức xác xuất P<0,05; NS: Không có sự sai khác thống kê
P>0,05
Đối với cây Keo giậu K636 thì CT1 (không tưới nước) có sự sai khác lớn so với các công
thức được tưới nước (P<0,05). Ở CT3 (20000 lit/ha) thể hiện chỉ số tốc độ sinh trưởng tuyệt
đối đạt cao nhất (0,94 cm/ngày đêm), tuy nhiên lại không có sự sai khác thống kê đối với mức
1
1.2
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Công thức tưới
(lít/ha)
Tốc độ sinh trưởng, tái sinh (cm)
ST Stylo CIAT 184 ST Keo giậu K636
TS Stylo CIAT 184 TS Keo giậu K636
Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của các mức nước tưới đến tốc độ sinh trưởng tuyệt đối
và lứa tái sinh của các giống thí nghiệm
NGUYỄN VĂN QUANG - Ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng, năng suất
35
Qua Biểu đồ 2 chúng ta thấy, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối lứa đầu và lứa tái sinh của cả hai
giống thí nghiệm đều có xu hướng phi tuyến tính (hàm bậc 2) và các mối tương quan tương
đối chặt chẽ, đối với Stylo (r = 0,75 và 0,83 và Keo giậu (r = 0,81 và 0,91) Kết quả cho thấy
tại mức tưới nước ở CT4 (30000 lít/ha) cho cỏ Stylo CIAT 184, tốc độ sinh trưởng đạt giá trị
cao nhất sau đó ở các mức tưới CT5 và CT6 giá trị này có xu hướng giảm nhẹ. Đối với giống
Keo giậu K636, tốc độ sinh trưởng đạt cao nhất ở CT3(20000 lít/ha), mức tưới nước ở các
CT4, CT5, CT6 cũng có chiều hướng giảm
Số nhánh cấp 1, cao thảm, năng suất xanh theo mức nước tưới khác nhau
Chiều cao thảm cỏ và số nhánh cấp 1 là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh
trưởng, phát triển của các giống cỏ và cây thức ăn xanh. Chiều cao thảm cỏ càng lớn và sự
phân nhánh cấp 1 càng mạnh sẽ làm cơ sở tạo ra nguồn sinh khối chất xanh càng cao. Sau 2
lứa cắt, kết quả thu được phản ánh mức độ ảnh hưởng của lượng nước tưới đến số nhánh cấp
1, cao thảm, năng suất chất xanh, năng suất VCK, năng suất protein của 2 giống họ đậu được
thể hiện qua Bảng 3. Kết quả cho thấy, nước có ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu như số
Stylo CIAT 184 6,73
a
8,36
b
8,67
b
9,67
c
9,33
bc
8,93
b
Keo giậu K636 4,33
d
4,73
d
5,47
e
4,87
de
4,73
d
4,80
de
0,278 *** ***
Bình quân độ cao thảm cỏ khi thu cắt (cm)
Stylo CIAT 184 38,40
a
36
Stylo CIAT 184 13,56
a
16,02
b
19,71
c
25,10
d
22,65
e
22,53
e
Keo giậu K636 7,07
f
9,95
g
14,83
h
12,72
i
13,20
hi
12,5
hi
0,912 *** ***
ad
0,64
b
0,80
ce
1,02
d
0,94
c
0,96
c
Keo giậu K636 0,41
d
0,58
a
0,86
ce
0,73
be
0,77
e
0,73
be
0,045 *** ***
Giá chi phí tưới nước (đồng/kg chất xanh)
Stylo CIAT 184 232,30
196,72
Keo giậu K636 có rễ cọc, rễ ăn sâu vào lòng đất nên lấy được nguồn nước ngầm trong lòng
đất nhiều hơn do đó nhu cầu tưới nước của giống Keo giậu K636 thấp hơn so với giống Stylo
CIAT 184. NGUYỄN VĂN QUANG - Ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng, năng suất
37
0
5
10
15
20
25
30
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6 CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Stylo CIAT 184 Keo giậu K636
Công thức tưới
(lít/ha)
Năng suất (tấn/ha)
NS xanh
NSVCK
NS Pro
Biểu đồ 3: Ảnh hưởng của lượng nước tưới đến năng suất trong vụ khô của
các giống cỏ thí nghiệm
y = 3.3818Ln(x) + 8.005
r = 0.49
y = 5.7114Ln(x) + 13.617
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 32 - Tháng 10 - 2011
38
0
5
10
15
20
25
30
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Công thức tưới
(lít/ha)
Năng suất (tấn/ha)
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
500
Chi phí cho 1 kg chất xanh (đồng)
NS xanh Stylo CIAT 184 NS xanh Keo giậu K636
Giá thành 1 kg Stylo CIAT 184 Giá thành 1 kg Keo giậu K636
3,08 45,38 5,35
CT3 28,54 20,26 24,30
2,84 44,46 5,56
CT4 28,21 20,28 24,21
2,44 43,75 5,69
CT5 27,15 21,48 24,03
2,21 43,54 5,75
Keo giậu K636
CT6 26,44 21,98 23,75
2,12 43,36 5,93
Phòng phân tích Thức ăn gia súc và Sản phẩm Chăn nuôi – Viện Chăn nuôi
Kết quả Bảng 4 cho thấy, đối với giống Stylo CIAT 184 có hàm lượng VCK dao động từ
26,47 – 28,54%; Protein dao động từ 13,48 – 16,05%; Xơ từ 25,56 - 28,74%; Lipit từ 3,35 -
4,85%; DXKN từ 40,55 - 41,77% và KTS là 8,65 - 10,25%. Đối với giống Keo giậu K636 thì
hàm lượng VCK dao động trong khoảng là 26,44 – 30,08%; Protein từ 19,12 – 21,98%; Xơ từ
23,75 - 26,65 %; Lipit từ 2,12 - 3,35 %; DXKN từ 43,36 - 45,71% và KTS là 5,17 - 5,93%.
