CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1 Vị trí địa lý
Theo thống kê năm 2005 của Phòng Thống Kê huyện Chợ Lách, đó là huyện nằm
ở thượng nguồn của Cù Lao Minh, tỉnh Bến Tre, là một vùng đất phù sa mới, nằm giữa
hai sông lớn sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. Hình thể dài và hẹp, tổng chiều dài
là 22,5 km, nơi rộng nhất là 15,5 km.
Chợ Lách nằm vào vị trí 9
0
52
’
50
’’
- 10
0
3
’
47
’’
bắc vĩ độ và 106
0
2
’
00
’’
- 106
0
17
’
10
C cây sinh trưởng chậm lại và trên 40
0
C được
coi là giới hạn hoạt động cao nhất, cây trưởng thành có thể chịu được nhiệt độ thấp
đến 4
0
C tuy có sự rụng lá nghiêm trọng. Lượng mưa thích hợp cho cây chôm chôm là
1
từ 2.000 – 3000 mm/năm, nhưng phải phân phối đều trong năm. Mưa có ảnh hưởng
đến sự ra hoa, cụ thể cần có thời gian ít nhất một tháng để hình thành mầm hoa. Mưa
nhiều trước thời gian ra hoa thường có hại vì kích thích ra lá, mưa nhiều cũng ảnh
hưởng đến quả sắp chín như làm nứt quả và giảm sản lượng (Valmayor và ctv, 1970).
Cây chôm chôm thích hợp với đất có sa cấu thịt pha cát, pH từ 5 – 6,5 tuy cây có
thể phát triển được trên nhiều loại đất. Cây phát triển tốt ở đất giàu chất hữu cơ và điều
kiện thoát thuỷ tốt (Valmayor và ctv, 1970).
Cây chôm chôm có thể có ba loại: cây đực chỉ cho hoa đực không cho trái, cây có
hoa làm nhiệm vụ của hoa cái tạo trái và cây có hoa lưỡng tính làm nhiệm vụ của hoa
cái tạo trái có kèm một lượng nhỏ hoa đực. Tỷ lệ các loại hoa thay đổi tuỳ giống và tuỳ
mùa nên người trồng có thể chọn lọc loại cây (Almeyda và ctv, 1979; Chin và Phoon,
1982; Tindall, 1994).
Theo Vũ Công Hậu (2000) thì ở nhiều nước sản xuất chôm chôm người ta sử
dụng chất điều hoà sinh trưởng khác nhau để thay đổi nhịp độ ra hoa, tỷ lệ đậu quả và
giảm tỷ lệ rụng. Có thể coi việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng là tác nhân gây hạn
nhân tạo để thúc đẩy ra hoa. Các chất thường dùng là ethephon, GA
3
, NAA,
Paclobutrazol, SNA
1.2.2 Các giống chôm chôm
Theo Zee và ctv (1998) nhiều giống chôm chôm hiện diện tại vùng Đông Nam Á
trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh trưởng của cây trồng và làm giảm năng suất. Đất chua
đã trở thành một vấn đề quan trọng trong vùng nhiệt đới và vùng ôn đới ẩm.
Theo Trần Văn Chính (2006), nhiệt độ càng cao và lượng mưa càng lớn thì càng
có lợi cho tác dụng phá hủy đá và rửa trôi vật chất. Trong điều kiện lượng mưa lớn
hơn lượng bốc hơi, một phần nước mưa sẽ duy chuyển từ trên mặt đất xuống dưới sâu
do tác dụng của trọng lực. Sự duy chuyển này kéo theo một loạt các chất dễ tan có
trong đất, đặc biệt là các ion kim loại kiềm và kiềm thổ như Na
+
, K
+
, Mg
+
, Ca
+
làm cho
đất hóa chua.
Trong quá trình hoạt động, vi sinh vật, rễ cây cũng như các loài sinh vật khác
trong đất không ngừng giải phóng ra CO
2
, khí này hòa tan trong nước tạo thành axit
H
2
CO
3
. Tuy độ phân ly của axit này không cao nhưng nó cũng là một trong những
nguồn sinh H
+
chủ yếu trong đất.