Kết quả Bảng 3 cho thấy, khi tăng lượng nước tưới đã làm tăng hàm lượng protein, DXKN,
KTS đạt cao nhất ở CT6 và làm giảm hàm lượng VCK, Xơ và Lipit của cả 2 giống thí
nghiệm. Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của cây thức ăn nói chung. Hai giống Stylo
CIAT 184 và Keo giậu K636 đều có hàm lượng VCK và protein rất cao nên đây là nguồn thức
ăn rất giàu dinh dưỡng cho gia súc.
NGUYỄN VĂN QUANG - Ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng, năng suất
39
bc
0,05
c
0,026
a, b, c,
Các chữ khác nhau chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê P<0,05
Kết quả Bảng 5 cho thấy hiệu suất sử dụng nước ở các công thức tưới khác nhau là khác nhau
ở cả 2 giống thí nghiệm (sai khác có ý nghĩa thống kê P<0,05). Hiệu quả sử dụng nước thể
hiện cao nhất của giống Stylo CIAT 184 ở mức tưới 30000 lít/ha và Keo giậu K636 ở mức
20000 lít/ha đều cho giá trị 0,19 kg chất xanh/lít nước tưới (Biểu đồ 6).
0 0
0.13
0.14
0.15
0.19
0.19
0.09
0.11
0.08
0.09
0.05
0
0.02
0.04
0.06
0.08
0.1
0.12
biệt trên các vùng đất khô cạn hoặc khan hiếm nguồn nước (Elasu và cs, 2009). Lượng nước
trong đất thấp sẽ làm tăng sự khủng hoảng nước vào những tháng cuối mùa khô (Kramer và
Boyer, 1995). Kỹ thuật tưới nước có hiệu quả sẽ gìn giữ được nguồn nước mà không ảnh
hưởng đến năng suất cây trồng (Speer và cs., 2008). Kireger và Blake, (1994) đã chỉ ra trong
kết quả nghiên cứu của mình rằng năng suất vật chất khô của cây Acacia không tương quan
với hiệu quả sử dụng nước. Hiệu quả sử dụng nước luôn luôn có ý nghĩa rất cao cho những
vùng mà nguồn nước luôn bị thiếu hụt. Năng suất cây trồng lương thực bị giảm do thiếu nước
tưới (Speer và cs, 2008). Hàm lượng nước trong lá cây có tương quan chặt chẽ với sức trương,
sinh trưởng, độ dẫn khí khổng và vận chuyển nước (Kramer và Boyer, 1995, Yamasaki và
Dillenburg, 1999). Lá cây phát triển trong điều kiện khô hạn đòi hỏi phải có giai đoạn hấp thụ
dài hơn so với bộ lá cây trong điều kiện sẵn có nguồn nước. Điều này có thể liên quan đến
hiện tượng thay đổi cấu trúc tế bào lá khô cằn (Yamasaki và Dillenburg, 1999). Trong điều
kiện thiếu nước việc tưới nước theo phương pháp nhỏ giọt trên bề măt lá không ảnh hưởng rõ
nét về lượng nước tổng số và các mối tương quan khác và đem lại hiệu quả của việc áp dụng
tưới nước cao hơn (Romero và cs, 2004).
Các chỉ tiêu Hàm lượng nước tương đối trong lá cây và tiềm năng nước sẵn có trong lá đã được
sử dụng rộng rãi để xác định sự thiếu hụt nước trong tế bào lá. Hàm lượng nước tương đối trong
lá cây được biểu thị bằng số lượng nước tương đối trong tế bào cây và hàm lượng nươc tương
đối của lá rất mẫn cảm trong điều kiện cây trồng thiếu hụt nước lâu dài (Santana và cs, 2008).
Mrema và cs (1997) đã báo cáo rằng sự thiếu hụt nước đã dẫn đến hàm lượng nước tiềm tàng
thấp trong lá cây Leucaena trồng trong chậu và sự thiếu nước đã gây ra hiện tượng giảm hàm
lượng nước tiềm tàng trong suốt thời gian sinh trưởng. Trong một thí nghiệm của Santana và cs.
(2008) và thí nghiệm của Grattan và cs. (2006) đã chỉ ra rằng hàm lượng nước tiềm tàng trong lá
không biến động khác nhau khi tưới nước ở các mức độ cao hơn nhưng lại xuất hiện sự giảm
lượng nước tiềm tàng trong lá khi áp dụng tưới nước ở mức độ thấp.
0
50
100
150
200
200
250
CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6
Công thức tưới
(lít/ha)
Tỷ lệ tăng (%)
Số nhánh cấp 1
NS chất xanh
NS VCK
NS protein
Biểu đồ 8: Tỷ lệ gia tăng các chỉ tiêu (%) của các mức nước được tưới so với không tưới ở
giống Keo giậu K636
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Nước tưới có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và chất lượng của hai giống cỏ thí nghiệm trong
vụ đông (P<0,05).
Mức nước tưới thích hợp cho giống Stylo CIAT 184 là sử dụng 30000 lít/ha/lứa cắt cho năng
suất xanh 25,10 tấn/ha, năng suất vật chất khô 6,74 tấn/ha, năng suất protein 1,02 tấn/ha và
chi phí tưới nước là 125,66 đồng/kg chất xanh.
Mức nước tưới thích hợp cho giống Keo giậu K636 là sử dụng 20000 lít/ha/lứa cắt cho năng
suất xanh 14,83 tấn/ha, năng suất vật chất khô 4,23 tấn/ha, năng suất protein 0,86 tấn/ha và
chi phí tưới nước là 212,59 đồng/kg chất xanh.
Đề nghị
Công nhận kết quả nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
AOAC (1990). Association of Analytical Chemists, 15th ed. Official Methods of Anaylysis.
Washington, DC.
Lê Hà Châu (1999), “Phản ứng của cỏ Stylosanthes guianensis cv Cook đối với các mức bón
phân đạm”, Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng và thức ăn.
MWI (2007) Water budget. Ministry of Water and Irrigation. Amman-Jordan.
Mrema AF, Granhall U, Forsse LS (1997). Plant growth, leaf water potential, nitrogenase
activity and nodule anatomy in Leucaena leucocephala as affected by water stress and
nitrogen availability. Treesure, 12: 42-48.
Naji K. Al-Mefleh* and Maher J. Tadros (2010). Influence of water quantity on the yield,
water use efficiency, and plant water elations of Leucaena leucocephala in arid and
semi arid environment using drip irrigation system. African Journal of Agricultural
Research Vol. 5(15), pp. 1917-1924
Perez,P & P. Melendedez (1980). The effect of hight and friquency of defoliation on
formation of buds of leucaena leucocephala in the state of Tabasco, Mecico. Trop.
Anim. Prod, 280.
Romero P, Botia P, Garcia F (2004). Effects of regulated deficit irrigation under subsurface
drip irrigation conditions on water relations of mature almond trees. Plant. Soil., 260:
155-168.
NGUYỄN VĂN QUANG - Ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng, năng suất
43
Santana VH, Fernandez JM, Moran C, Cano A (2008). Response of Quercus pyrenaica
(melojo oak) to soil water deficit: a case study in Spain. Euro. J. Forest. Res., 127:
369-378.
Spreer W, Ongprasert S, Hegele M, Wunshe J N, Muller J (2008). Yield and fruit
development in mongo (Mangifera India L.V. Chok) under different irrigation
regimes. Agric. Water. Manage., 96 (4), 1-14.
Yamasaki S, Dillenburg LR (1999). Measurements of leaf relative water content in araucaria
angustifolia. Rev. Brasil. Fisiol. Vegetable, 11(2): v 69-75.
Rogers, Danny H., Willam M. Sothers (1996). Soil, Water and Plant Relationships, L-904,
Irrigation Management Series, Kansas State University, Manhattan, Kansas,
Cooperative Extension Service