3
diện tích hàng năm rất lớn, tàn tích sinh vật để lại cho đất rất khác nhau giữa các đất
hoang, đất trồng trọt và đất rừng. Quá trình mùn hóa thực hiện với tốc độ nhanh, song
4
quá trình khoáng hóa cũng rất mạnh mẽ dẫn đến chất hữu cơ nói chung, mùn nói riêng
bị phân giải nhanh chóng, để chất hữu cơ đất vừa cung cấp thức ăn thường xuyên vừa
là kho dự trữ dinh dưỡng lâu dài của cây trồng cũng như vi sinh vật đất, thì biện pháp
thường xuyên và có hiệu lực nhất hiện nay là bón phân hữu cơ cho đất (phân chuồng,
phân rác, phân bắc, bùn ao, ), trồng cây phân xanh (bèo dâu, điền thanh, các loại đậu,
lạc,…), bón vôi kết hợp với bón phân hữu cơ để tạo mùn, làm đất thoáng vừa phải
bằng các biện pháp canh tác như cày bừa, xới xáo, tưới tiêu,… để tạo điều kiện cho
xác hữu cơ phân giải tốt, tạo nhiều mùn cho đất.
Theo John Wiley and Sonds (1990) chất hữu cơ đất là nguồn chính cung cấp đạm
và nguồn quan trọng của lân, lưu huỳnh và các nguyên tố vi lượng. Bên cạnh đó, chất
hữu cơ là nguồn cung cấp dưỡng chất cho cây trồng qua quá trình khoáng hóa (Akio
Ikono, 1984). Chất hữu cơ không chỉ là nguồn cung cáp dinh dưỡng cho cây trồng mà
còn giúp duy trì chất lượng đất theo hướng bền vững nhằm đạt năng suất cao qua sự
cải tạo tính chất lý – hóa và sinh học đất (Wolgang Flaig, 1984).
Hầu hết các loại đất nếu bón phân đạm lâu ngày sẽ có xu hướng giảm pH đất,
chất hữu cơ sẽ có tác dụng đệm (Jones and Javis, 1981). Bên cạnh đó, chất hữu cơ còn
là nguồn cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của vi sinh vật đất, liên quan đến
đặc tính hóa sinh của đất quan trọng trong phì nhiêu đất và dinh dưỡng cây trồng
(Gaur et al, 1990) trích trong Man et al (2007). Các nguồn hữu cơ như phân chuồng,
phân xanh chế phẩm của vụ mùa…khi bón vào đất sẽ kích thích quần thể vi khuẩn và
nấm phát triển, kế đến là sự phát triển của hệ động vật nguyên sinh và trùng đất, góp
phần tạo nên sự cân bằng hệ vi sinh vật trong môi trường đất. Ngoài ra, chất hữu cơ
còn ảnh hưởng gián tiếp lên sự phát triển của quần thể vi sinh vật đất, thông qua việc
cải tạo pH đất, tạo độ thông thoáng, điều hòa ẩm độ và nhiệt độ đất. Hàm lượng chất
hữu cơ trong đất có liên quan đến sinh khối vi sinh vật đất (Saffigna et al, 1989) trích
trong Ngô Thị Hồng Liên (2006). Hàm lượng chất hữu cơ trong đất cao còn góp phần
trồng, kết luận lượng đạm tổng số và hữu dụng được tích luỹ trong đất là kết quả của
lượng chất hữu cơ tích luỹ trong đất nhiều hơn từ việc bón phân đạm.
Theo Witty và ctv (1979) cho rằng nguồn đạm du nhập vào trong đất qua việc
bón phân đạm vô cơ, hoạt động của vi sinh vật cố định đạm, bên cạnh sự quang tổng
hợp, sự cố định đạm sinh học là phản ứng sinh hoá học quan trọng nhất trong đời sống
trên trái đất. Thông qua tiến trình này có một vài loài vi sinh vật có thể chuyển khí N
2
(dinitrogen) trong khí quyển thành hợp chất hữu cơ chứa đạm và sau đó trở thành đạm
hữu dụng cho cây trồng và nguồn đạm từ dư thừa thực vật và phân hữu cơ
(Ponnamperuma, 1984).
Đạm trong đất thường ở hai dạng chính là vô cơ và hữu cơ:
Đạm hữu cơ: Chất hữu cơ trong đất chủ yếu chứa đạm dạng amino acid từ 20 –
40%, các hợp chất vòng (các acid nucleic) chiếm khoảng 5% và purin, pirimidin cơ
bản chiếm ít hơn 1% đạm trong lớp đất mặt. Quá trình khoáng hoá đạm hữu cơ thành
NH
4
+
là tiến trình chính trong đất ngập nước, quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiều
yếu tố môi trường và các đặc tính lý hoá của đất (De Datta, 1987).
6
Đạm vô cơ: Đạm vô cơ trong đất có các dạng sau: N
2
O, NO
2
, NO, NH
3
, NH
4
+
.
Khác với N, P luôn giữ ở dạng oxyt hóa bên trong cây (Võ Thị Gương, 2004). Hàm
lượng lân hữu dụng trong đất rất thấp, trên đất phèn P bị cầm giữ do phản ứng với Fe,
Al và các hydroxite của chúng tạo ra những chất kết tủa mà cây trồng không sử dụng
được. Độ hữu dụng của P cũng phụ thuộc vào pH của đất, tối hão từ 5,5 – 7,0. Đất ở
điều kiện oxy hoá (đất liếp) lân bị cố định nhiều hơn ở điều kiện khử (Đổ Thị Thanh
Ren, 1999).
Trong đất lân tổng số chia làm hai dạng là: lân hữu cơ và lân vô cơ (lân khoáng).
Tỷ lệ này, phụ thuộc vào sự hình thành và tuỳ thuộc vào điều kiện đất, lân hữu cơ
thường chiếm từ 20 – 80% lân tổng số. Hàm lượng lân khoáng gia tăng theo độ sâu
phẫu diện đất, trong khi hàm lượng lân hữu cơ cao nhất ở tầng mặt (Tisdale và Nelson,
1975).
Theo Nguyễn Xuân Cự (1992) thì sự cố định lân trong đất chua chủ yếu do tạo
thành các hợp chất Fe, Al phosphate, đây chính là nguyên nhân cơ bản làm cho hàm
lượng lân dễ tiêu trong đất thường thấp. Theo Lê Văn Căn (1978) thì sự cố định lân
thường xảy ra rất nhanh ở nồng độ lân thấp và tuỳ thuộc vào đặc tính của đất. Nhìn
chung, đất có khả năng hấp phụ lân rất cao, có khoảng 80% lượng lân đưa vào được
đất hấp phụ ở các nồng độ đưa vào thấp dưới 100 ppm. Ở các nồng độ đưa vào cao
trên 100 ppm, tuy khả năng hấp phụ vẫn ở mức cao nhưng đất cũng chỉ có khả năng
hấp phụ dưới 70% lượng lân đưa vào. Khi nồng độ dung dịch là 300 ppm thì đất chỉ
còn khả năng hấp phụ khoảng 40% lượng lân đưa vào. Nồng độ lân đưa vào càng lớn
thì sự khác biệt này càng thể hiện rõ hơn (Nguyễn Xuân Cự, 2001).
7
Trong cây, lân có vai trò rất quan trọng trong việc tạo năng lượng biến dưỡng, nó
hiện diện trong các men (enzyme) điều khiển các phản ứng hoá học trong việc kết hợp
các nguyên tố khác trong việc tạo nên cấu trúc thực vật. Khi thiếu P cây nhỏ, không có
chồi, hệ thống rễ phát triển rất kém, lá có màu xanh đậm do hàm lượng diệp lục tố
tăng. Do chức năng của P trong sinh trưởng và biến dưỡng của cây, thiếu P các quá
trình biến dưỡng, kể cả sự phân cắt và sự dãn nở tế bào, sự hô hấp và quang hợp đều
1.3.3.4 Calcium trao đổi (Ca)
Calcium rất cần thiết cho sự tăng trưởng của cây trồng, hàm lượng của cây thay
đổi trong khoảng 0,1 – 5% trọng lượng khô, tuỳ thuộc vào điều kiện sinh trưởng, loại
cây trồng và cơ quan của cây. Nhu cầu Ca cho cây sinh trưởng tối hão ở cây một lá
mầm thấp hơn ở cây hai lá mầm rất nhiều. Yếu tố để xác định nhu cầu Ca cho sự sinh
trưởng tối hão của cây trồng là nồng độ các cation khác trong dung dịch hoà tan bên
ngoài, do Ca sẵn sàng bị thay thế bởi các cation khác (Burstrom, 1968). Tốc độ tăng
trưởng giảm ngay khi cắt nguồn cung cấp Ca cho cây, sau vài ngày chóp rễ biến thành
màu nâu và sau đó chết đi.
Thiếu Ca, trước tiên cây giảm tăng trưởng, triệu chứng thể hiện ở đỉnh tăng
trưởng và phần lá non nhất. Là lá bị biến dạng và có những đốm mất màu diệp lục, dọc
rìa lá có những đốm nâu, mô lá bị mềm yếu do vách tế bào dần dần bị hòa tan (Võ Thị
Gương, 2004).
1.3.3.5 Magnesium trao đổi (Mg)
Magnesium là thành phần cấu tạo của diệp lục tố. Trong lá hàm lượng Mg chiếm
khoảng 15 – 20%. Magnesium ảnh hưởng đến sự chuyển hoá CO
2
và liên quan đến sự
tạo đường, tinh bột. Nhiều enzyme xúc tác các phản ứng tổng hợp protein và biến
dưỡng năng lượng cần có sự hiện diện của Mg. Magnesium rất di động trong cây (Võ
Thị Gương, 2004).
Khi thiếu, Mg từ lá già sẽ được vận chuyển lên lá non. Thông thường lá già vàng
giữa các gân lá. Sự tổng hợp protein giảm và mất cân đối nên thường tích tụ các acid
amin hoặc amide.
1.3.3.6 Kẽm (Zn)
Kẽm là nguyên tố vi lượng rất quan trọng đối với sự sinh trưởng của cây trồng.
Zn được xem là dưỡng chất khoáng và có khuynh hướng hình thành phức hệ khối bốn
mặt (Clarkson vaf Hanson, 1980) trích trong Nguyễn Bảo Vệ (2004). Zn hoạt động
như là thành phần kim loại của enzyme hoặc cofactor của nhiều enzyme (về cấu trúc,
chức năng hoặc điều hòa). Vì vậy khi thiếu Zn làm thay đổi quá trình biến dưỡng và
đổi sẽ tích điện âm trong điều kiện pH cao. Do đó, để đo tiềm năng tối đa có thể hấp
phụ cation của một loại đất được xác định bằng NH
4
OAC pH 7 hoặc BaCl
2
1M pH
8,1. Khả năng hấp phụ cation ở điều kiện thực tế đồng ruộng được xác định bằng dung
dịch không đệm, khả năng hấp phụ cation được xác định bằng dung dịch không đệm
được gọi là khả năng hấp phụ cation hữu hiệu (Nguyễn Mỹ Hoa, 1999). Theo Võ Thị
Gương và ctv (2004) thì khả năng hấp phụ cation của đất giảm theo tuổi liếp và khác
biệt giữa các liếp có 7 – 9 năm với các liếp có tuổi cao hơn. Các vườn có tuổi liếp 7
năm và 9 năm, khả năng hấp phụ cation cao biến động từ 19,8 đến 24,1 cmol/kg
-1
và
10
cao nhất ở vườn có tuổi liếp 7 năm tuổi là 24,1cmol/kg
-1
, riêng các vườn có tuổi lên
liếp từ 16 đến 33 năm có khả năng hấp phụ cation thấp hơn, biến động từ 14,9 đến
19,3 cmol/kg
-1
được đánh giá ở mức trung bình khá, thấp nhất ở tuổi liếp 33 năm 14,9
cmol/kg
-1
. Khả năng hấp phụ cation của đất tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như thành phần
khoáng sét, hàm lượng chất hữu cơ, pH của đất, sự phát triển của đất. Các vườn có tuổi
liếp khác nhau đều thuộc nhóm đất sét, với tỷ lệ sét chiếm từ 58 – 72%, riêng đất vườn
tuổi liếp 33 năm có tỷ lệ sét thấp hơn, 46% sét và 49% thịt. Yếu tố tuổi liếp là vấn đề
cần chú ý vì khi pH giảm, chất hữu cơ trong đất thấp theo tuổi liếp cũng góp phần
2000). Sự nén dẽ là tiến trình thay đổi một số đặc tính vật lý đất như dung trọng, độ
chặt, độ xốp, khả năng thắm nước của đất. Những thay đổi này sẽ làm ảnh hưởng đến
sự di chuyển của nước và không khí trong đất, sự mất cân đối của đất và nước làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của rễ cây trong môi trường đất. Sự nén dẽ làm
giảm khả năng thắm nước của đất, làm tăng lượng nước chảy tràn trên bề mặt đất
thường đưa đến hiện tượng xói mòn đất, dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng cũng bị
cuốn trôi, khả năng dự trữ nước của đất kém, những tế khổng trong đất bị giảm làm
cho bộ rễ cây trồng phát triển kém, giảm khả năng hoạt động của hệ sinh vật trong đất
và cuối cùng làm cho năng suất cây trồng bị giảm. Một cách tổng quát sự nén chặt
trong đất được xem như là một hàm số thay đổi theo các điều kiện như: dung trọng
khô của đất; độ xốp của đất; sức cản của đất và hàm lượng ẩm độ trong đất.
Theo nghiên cứu của Võ Thị Gương và ctv (2004) lực cản ở tầng đất mặt 0 – 15
cm trên các vườn trồng cam tại Cần Thơ biến động từ 2,8 – 5,8 MPa. Đất liếp có lực
cản được xem là bị nén dẽ và ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ cây trồng khi lực
xuyên thấu của đất cao hơn 3,0 MPa. Độ nén dẽ của đất gia tăng theo tuổi liếp có ý
nghĩa thống kê. Đặc biệt, ở vườn 26 và 33 năm tuổi liếp có độ cản của đất rất cao từ
5,60 – 5,83 MPa. Ở độ sâu 15 – 30 cm độ nén dẽ đất cao nhất trên đất vườn 26 năm
tuổi là 6,83 MPa. Tương tự như thế, ở độ sâu 30 – 45 cm thì vườn 26 và 33 năm tuổi
có độ nén dẽ cao nhất 3,0 – 4,7 MPa. Trên đất liếp trồng cam đất có tỷ lệ sét cao, hàm
lượng chất hữu cơ trong đất thấp qua thời gian lên liếp lâu dài thì tình trạng nén dẽ của
đất dễ dàng xảy ra.
1.4.1.2 Sự kết cứng và đóng ván trên mặt đất
Theo Lê Văn Khoa (2004) thì sự kết cứng và đóng váng trên mặt đất là sự kết
cứng của đất trong suốt thời gian đất bị khô cho đến khi đất được bão hoà nước trở lại.
Đất dưới sự khô cứng sẽ trở nên cứng và không có cấu trúc. Khác với sự nén dẽ của
12
đất, sự khô cứng này không bị ảnh hưởng bởi các tác nhân bên ngoài (như cày, dậm,
trục do động vật, máy móc hoặc con người) mà do tự tính chất của đất tạo ra. Sự khô
cứng của đất tuỳ theo các yếu tố như sau: loại khoáng sét; tính trương co của đất; sức
P
b
: Dung trọng khô (g/cm
3
)
W
ov
: Khối lượng mẫu đất và ring ngay sau khi sấy khô ở 105
0
C (g)
W
r
: Khối lượng của ring (g)
V
r
: Thể tích ban đầu của dụng cụ lấy mẫu (cm
3
)
Dung trọng của đất phụ thuộc vào cấp hạt cơ giới, hàm lượng chất hữu cơ, độ
chặt, cấu trúc và kỷ thuật làm đất (Trần Văn Chính, 2006).
Theo kết quả nghiên cứu của Võ Thị Gương và ctv (2004) khảo sát trên liếp vườn
trồng cam quýt tại Cần Thơ cho thấy dung trọng trên các vườn có tuổi liếp 7 đến 16
năm có biến động từ 0,9 – 1,1 g/cm
3
được xem là đất không bị nén dẽ do dung trọng
tương đối thấp. Riêng vườn có tuổi liếp 26 đến 33 năm có dung trọng khoảng 1,3
g/cm
3
khá cao. Các loại đất có dung trọng thấp thường là những loại đất có kết cấu tốt,
hàm lượng mùn cao. Do đó những loại đất này cũng sẽ có chế độ nước, nhiệt, không
độ nhanh hơn.
Chứa các dưỡng chất tại bề mặt của chúng dưới dạng trao đổi: Làm gia tăng
khả năng trao đổi cation, vì vậy làm giảm khả năng trực di các cation, điều này quan
trọng trên các loại đất chứa ít sét. Làm gia tăng khả năng đệm các chất dinh dưỡng,
chủ yếu là N, P và S. Vì vậy, làm gia tăng hiệu quả của phân hoá học bón vào đất.
14
Cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng: Cung cấp CO
2
cho sự quang tổng
hợp chất hữu cơ. Cung cấp chất dinh dưỡng khoáng, đặc biệt là chất đạm, lân, lưu
huỳnh và các nguyên tố khác, bao gồm cả nguyên tố vi lượng. Cung cấp các chất dinh
dưỡng hữu cơ như đường và các amino acid là sản phẩm trung gian trong quá trình
phân huỷ, có thể được cây sử dụng.
Sự phân huỷ chất mùn, huy động chất dinh dưỡng khoáng vô cơ: Trực tiếp
qua sự tiết ra độ chua của vi sinh vật, giải phóng chất dinh dưỡng dự trữ, làm cho
chúng trở nên hữu dụng hơn. Gián tiếp bởi sự tấn công của acid được tạo thành trong
sự phân huỷ chất mùn, hoặc do sự giảm điện thế oxy hoá, một vài dưỡng chất trở nên
di động hơn dưới điều kiện khử như Fe, Mn và gián tiếp là phosphate và Molybden.
Sự phân huỷ chất mùn thúc đẩy sự cố định đạm từ khí quyển, chỉ xảy ra đối với
chất mùn chứa hàm lượng đạm thấp.
Sự bất động chất dinh dưỡng bởi chất mùn, các chất dinh dưỡng bị bất động trong
thời gian ngắn do vi sinh vật tạm thời lấy chất dinh dưỡng để cấu tạo nên cơ thể của
chúng, vì vậy làm trở ngại đến sự hữu dụng của chúng đối với rễ cây. Sự bất động chất
đạm trong thời gian phân huỷ chất hữu cơ đặc biệt quan trọng khi tỷ số C/N lớn hơn
25.
Sự bón phân hữu cơ và các tác nhân hoạt động trong đất: Các loại phân hữu
cơ có thể chứa nhiều tác nhân hoạt động (active agent). Tác nhân hoạt động là các yếu
tố sinh trưởng rất quan trọng cho cây thể hiện qua các chất sinh trưởng như vitamin,
quinon có thể có ích lợi chính cho sự nẩy mầm của cây, mà tự nó không sản xuất đủ.
vi khuẩn trong đất liếp lâu năm ngoài việc ảnh hưởng bất lợi đến các tiến trình sinh
học như sự khoáng hoá chất hữu cơ trong đất thì ảnh hưởng bất lợi về mặt vật lý đất là
đất càng chặt, tế khổng trong đất kém, trao đổi khí và vận chuyển dưỡng chất kém gây
ra bất lợi cho sự phát triển của rễ và sinh trưởng của cây trồng.
1.6.2 Vai trò của sinh vật trong đất
Theo Lê Văn Khoa (2004) cho rằng vai trò quần thể vi sinh vật trong đất có ảnh
hưởng trực tiếp đến các tiến trình trong đất, đặc biệt là những tiến trình thúc đẩy sự
phát triển và làm tăng độ phì tự nhiên của đất (sự phát triển cấu trúc, sự khoáng hoá,
sự chuyển hoá đạm, sự cố định đạm ). Ngoài ra, trong các nghiên cứu gần đây cho
16
thấy một số dòng vi sinh vật đất còn góp phần phân huỷ một vài loại thuốc trừ sâu
bệnh, trừ cỏ dại lưu tồn trong đất.
Theo Võ Thi Gương (2002) thì hệ vi sinh vật đất đóng vai trò quan trọng trong
việc chuyển hoá chất hữu cơ và góp phần cải thiện tính chất lý, hoá đất. Bản thân sinh
vật đất khi chết đi cũng trở thành chất hữu cơ và được phân huỷ là một trong những
nguồn cung cấp dưỡng chất cho cây trồng.
Theo Trần Thượng Tuấn (2004) cho biết vi sinh vật có vai trò sản sinh enzyme
phân huỷ các hợp chất hữu cơ: cellulase, lignase, xylase, chitinase, protease, lipase… .
Sản sinh các chất kháng sinh giúp rễ cây kháng bệnh; Sản sinh một số chất sinh
trưởng: auxin, gibberellin, cytokinin; Cố định đạm và giữ gìn cấu trúc của đất và chất
hữu cơ trong đất.
Theo kết quả nghiên cứu của Võ Thị Gương và ctv (2004) thì quần thể vi sinh vật
đóng vai trò quan trọng trong việc phân huỷ xác bả hữu cơ, tham gia vào các phản ứng
sinh hoá trong đất, làm tăng độ phì nhiêu của đất và ảnh hưởng đến tính chất vật lý đất
có lợi cho cây trồng. Lượng vi khuẩn trong tầng đất mặt liếp vườn 33 năm tuổi rất thấp
so với các vườn có tuổi liếp 7, 9 và 26 năm.
Theo nghiên cứu của Dương Minh (2004) nấm Trichoderma có khả năng phòng
trị các loại nấm bệnh hại rễ cây ăn trái và rau màu như Fusarium, Rhizoctonia,
Sclerotium, Colletotrichum, Verticilium… và trứng tuyến trùng hại rễ.
tươi
đầu vụ
TÊN MẪU % N %P %K %Ca %Mg %C
3,38
Mẫu đất đầu vụ 1,45 0,55 0,36 0,06 0,27 37,08
Phân trùng + Tricho 0,60 0,21 0,81 0,003 0,34 5,38
Bã bùn mía + Tricho
1,90 2,50 0,34 0,35 0,27 29,79
Cỏ cúc ủ 3 ngày 1,76 0,36 3,11 0,50 0,22 41,39
Vôi 36,01 1,07
Bước 1: Đánh giá tổng quan hiện trạng vườn chôm chôm qua thảo luận với nông
dân có vườn cây ăn trái lâu năm tại địa phương như kỹ thuật canh tác, phân bón, sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật, chế độ tưới tiêu, năng suất và sâu bệnh hại trên cây.
Bước 2: Chọn vườn điều tra khảo sát trên vườn chôm chôm. Các vườn được chọn
cần đạt các yêu cầu như có tuổi liếp trên 17 năm, có biểu hiện cây kém phát triển, năng
suất thấp, phẩm chất trái kém.
2.2.1.2 Thử nghiệm một số biện pháp cải thiện sự suy thoái đất
Thí nghiệm sẽ được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 3
lần lập lại. Mỗi nghiệm thức 30 m
2
/2cây. Tổng diện tích thí nghiệm 500m
2
. Chôm
chôm đã được trồng 17 năm tuổi và lượng phân NPK bón theo khuyến cáo (1,5 kg N +
1,0 kg P
2
O
5
+ 1,7kg K
2
2
O cây
-
1
).
Nghiệm thức 4: 20 tấn ha
-1
Phân trùng + (1,5 kg N + 1,0 kg P
2
O
5
+ 1,7kg K
2
O
cây
-1
).
Nghiệm thức 5: 20 tấn ha
-1
cúc dại + (1,5 kg N + 1,0 kg P
2
O
5
+ 1,7kg K
2
O cây
-
1
).
Lượng vôi nền 1,5 tấn ha
4
+
, N-NO
3
-
, N
labile
, CEC, Zn, CHC, hô hấp đất, pH,
dung trọng, đoàn lạp.
+ Năng suất trái.
19
2.2.3 Phương pháp phân tích
2.2.3.1 Tính chất hoá học và hô hấp đất
- pH tươi của đất theo từng giai đoạn sinh trưởng: pH đất được xác định bằng
cách sử dụng điện cực xác định [H
+
] trong dung dịch trích với tỷ lệ đất và nước 1 : 2,5.
- Lân dễ tiêu trong đất: được xác định theo phương pháp Olsen với dung dịch
trích NaHCO
3
0,5 M ở pH 8,5, với tỷ lệ đất và dung môi là 1 : 20 và thời gian lắc 30
phút. Dung môi NaHCO
3
0,5 M ở pH 8,5 chủ yếu hoà tan lân ở dạng FePO
4
, AlPO
4
và
một ít Ca
o
C trong
4 giờ (Gianello và Bremner, 1986). Đạm NH
4
+
- N được phân tích theo phương pháp
Kjeldahn có thêm vào MgO để tạo môi trường kiềm. NH
4
+
- N được xác định bằng
cách chuẩn độ với dung dịch H
2
SO
4
0,0025 M.
- Kali trao đổi trong đất: Kali được đo ở dung dịch trích mẫu đất với BaCl
2
0,1
M trên máy hấp thu nguyên tử (Atomic Absorption Spectrophotometer). Chất Cs
(acidified) được thêm vào dung dịch trước khi đo và độ dài sóng tương ứng K 766 nm.
- Calcium và Magnesium trao đổi trong đất: Ca và Mg trong dung dịch trích
BaCl
2
và được đo bằng máy hấp thu nguyên tử (Atomic Absorption
Spectrophotometer). Để ngăn sự kết hợp giữa Ca, Mg với P, Al,… trong ngọn lửa,
Lanthanum được thêm vào và nó sẽ thay thế Ca và Mg. Đối với Ca đo ở độ dài sóng
422,7 nm và Mg 285,2 nm.
- Phương pháp xác định hô hấp đất: sự hô hấp đất được xác định bằng cách đo
hàm lượng CO
2
28 ngày.
Tính kết quả
Tính lượng CO
2
thoát ra bằng công thức:
Mg CO
2
-C = (B-V) x (N x E)
Trong đó :
B : thể tích dung dịch H
2
SO
4
(ml) dùng để chuẩn độ mẩu blank.
V : thể tích dung dịch H
2
SO
4
(ml) dùng để chuẩn độ mẩu đất.
N : nồng độ mol của dung dịch H
2
SO
4
chuẩn (0,01N).
E : khối lượng đương lượng của CO
2
(E=22).
2.2.3.2 Xác định các tính chất vật lý đất
* Phương pháp tính dung trọng: mẫu đất lấy không được để xáo trộn dùng để
tính toán dung trọng. Các bước thực hiện:
80%-100%).
Rây ướt: Sau khi ủ, mỗi cấp hạt được chuyển vào loạt rây tương ứng, hệ thống
rây này giống như hệ thống rây khô nhưng đã được loại bỏ rây cuối cùng (<0,3 mm).
Hệ thống rây ướt được lắc lên xuống trong nước dưới tốc độ không đổi (tự động) trong
vòng 5 phút. Sau đó, tập hợp đất còn lại trên mỗi rây được rửa vào cốc, để yên trong
khoảng 15 phút cho các hạt đất lắng xuống, lượng nước trên mặt được loại bỏ. Các cốc
được đặt trên bếp nung để cho nước bốc hơi, sau đó được để khô trong không khí,
phần tử của mỗi tập hợp sẽ được cân. Lượng tập hợp <0,3 mm được xác định bằng sự
sai khác với trọng lượng ban đầu.
2.2.4 Phân tích số liệu
Số liệu sẽ được xử lý bằng EXCELL, sau đó phân tích thống kê bằng chương
trình MSTATC.
22
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 HIỆU QUẢ CỦA CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐẤT VỀ TÍNH CHẤT
HÓA HỌC ĐẤT
3.1.1 pH đất
Nhìn chung kết quả từ hình 3.1 cho thấy, pH đất không có sự khác biệt ý nghĩa
giữa các nghiệm thức, nhưng pH đất có bón phân hữu cơ + Tricho cao hơn so với bón
theo nông đân. Từ kết quả trình bày ở bảng 2.1 ta thấy pH đất tươi đầu vụ rất thấp (pH
< 3,5), khi bón phân hữu cơ + Tricho vào thì pH đất tăng đặc biệt ở nghiệm thức bã
bùn mía + Tricho pH = 4,08 và giữa vụ pH > 4 (bã bùn mía + Tricho pH = 4,50), đến
cuối vụ lại giảm xuống (bã bùn mía + Tricho có pH = 3,71). Đến vụ sau, tiến trình
cũng diễn ra như vụ trước nhưng pH đất lại giảm xuống, đầu vụ sau khi bón phân hữu
cơ + Tricho pH < 3,5, đến giữa vụ pH có tăng (bã bùn mía + Tricho có pH = 3,65)
nhưng vẫn thấp hơn so với vụ trước.
Hình 3.1. Hiệu quả của phân hữu cơ đến pH đất trên vườn chôm chôm.
Nguyên nhân do sự acid hóa của đất trồng cũng tăng theo thời gian lên liếp, có
thống kê so với nghiệm thức bón theo nông dân, nghiệm thức bón cúc dại và phân
trùn.
Hình 3.2. Hiệu quả của phân hữu cơ đến hàm lượng chất hữu cơ trong đất trên
vườn chôm chôm.
Ở giai đoạn 3 tháng của chu kỳ thứ hai bón phân hữu cơ ở hình 3.2, hàm lượng
chất hữu cơ cũng ở mức trung bình, cao nhất là bã bùn mía (36,48 gC/kg) nhưng chưa
24
thấy có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê so với nghiệm thức bón theo nông dân và
các nghiệm thức còn lại. Ở giai đoạn 6 tháng sau khi bón phân hữu cơ, hàm lượng chất
hữu cơ trong đất cao nhất là bã bùn mía (32,82 gC/kg) có sự khác biệt ý nghĩa về mặt
thống kê so với nghiệm thức bón theo nông dân nhưng không có sự khác biệt ý nghĩa
với ba nghiệm thức còn lại.
Khi bón phân hữu cơ + Tricho, ở giai đoạn đầu vụ ta thấy hàm lượng chất hữu cơ
ở mức trung bình, điều này phù hợp với nghiên cứu của Võ Thị Gương và ctv (2004),
trên các vùng trồng cây ăn trái ở đồng bằng sông Cửu Long có nhiều năm tuổi bước
đầu cho thấy sự giảm hàm lượng chất hữu cơ. Đến giữa vụ, hàm lượng chất hữu cơ
tăng lên là do trong giai đoạn này cây xử lý ra hoa nên rụng lá nhiều. Mặt khác, trong
thí nghiệm có tưới bổ sung nấm Tricho nên giúp quá trình phân hủy thân cỏ và lá cây
xảy ra nhanh hơn thì hàm lượng chất hữu cơ tăng cao, trong đó ta thấy nghiệm thức bã
bùn mía + Tricho tăng cao do khả năng phân hủy chất hữu cơ của chúng thấp nên hàm
lượng chất hữu cơ vẫn còn nhiều ở giai đoạn này.
Từ những kết quả trên, ta thấy bón phân hữu cơ + Tricho hàm lượng chất hữu cơ
cao hơn so với nghiệm thức bón theo nông dân. Do đó, nên bón nhiều phân hữu cơ có
bổ sung nấm Trichoderma cho đất liếp lâu năm để bổ sung lượng chất hữu cơ bị mất đi
trong thời gian dài lên liếp hơn là bón theo nông dân.
3.1.3 Hàm lượng đạm
3.1.3.1 Đạm hữu cơ dễ phân hủy
Kết quả trình bày ở hình 3.3 cho thấy, khi bón phân hữu cơ có bổ sung nấm
Trichoderma thì chưa thấy có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức ở